1. Cơ quan Phúc thẩm đã chứng tỏ sự nhạy cảm chính trị trong nhiều quyết định

Cơ quan Phúc thẩm có thể đã chứng tỏ sự nhạy cảm chính trị trong nhiều quyết định. Chẳng hạn, trong vụ Cộng đồng châu Âu - Các biện pháp có ảnh hưởng đến Asbestos và các sản phẩm chứa Asbestos (2001). Cơ quan Phúc thẩm đã chấp nhận lấy sức khỏe cộng đồng làm căn cứ để phân biệt các sản phẩm có phải là “các sản phẩm giống nhau”, nhằm kết luận rằng xi măng và xi măng có chứa asbestos không phải là các sản phẩm giống nhau trong định nghĩa của Điều IU của GATT. Và vụ Hoa Kỳ - Tôm - Rùa và Hoa Kỳ - Việc cấm nhập khẩu một số loại tôm và các sản phẩm tôm, truy cứu Điều 21.5 của Malaysia (2001), các quyết định cuối cùng đã cho phép Hoa Kỳ duy trì các biện pháp cấm nhập khẩu tôm từ một số nước không yêu cầu sử dụng các thiết bị loại bỏ rùa khỏi các lưới bắt tôm.

Nhưng Cơ quan Phúc thẩm thường xuyên đưa ra các quyết định đi ngược lại các xu thế chính trị. Chẳng hạn, phán quyết lệnh cấm nhập khẩu thịt bò đã xử lý hoóc môn của EC là bất hợp pháp; và phán quyết chống lại hệ thống đánh thuế của Hoa Kỳ đối với các công ty buôn bán nước ngoài - đến hai lần: trong vụ Hoa Kỳ - Đối xử thuế đối với các công ty buôn bán nước ngoài, truy cứu Điều 21.5 của DSU bởi Cộng đồng châu Âu (2002). Vấn đề không phải là các trường hợp này được quyết định đúng hay sai, hay là chúng buộc phải làm luật tư pháp, mà là chúng có thể đi ngược lại quan điểm của nhiều người hoặc được các đối tượng phi nhà nước có sức mạnh ủng hộ.

2. Làm sao để biết được việc làm luật vượt quá giới hạn?

Làm thế nào chúng ta biết được - và quan trọng hơn, làm thế nào Cơ quan Phúc thẩm biết được - rằng việc làm luật của nó vượt quá giới hạn không gian chiến lược của mình? Như đã nêu ở trên, các thành viên không hài lòng với một quyết định cụ thể hay việc làm luật tư pháp nói chung, chắc chắn sẽ đưa ra tín hiệu không tán thành, phủ bóng đen chính trị lên Cơ quan Phúc thẩm. Tất nhiên, các tín hiệu quan trọng nhất là từ các thành viên hùng mạnh nhất - EC và Hoa Kỳ - vì họ có quyền lực để viết lại các quy tắc DSU. Do đó, câu hỏi cơ bản được đặt ra ở trên sẽ là liệu Cơ quan Phúc thẩm có tham gia vào một khuôn khổ làm luật tư pháp mà đã làm thay đổi cơ bản sự cân bằng các quyền lợi và trách nhiệm của các thành viên có sức mạnh đó hay không?

Cả EC và Hoa Kỳ đều đã giành được thắng lợi trong một số vụ kiện quan trọng và cũng thua một số vụ. Tính đến ngày 31-12-2003, trong các báo cáo tổng kết các vụ kiện mà Hoa Kỳ là bên nguyên đơn, thì tỷ lệ thành công là 85%, thắng 17 trường hợp và không thắng ba trường hợp. Cũng một ngày trong các báo cáo tổng kết các vụ kiện mà Hoa Kỳ là bên bị kiện, thì ít nhất khía cạnh của các biện pháp của Hoa Kỳ đã bị thua kiện chiếm 81% số vụ kiện, bên nguyên đơn thắng 22 trường hợp và Hoa Kỳ thắng năm trường hợp. Giả sử tỷ lệ và phạm vi làm luật không đổi trong các trường hợp này, thì khó có thể kết luận rằng Cơ quan Phúc thẩm đã cơ bản làm mất cân bằng các quyền lợi và nghĩa vụ WTO chống lại các lợi ích của Hoa Kỳ. Tương tự, trong cúng thời kỳ, EC thành công chiếm 96% số vụ do EC làm nguyên đơn, thắng 23 trong số 24 vụ; cùng thời gian đó, khi EC là bên bị kiện, ít nhất một khía cạnh của một biện pháp của EC đã bị coi là không phù hợp với WTO chiếm 80% số báo cáo các vụ kiện, EC thua sáu trong tám vụ kiện. Giả sử tỷ lệ và phạm vi làm luật không thay đổi trong các vụ kiện này, những số bệu này cho thấy nếu việc làm luật tư pháp có liên quan đến EC đã làm mất cân bằng các quyền lợi và nghĩa vụ theo một hướng nào đó, thì chắc chắn là có lợi cho EC.13 Nhiều người ở Hoa Kỳ kêu ca về khuôn khổ làm luật tư pháp về luật đền bù thương mại, nhưng nói chung EC vẫn hài lòng với các quyết định đó. EC và Hoa Kỳ không hợp tác để đưa ra sự thay đổi hợp hiến liên quan đến giải quyết tranh chấp. Điểm này cho thấy sự cân bằng lại về hợp tác không chắc sẽ sớm xảy ra và Cơ quan Phúc thẩm đang vận hành bên trong không gian chiến lược đã được xác định bởi sự hạn chế chính trị khó khăn nhất của nó.

Gần đây, nguồn gốc chính trị quan trọng nhất của sự không hài lòng đối với Cơ quan Phúc thẩm là từ Hoa Kỳ. Nhiều nhà bình luận và các nhà chính trị Hoa Kỳ kêu ca về “chú nghĩa tích cực” tư pháp tại WTO (Barfield 2001; Raustiala 2000). Ít nhất một nhà bình luận nổi tiếng của Hoa Kỳ đã cho rằng thông qua việc làm rõ sự mơ hồ Cơ quan Phúc thẩm đã thường xuyên cho rằng các quyết định chống phá giá và các phán quyết về Hoa Kỳ là không phù hợp với WTO (Tarullo 2003). Và trong Đạo luật Thương mại 2002, Quốc hội Mỹ đã yêu cầu cơ quan hành pháp chuyển đến Quốc hội một bản báo cáo đặt ra chiến lược “để đáp lại các mối quan tâm về vấn đề liệu các hội đồng xét xử tranh chấp thương mại và Cơ quan Phúc thẩm... đã cộng thêm nghĩa vụ hay làm mất đi các lợi ích của Hoa Kỳ hay không” (19 uses § 3801 (2002)). Báo cáo đã được chuyển đến sau trát đòi đó đã kết luận rằng các tranh chấp đã được đưa đến DSB nói chung “đã được xử lý khẩn trương và chuyên nghiệp” và rằng việc giải quyết tranh chấp của WT0 “là có lợi cho một phạm vi rộng các ngành công nghiệp Hoa Kỳ và những người lao động của họ.” Tuy nhiên, báo cáo nhấn mạnh rằng “Hoa Kỳ không đồng ý với cách tiếp cận mà các hội đồng xét xử WTO và Cơ quan Phúc thẩm đôi khi áp dụng trong các cuộc tranh chấp” và chỉ trích nhiều trường hợp cụ thể của việc làm luật tư pháp trong các vụ đền bù thương mại. Cuối cùng, báo cáo kiến nghị một số thay đổi tương đối nhỏ đối với DSU mà họ cho rằng sẽ đem lại “sự kiểm soát của các thành viên nhiều hơn đối với quá trình giải quyết tranh chấp” (Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ 2002). Việc làm luật tư pháp tại WT0 đã trở thành một cái gai chính trị tại Hoa Kỳ, và các tín hiệu của Chính phủ Hoa Kỳ cần phải được hiểu rằng việc Cơ quan Phúc thẩm tiếp tục làm luật mà làm suy yếu các luật đền bù thương mại của Hoa Kỳ sẽ có nguy cơ kích thích hành động chính trị đơn phương của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, khó có thể kết luận từ các tín hiệu trên rằng Chính phủ Hoa Kỳ đang cho rằng làm luật tư pháp đã gây tổn hại cơ bản đến lợi ích của Hoa Kỳ.

3. Thành phần của Cơ quan phúc thẩm

>> Xem thêm:  Sự vận hành của các vòng đàm phán thương mại như thế nào ?

Khoản 3 Điều 17 DSU quy định Cơ quan phúc thẩm bao gồm các thành viên:

– Có uy tín, có kinh nghiệm chuyên môn về pháp luật, thương mại quốc tế và những nội dung của các hiệp định có liên quan nói chung;

– Không được liên kết với bất kỳ một chính phủ nào. Cơ cấu thành viên của Cơ quan phúc thẩm phải phản ánh rộng rãi cơ cấu thành viên trong WTO;

– Phải sẵn sàng làm việc bất cứ lúc nào và chỉ được thông báo ngắn và phải cập nhật theo kịp các hoạt động giải quyết tranh chấp và hoạt động có liên quan khác của WTO.

– Không tham gia vào việc xem xét các tranh chấp khi có thể tạo ra xung đột quyền lợi trực tiếp hay gián tiếp

Đây có thể xem như những điều kiện để được bổ nhiệm là thành viên của Cơ quan phúc thẩm. Năm 1995, Cơ quan phúc thẩm được thành lập với 7 thành viên đầu tiên là công dân của Ai Cập, Nhật Bản, Đức, New Zealand, Philippines, Mỹ và Uruguay. Đến nay, hầu hết các thành viên Cơ quan phúc thẩm đều là các giáo sư đại học, các luật sư đang hành nghề, các quan chức trước đây của chính phủ hoặc các thẩm phán cao cấp.

4. Chức năng của Cơ quan phúc thẩm

Là cơ quan thường trực của DSB, Cơ quan phúc thẩm có chức năng xem xét các kháng cáo về báo cáo của Ban hội thẩm (khoản 1 Điều 17 DSU). Cần lưu ý là chỉ các bên tranh chấp, không phải bên thứ 3, mới có quyền kháng cáo báo cáo của Ban hội thẩm. Tuy nhiên, bên thứ ba đã thông báo cho DSB về lợi ích đáng kể đối với vấn đề tranh chấp theo khoản 2 Điều 10, có thể đệ trình văn bản cho Cơ quan phúc thẩm và phải được tạo cơ hội trình bày với Cơ quan phúc thẩm.

Sau khi xem xét các kháng cáo, Cơ quan phúc thẩm có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc hủy bỏ (reverse) các ý kiến và kết luận của Ban hội thẩm. Tuy nhiên, giống như báo cáo của Ban hội thẩm, báo cáo của Cơ quan phúc thẩm chỉ có giá trị pháp lý khi được DSB thông qua.

5. Nguyên tắc làm việc của Cơ quan phúc thẩm

Thủ tục làm việc của Cơ quan phúc thẩm sẽ được soạn thảo với sự tham vấn của Chủ tịch DSB và Tổng Thư ký (Director – General) và được thông báo các thành viên để cung cấp thông tin.

Cơ quan phúc thẩm làm việc theo các nguyên tắc sau:

– Quá trình tố tụng sẽ được giữ kín. Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm phải được soạn thảo không có sự tham gia của các bên tranh chấp và dựa trên cơ sở các thông tin được cung cấp và các ý kiến được đưa ra;

– Các ý kiến trong Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm phải ẩn danh;

– Đề cập đến từng vấn đề được nêu trong kháng cáo trong suốt quá trình tố tụng;

Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm phải được DSB thông qua và được các bên chấp nhận vô điều kiện trừ khi DSB quyết định trên cơ sở đồng thuận không thông qua báo cáo của Cơ quan phúc thẩm trong vòng 30 ngày sau khi báo cáo đó được chuyển đến các thành viên.

Tóm lại, Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO –DSB là một bộ phận thuộc cơ cấu tổ chức của WTO, bao gồm đại diện của các tất cá nước thành viên WTO. Giúp việc cho DSB thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp là Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm. Ban hội thẩm chỉ được thành lập khi có nước khởi kiện. Kết quả hoạt động của Ban hội thẩm là Báo cáo của Ban hội thẩm, khi báo cáo này được DSB thông qua sẽ có giá trị ràng buộc các bên. Tuy nhiên, các bên tranh chấp có thể kháng cáo Báo cáo của Ban hội thẩm lên Cơ quan phúc thẩm. Cơ quan phúc thẩm là cơ quan thường trực của DSB, bao gồm 7 thành viên. Cơ quan phúc thẩm chỉ xem xét các nội dung kháng cáo. Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm có thể là giữ nguyên, sửa đổi hay hủy bỏ các ý kiến và kết luận của Ban hội thẩm. Khi được DSB thông qua, Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm là phán quyết cuối cùng, các bên phải chấp nhận không điều kiện.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)

>> Xem thêm:  Kinh nghiệm áp dụng biện pháp tự vệ thương mại của Thái Lan của Hoa Kỳ

Câu hỏi về cơ chế giải quyết tranh chấp phúc thẩm tại WTO ?

Câu hỏi: Hộ nghị Bộ trưởng của WTO?

Trả lời:

Hội nghị Bộ trưởng: Hội nghị Bộ trưởng gồm đại diện của tất cả các nước thành viên, là cơ quan ra quyết định cao nhất của WTO. Hội nghị Bộ trưởng họp ít nhất hai năm một lần. Hội nghị Bộ trưởng sẽ thực thi các chức năng của WTO. Khi một thành viên nào đó yêu cầu, Hội nghị Bộ trưởng cũng có quyền đưa ra những quyết định về tất cả các vấn đề liên quan đến các hiệp định đa phương.

Câu hỏi: Thành phần Đại hội đồng của WTO?

Trả lời:

Ðại hội đồng gồm đại diện của tất cả các nước thành viên, sẽ họp khi cần thiết. Trong thời gian giữa các khoá họp của Hội nghị Bộ trưởng thì chức năng của Hội nghị Bộ trưởng sẽ do Ðại hội đồng đảm nhiệm. Đại hội đồng còn có vai trò là cơ quan giám sát chính sách thương mại và giải quyết tranh chấp. Đại hội đồng hành động nhân danh Hội nghị Bộ trưởng và chịu trách nhiệm trước Hội nghị Bộ trưởng.

Câu hỏi: WTO hoạt động dựa trên những nguyên tắc chính nào?

Trả lời:

WTO hoạt động dựa trên bốn nguyên tắc chính: Nguyên tắc tối huệ quốc; Nguyên tắc mở cửa thị trường; Nguyên tắc cạnh tranh công bằngvà Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia.