- 1. Lao động là người khuyết tật có được nghỉ nguyên lương ngày 03 tháng 12 không?
- 2. Quy định về số lượng phép năm của lao động là người khuyết tật làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động ?
- 3. Điều kiện để doanh nghiệp sử dụng người lao động là người khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ?
1. Lao động là người khuyết tật có được nghỉ nguyên lương ngày 03 tháng 12 không?
Theo quy định của pháp luật, người khuyết tật là những người bị khiếm khuyết ở một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng, gây khó khăn trong lao động, sinh hoạt và học tập (theo khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật năm 2010). Dựa trên mức độ khuyết tật, người khuyết tật được chia thành ba nhóm:
- Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người bị khuyết tật đến mức mất hoàn toàn chức năng và không thể tự kiểm soát hoặc thực hiện các hoạt động hàng ngày như di chuyển, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và các hoạt động khác. Họ cần sự giúp đỡ, chăm sóc và hỗ trợ từ người khác để thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cá nhân. Khả năng lao động của họ bị suy giảm từ 81% trở lên.
- Người khuyết tật nặng là những người bị khuyết tật đến mức mất một phần chức năng hoặc suy giảm chức năng. Họ không thể tự kiểm soát hoặc thực hiện một số hoạt động hàng ngày như di chuyển, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và các hoạt động khác. Họ cần sự giúp đỡ, chăm sóc và hỗ trợ từ người khác để thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cá nhân. Khả năng lao động của họ bị suy giảm từ 61% đến 80%.
- Người khuyết tật nhẹ là những người khuyết tật có khả năng tự phục vụ trong sinh hoạt hàng ngày, nhưng khả năng lao động của họ bị suy giảm dưới 61%.
Ngày 03 tháng 12 được xác định là Ngày Quốc tế Người khuyết tật từ năm 1992 bởi Liên hợp quốc nhằm tăng cường nhận thức về vấn đề khuyết tật và đẩy mạnh sự hỗ trợ cho quyền lợi và phúc lợi của người khuyết tật.
- Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu tích cực trong việc chăm sóc và quan tâm đến người khuyết tật trong những năm qua. Đặc biệt, Đảng và Nhà nước luôn ưu tiên quan tâm và cung cấp nguồn lực, ban hành các chính sách và pháp luật nhằm hỗ trợ xã hội, bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật và khuyến khích sự tham gia của họ vào phát triển kinh tế và xã hội.
- Theo Điều 112 của Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động được nghỉ làm việc và nhận lương trong các ngày lễ, tết sau đây: Tết Dương lịch (01 ngày), Tết Âm lịch (05 ngày), Ngày Chiến thắng (01 ngày), Ngày Quốc tế lao động (01 ngày), Quốc khánh (02 ngày), và Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (01 ngày). Ngoài ra, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam cũng được nghỉ thêm một ngày trong dịp Tết cổ truyền dân tộc và một ngày Quốc khánh của quốc gia của họ. Mỗi năm, Thủ tướng Chính phủ sẽ quyết định cụ thể các ngày nghỉ đối với các ngày được quy định tại điểm b và điểm đ của khoản 1 Điều này, dựa trên điều kiện thực tế.
- Do đó, các doanh nghiệp không bắt buộc phải cho người lao động là người khuyết tật nghỉ làm việc và nhận lương vào Ngày Quốc tế Người khuyết tật ngày 03 tháng 12 hàng năm. Tuy nhiên, chính sách của nhà nước khuyến khích việc đạt được các thỏa thuận bảo đảm quyền lợi cho người lao động tốt hơn so với quy định của pháp luật lao động. Vì vậy, nếu trong nội quy của doanh nghiệp có quy định cho phép người lao động là người khuyết tật được nghỉ việc và nhận lương vào ngày này, thì điều đó hoàn toàn có thể thực hiện.
2. Quy định về số lượng phép năm của lao động là người khuyết tật làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động ?
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019, số ngày phép năm của lao động là người khuyết tật được xác định như sau: người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động sẽ được hưởng 14 ngày phép năm.
- Theo đó, người lao động khuyết tật, sau khi đã làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động, sẽ được nghỉ hằng năm và nhận mức lương đầy đủ theo hợp đồng lao động. Số ngày phép năm được quy định theo mức độ khuyết tật và tính theo số ngày làm việc. Cụ thể, người lao động khuyết tật sẽ được nghỉ 14 ngày làm việc trong năm.
- Điều này áp dụng cho những người lao động khuyết tật làm việc trong các điều kiện đặc biệt như: chưa thành niên, làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Ngoài ra, nếu người lao động khuyết tật đang làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, thì số ngày nghỉ hằng năm sẽ là 16 ngày làm việc.
- Nếu người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động, số ngày nghỉ hằng năm sẽ được tính tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc.
- Trong trường hợp người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hoặc mất việc làm trước khi đã nghỉ hết số ngày phép năm, người sử dụng lao động sẽ phải thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ cho người lao động đó.
- Người sử dụng lao động có trách nhiệm quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động biết. Đồng thời, người lao động cũng có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.
- Trong trường hợp người lao động muốn nghỉ hằng năm mà chưa đến kỳ trả lương, người lao động sẽ được tạm ứng tiền lương theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Bộ luật Lao động.
- Nếu người lao động đi du lịch bằng các phương tiện giao thông như đường bộ, đường sắt, hoặc đường thủy, và số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày, thì từ ngày thứ 03 trở đi, người lao động được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm. Tuy nhiên, điều này chỉ áp dụng cho một lần nghỉ trong năm.
- Cuối cùng, chính phủ sẽ quy định chi tiết về các điều khoản này.
Tóm lại, lao động là người khuyết tật làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động sẽ được hưởng 14 ngày phép năm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019. Điều này đảm bảo quyền lợi nghỉ ngơi và tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động khuyết tật trong quá trình làm việc.
3. Điều kiện để doanh nghiệp sử dụng người lao động là người khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ?
- Để sử dụng người lao động là người khuyết tật trong các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, doanh nghiệp cần tuân thủ các quy định được quy định trong Điều 160 - Bộ luật Lao động 2019 của Việt Nam.
- Theo đó, các hành vi sau đây bị nghiêm cấm khi sử dụng lao động là người khuyết tật:
+ Sử dụng người lao động là người khuyết tật nhẹ, có khả năng lao động suy giảm từ 51% trở lên, hoặc khuyết tật nặng, hoặc khuyết tật đặc biệt nặng để làm thêm giờ hoặc làm việc vào ban đêm, trừ trường hợp người lao động là người khuyết tật đồng ý.
+ Sử dụng người lao động là người khuyết tật để thực hiện công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành mà không có sự đồng ý của người khuyết tật sau khi đã được người sử dụng lao động cung cấp đầy đủ thông tin về công việc đó.
- Điều này có nghĩa là doanh nghiệp chỉ có thể sử dụng lao động là người khuyết tật trong các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm khi đã có sự đồng ý của người lao động đó sau khi đã được cung cấp đầy đủ thông tin về tính chất và yêu cầu công việc. Sự đồng ý của người lao động là một yếu tố quan trọng, bảo đảm quyền lợi và an toàn cho người lao động khuyết tật.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng phải tuân thủ các quy định khác liên quan đến lao động và người khuyết tật, như việc cung cấp điều kiện làm việc an toàn, bảo đảm sức khỏe và đảm bảo quyền lợi của người lao động khuyết tật theo quy định của pháp luật.
Xem thêm >>> Các chế độ cho người khuyết tật trong học tập và các khoản trợ cấp, hỗ trợ
Nếu quý khách hàng gặp bất kỳ vấn đề, thắc mắc hoặc câu hỏi nào liên quan đến bài viết hoặc các vấn đề pháp luật, chúng tôi mong muốn được giúp đỡ và tư vấn. Để giải quyết những khúc mắc này, quý khách có thể liên hệ với tổng đài tư vấn pháp luật của chúng tôi qua số điện thoại 1900.6162 hoặc gửi email đến địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn. Chúng tôi cam kết sẽ đáp ứng và hỗ trợ quý khách hàng một cách tận tâm và chuyên nghiệp. Việc liên hệ với chúng tôi sẽ giúp quý khách có được sự giải đáp và hướng dẫn đúng đắn, từ đó giúp quý khách giải quyết các vấn đề pháp lý một cách hiệu quả và đáng tin cậy.