- 1. Cơ sở pháp lý:
- 2. Lao động nữ không nghỉ thêm trong ngày đèn đỏ, NSDLĐ có phải trả thêm tiền không?
- 3. Không có hợp đồng lao động có đòi được lương không?
- 4. Sổ bảo hiểm người lao động có quyền giữ không?
- 5. Người sử dụng lao động không trả sổ bảo hiểm cho người lao động bị xử phạt như thế nào?
- 6. Có được thuê trẻ em làm việc?
- 7. Bị tai nạn lao động trong giờ giải lao, có được bồi thường?
Bộ luật lao động năm 2019 có hiệu lực, cùng với đó những điểm mới đáng lưu ý cũng sẽ là thắc mắc của rất nhiều người lao động. Liệu rằng họ có được đảm bảo quyền lợi như các quy định pháp luật đã ghi nhận không? Quy định về lao dộng nữ được nghỉ 30 phút trong thời kỳ hành kinh là một trong những điểm mới được người lao động quan tâm. Và thắc mắc của họ là liệu họ có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động không nghỉ và được nhận thêm tiền cho thời gian làm việc đó không?
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900 6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý:
- Bộ luật lao động năm 2019;
- Nghị định 145/2020/NĐ-CP
2. Lao động nữ không nghỉ thêm trong ngày đèn đỏ, NSDLĐ có phải trả thêm tiền không?
Theo điểm a khoản 3 điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, lao động nữ trong thời gian hành kinh có quyền được nghỉ mỗi ngày 30 phút tính vào thời giờ làm việc và vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.
Số ngày có thời gian nghỉ trong thời gian hành kinh do hai bên thỏa thuận phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ nhưng tối thiểu là ba ngày làm việc trong một tháng; thời điểm nghỉ cụ thể của từng tháng do người lao động thông báo với người sử dụng lao động.
Theo điểm c khoản 3 điều 80 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, trường hợp lao động nữ không có nhu cầu nghỉ và được người sử dụng lao động đồng ý để người lao động làm việc thì ngoài tiền lương được hưởng theo quy định, người lao động được trả thêm tiền lương theo công việc mà người lao động đã làm trong thời gian được nghỉ. Thời gian làm việc này không tính vào thời giờ làm thêm của người lao động.
Nếu không trả thêm tiền lương theo công việc mà lao động nữ đã làm trong thời gian hành kinh, người sử dụng lao động có thể bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến một triệu đồng theo điểm b khoản 1 điều 27 Nghị định 28/2020/NĐ-CP (đối với người sử dụng lao động là tổ chức sẽ bị phạt tiền 1-2 triệu đồng).
3. Không có hợp đồng lao động có đòi được lương không?
Trong tình hình dịch bệnh Covid 19 nhiều đơn vị kinh doanh gặp khó khăn và tinh giảm nhân sự. Lướt trên các diễn đàn trao đổi của người lao động không khó để bắt gặp những trạng thái được đăng tải nhằm xin ý kiến để “đòi” được tiền lương khi người sử dụng lao động cho nghỉ việc và không hề có hợp đồng lao động ràng buộc. Vậy, pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?
Theo điều 13 Bộ luật Lao động 2020 về hợp đồng lao động, trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.
Điều 14 Bộ luật Lao động 2020 quy định, hợp đồng lao động được giao kết thông qua một trong ba hình thức sau:
- Hợp đồng lao động bằng văn bản.
- Hợp đồng lao động điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu.
- Được giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói áp dụng đối với hợp đồng có thời hạn dưới một tháng;
Trừ các trường hợp sau đây bắt buộc phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản dù hợp đồng có thời hạn dưới một tháng:
- Giao kết hợp đồng lao động với nhóm người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên thông qua một người lao động trong nhóm được ủy quyền giao kết hợp đồng lao động để làm công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.
- Giao kết hợp đồng lao động với người chưa đủ 15 tuổi.
- Giao kết hợp đồng lao động với lao động là người giúp việc gia đình.
Theo đó, đối với các trường hợp đã làm việc tại đơn vị người sử dụng lao động trên 1 tháng mà không được ký hợp đồng lao động thì chủ sử dụng lao động đã vi phạm quy định pháp luật khi không thực hiện việc giao kết hợp đồng bằng văn bản.
Theo đó, chủ sử dụng lao động có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điều 8 Nghị định 28/2020/NĐ-CP ngày 1/3/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như sau:
"Điều 8. Vi phạm quy định về giao kết hợp đồng lao động
1. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên....:
a) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
đ) Từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên...".
Đối với những trường hợp như vậy, người lao động để bảo vệ quyền lợi cho mình hãy thu thập các chứng cứ chứng minh cho thời gian làm việc tại đơn vi người sử dụng lao động thông qua các kênh như: tin nhắn, imail giao việc, báo cáo công việc trong suốt thời gian lao động của mình.
Về việc trả lương, điều 94 Bộ luật Lao động 2019 quy định: "Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động".
Vì vậy, trong trường hợp như vậy, người sử dụng lao động đã vi phạm hai lỗi là không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản và không trả lương đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Cho nên đây sẽ là căn cứ pháp lý hiệu quả để người lao có thể khiếu nại đến phòng Lao động Thương binh và Xã hội nơi công ty đóng trụ sở hoặc khởi kiện ra Tòa án để bảo vệ quyền lợi cho mình
4. Sổ bảo hiểm người lao động có quyền giữ không?
Trước đây, chủ sử dụng lao động là người có trách nhiệm giữ sổ BHXH cho nhân viên của mình.
Thế nhưng, từ ngày 01/01/2016 - ngày Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 có hiệu lực thì người lao động là người có trách nhiệm giữ và bảo quản sổ BHXH của mình. Cụ thể tại Điều 19 Luật bảo hiểm xã hội quy định như sau:
1. Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này.
2. Thực hiện quy định về việc lập hồ sơ bảo hiểm xã hội.
3. Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội.
Rất nhiều người đã bày tỏ niềm vui mừng khi được trực tiếp cầm sổ để theo dõi quá trình đóng bảo hiểm xã hội, nhưng cũng không ít người thể hiện sự lo ngại về việc có thể bị thất lạc sổ trong quá trình giữ.
Tuy nhiên, cũng theo quy định của Luật này, dù người lao động tự giữ sổ nhưng cơ quan bảo hiểm vẫn lưu chứng từ điện tử trên hệ thống quản lý. Do đó, nếu người lao động làm mất, hỏng sổ vẫn được cơ quan bảo hiểm xã hội cấp lại và không ảnh hưởng đến quá trình đóng.
5. Người sử dụng lao động không trả sổ bảo hiểm cho người lao động bị xử phạt như thế nào?
Theo khoản 2 điều 18 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người lao động được cấp và quản lý Sổ bảo hiểm xã hội.
Khoản 1 điều 96 quy định Sổ bảo hiểm xã hội được cấp cho từng người lao động để theo dõi việc đóng, hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội; là cơ sở để giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.
Theo khoản 5 điều 21, người sử dụng lao động có trách nhiệm phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật.
Căn cứ các quy định nêu trên, nếu công ty cố tình không trả Sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động thì đây là hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của người lao động.
Trong trường hợp này, người lao động cần ý kiến với Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở để được hỗ trợ.
Lưu ý, theo điểm d khoản 4 điều 40 Nghị định 28/2020/NĐ-CP, hành vi không trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động sẽ bị phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 4 triệu đồng khi vi phạm với mỗi người lao động nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng với người sử dụng lao động là cá nhân (trường hợp người sử dụng lao động là tổ chức thì mức phạt bằng 2 lần mức phạt đối với cá nhân).
6. Có được thuê trẻ em làm việc?
Ở địa phương tôi có rất nhiều gia đình hoàn cảnh khó khăn, nhiều em không có tiền sinh hoạt và học hành. Tôi làm ở trang trại dâu đến mùa thu hoạch dâu rất nhiều em muốn đến làm thuê. Tôi không biết có được thuê trẻ em làm việc này hay không? Nếu được tôi cần lưu ý những vấn đề gì để không vi phạm pháp luật? Mong nhận được tư vấn?
Theo Điều 145 Bộ luật lao động 2019, khi sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc, người sử dụng lao động phải tuân theo quy định sau:
- Phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người đó;
- Bố trí giờ làm việc không ảnh hưởng đến thời gian học tập của người chưa đủ 15 tuổi;
- Phải có giấy khám sức khỏe của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền xác nhận sức khỏe của người chưa đủ 15 tuổi phù hợp với công việc và tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ ít nhất một lần trong 6 tháng;
- Bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với lứa tuổi.
Người sử dụng lao động chỉ được tuyển dụng và sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi vào làm các công việc nhẹ theo danh mục do Bộ trưởng Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.
- Người sử dụng lao động không được tuyển dụng và sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm việc, trừ các công việc nghệ thuật, thể dục, thể thao nhưng không làm tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa đủ 13 tuổi và phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Đối chiếu danh mục việc làm quy định của Bộ lao động - Thương binh và xã hội thì công việc hái dâu (thu hoạc rau, củ, quả theo mùa vụ) là việc làm được sử dụng lao động dưới 15 tuổi. Xem thêm tại Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12 tháng 11 năm 2020.
Khi thực hiện tuyển dụng những đối tượng này, bạn cần phải tuân theo những quy định về việc giao kết hợp đồng, thời giờ làm việc, bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn, vệ sinh lao động như tại điều 145 Bộ luật lao độn đã nêu trên.
Lưu ý, công việc thu hoạch dâu (rau củ quả) không thuộc danh mục ngành nghề cho trẻ dưới 13 tuổi nên bạn không được tuyển dụng người đối tượng này vào làm việc.
7. Bị tai nạn lao động trong giờ giải lao, có được bồi thường?
Trong giờ giải lao, tôi bị quạt trần của xưởng may rơi vào đầu khiến suy giảm 35% sức lao động.
Tôi là công nhân may. Công ty có phải bồi thường tai nạn cho tôi trong trường hợp này không?
Theo khoản a điều 45 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015, người lao động tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sẽ được hưởng chế độ tai nạn lao động khi bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật Lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh.
Bạn bị tai nạn trong giờ giải lao do thiết bị ở chỗ làm việc rơi vào đầu nên công ty phải có trách nhiệm chi trả hoàn toàn chi phí điều trị. Tai nạn xảy ra trong giờ giải lao vì khoảng thời gian này vẫn được xem là thời gian thực hiện công việc.
Căn cứ quy định tại Điều 38 Luật An toàn vệ sinh lao động:
Công ty có trách nhiệm kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho người lao động bị tai nạn lao động và phải tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho người lao động bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Doanh nghiệp cũng phải thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp như sau:
- Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế;
- Trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với những trường hợp kết luận suy giảm khả năng lao động dưới 5% do người sử dụng lao động giới thiệu người lao động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa;
- Thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế;
- Trả đủ tiền lương cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động;
- Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra và cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp với mức ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%.
Như vậy, trường hợp của bạn, ngoài hoàn toàn chi trả viện phí, công ty còn phải bồi thường cho bạn 11,5 tháng lương tương ứng với 35% bạn bị suy giảm lao động.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê