Khái niệm Luật lựa chọn

Luật lựa chọn (LEX VOLUNTATIS) là pháp luật của nước do các bên chủ thể lựa chọn khi giao kết hợp đồng hoặc do cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Trọng tài) lựa chọn.

Là một trong những hệ thuộc quan trọng của các quy phạm pháp luật xung đột, luật lựa chọn ngày càng được áp dụng rộng rãi trong các giao dịch dân sự quốc tế, nhất là các giao dịch thương mại quốc tế.

Khi các bên đã thỏa thuận luật nào sẽ áp dụng để điều chỉnh hợp đồng thì sự thỏa thuận đó thường được ghỉ vào hợp đồng bằng điều khoản riêng - điều khoản luật áp dụng.

Pháp luật của các nước thường cho phép được tự do lựa chọn luật thích hợp cho hợp đồng. Tuy nhiên, nghiêm cấm việc chọn hệ thống pháp luật trái với luật quốc gia hoặc điều ước quốc tế hoặc nhằm mục đích lẩn tránh pháp luật.

Hệ thuộc Luật lựa chọn

Hệ thuộc luật lựa chọn được hiểu là: các bên tham gia quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (YTNN) được lựa chọn hệ thống pháp luật áp dụng cho quan hệ giữa họ thì luật do các bên lựa chọn sẽ được áp dụng.

Trong đó, Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;

b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.

Theo pháp luật Việt Nam, cụ thể tại Bộ luật dân sự (BLDS) 2015 thì pháp luật cho phép các chủ thể trong quan hệ dân sự có YTNN được lựa chọn pháp luật áp dụng trong phạm vi các quan hệ:

- Thứ nhất: Quan hệ Hợp đồng

Theo khoản 1 Điều 683 BLDS 2015 thì: Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng. Trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng.

Lưu ý: Ngoại lệ của quyền thỏa thuận luật chọn luật: sẽ không được áp dụnglựa chọn luật đối với các trường hợp sau:

+ TH1:Trường hợp hợp đồng có đối tượng là bất động sản thì pháp luật áp dụng đối với việc chuyển giao quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản, thuê bất động sản hoặc việc sử dụng bất động sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là pháp luật của nước nơi có bất động sản.

+ TH2: Trường hợp pháp luật do các bên lựa chọn trong hợp đồng lao động, hợp đồng tiêu dùng có ảnh hưởng đến quyền lợi tối thiểu của người lao động, người tiêu dùng theo quy định của pháp luật Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng.

+ TH3: Các bên có thể thỏa thuận thay đổi pháp luật áp dụng đối với hợp đồng nhưng việc thay đổi đó không được ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba được hưởng trước khi thay đổi pháp luật áp dụng, trừ trường hợp người thứ ba đồng ý.

- Thứ hai: Quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

Theo Điều 687 BLDS 2015 thì: Các bên được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trường hợp không có thỏa thuận thì pháp luật của nước nơi phát sinh hậu quả của sự kiện gây thiệt hại được áp dụng.

Lưu ý: Tồn tại ngoại lệ các bên sẽ không được lựa chọn luật áp dụng đó là: Trường hợp bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có nơi cư trú, đối với cá nhân hoặc nơi thành lập, đối với pháp nhân tại cùng một nước thì pháp luật của nước đó được áp dụng.

- Thứ ba: Thực hiện công việc không theo ủy quyền:

Theo Điều 686 BLDS 2015: Các bên được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho việc thực hiện công việc không có ủy quyền. Trường hợp không có thỏa thuận thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi thực hiện công việc không có ủy quyền.

- Thứ tư: Quyền sử hữu và quyền khác đối với động sản đang trên đường vận chuyển:

Theo khoản 2 Điều 678 BLDS 2015: Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản là động sản trên đường vận chuyển được xác định theo pháp luật của nước nơi động sản được chuyển đến, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Điều kiện chọn luật

Mặc dù pháp luật thừa nhận quyền được chọn luật áp dụng của các bên trong quan hệ dân sự có YTNN. Tuy nhiên, bên cạnh đó pháp luật Việt Nam cũng có các quy định cụ thể về điều kiện để việc chọn luật do các bên lựa chọn có hiệu lực (tức phải lưaj chọn trong khuôn khổ pháp luật cho phép). Pháp luật Việt Nam không có một văn bản pháp luật nào xây dựng một điều khoản riêng về đề chọn luật áp dụng và điều kiện để lựa chọn luật có hiệu lực. Tuy nhiên, từ các quy phạm pháp luật khác nhau có có thể nhận biết khái quát việc lựa chọn luật áo dụng của các bên phải đáp ứng các điều kiện như sau:

- Thứ nhất: Phải có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên trong việc thỏa thuận chọn luật (nguyên tắc bình đẳng thỏa thuận),

- Thứ hai: Chỉ được lựa chọn luật những vấn đề khi mà điều ước quốc tế hoặc pháp luật việt nam cho phép lựa chọn (Phạm vi này chính là phần 2 mình đã phân tích ở trên)

- Thứ ba: Hậu quả của việc áp dụng luật lựa chọn không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt nam. (Khoản 1 Điều 670 BLDS 2015).

- Thứ tư: Chỉ được lựa chọn các quy phạm thực chất (tức quy phạm quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của các chủ thể), không được lựa chọn luật có quy phạm xung đột (quy phạm xung đột là quy phạm không quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên mà chỉ đưa ra dấu hiệu ching để xác định pháp luật áp dụng cho quan hệ đó). Vì nếu các bên lựa chọn quy phạm xung đột, thì như thế sẽ làm mất đi ý nghĩa lựa chọn luật ban đầu của các bên.

- Thứ năm: Việc lựa chọn luật không nhằm lẩn tránh pháp luật (Lẩn tránh pháp luật là: việc các bên dùng thủ đoạn lẩn tránh khỏi sự chi phối của hệ thống pháp luật lẽ ra được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ của họ bằng cách hướng sự dẫn chiếu đến một hệ thống pháp luật có lợi hơn cho mình).

Mở rộng quyền lựa chọn pháp luật trong Tư pháp quốc tế Việt Nam

Ưu điểm của việc mở rộng quyền lựa chọn.

TPQT Việt Nam còn quá dè dặt, quá "truyền thống” trong việc xác định pháp luật điều chỉnh quan hệ có YTNN. Quyền LCPL của các bên chỉ tập trung vào một lĩnh vực của TPQT là hợp đồng (một chút trong lĩnh vực quyền sở hữu liên quan đến tài sản trong quá trình vận chuyển) và vắng bóng trong các lĩnh vực khác. Trong tương lai, TPQT Việt Nam nên theo hướng mở rộng quyền LCPL cho các chủ thể trong quan hệ dân sự có YTNN và việc này sẽ đem lại những ưu điểm sau:

Thứ nhất, việc mở rộng nêu trên khắc phục được tâm lý của chủ thể trong quan hệ quốc tế. Cụ thể như sau: Khi nghiên cứu TPQT Việt Nam, người quan tâm có cảm giác việc xác định pháp luật điều chỉnh quan hệ có YTNN như hiện nay mang tính "áp đặt” vì các chủ thể liên quan không có quyền lựa chọn, định đoạt pháp luật điều chỉnh quan hệ liên quan đến họ. Do đó, việc mở rộng trường hợp cho phép các chủ thể liên quan LCPL cho thấy chúng ta tôn trọng sự định đoạt của họ.

Thứ hai, các quy định hiện nay về xác định pháp luật điều chỉnh quan hệ có YTNN tạo ra sự không an toàn pháp lý cho các chủ thể. Bởi lẽ, với quy định hiện nay (ngoại trừ lĩnh vực hợp đồng và tài sản trong quá trình vận chuyển), chủ thể liên quan đôi khi không biết rõ quan hệ của họ được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật nước nào. Chẳng hạn, theo khoản 1 Điều 773 BLDS hiện hành, "việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi xảy ra hành vi gây thiệt hại hoặc nơi phát sinh hậu quả thực tế của hành vi gây thiệt hại”. Ở đây, người gây thiệt hại và người bị thiệt hại chưa biết được pháp luật nước nào sẽ điều chỉnh quan hệ của họ nên họ chưa thể biết được quyền lợi của họ như thế nào. Với việc cho phép LCPL điều chỉnh quan hệ có YTNN, các bên sẽ biết pháp luật điều chỉnh quan hệ của họ và quyền lợi của họ. Điều này tạo cho họ sự an toàn pháp lý cao hơn so với quy định không cho phép LCPL.

Thứ ba, chúng ta đã mở cửa và hội nhập quốc tế trong khi đó xu hướng mở rộng quyền LCPL đã được ghi nhận nhiều trong TPQT nước ngoài. Do đó, để không bị đơn độc, chúng ta cũng nên theo xu hướng nêu trên. Việc mở rộng này còn tạo điều kiện, cho phép các quyết định của Tòa án nước ta dễ được công nhận và cho thi hành ở nước ngoài khi các bên LCPL của nước mà quyết định liên quan đến họ sẽ được công nhận và cho thi hành.

Nhược điểm của việc mở rộng quyền lựa chọn.

Không có giải pháp nào là hoàn hảo. Việc cho phép chủ thể liên quan LCPL cũng theo quy luật này và có nhược điểm riêng của nó. Tuy nhiên, những nhược điểm này hoàn toàn có thể khắc phục được.

Thực ra, việc cho phép chủ thể liên quan LCPL điều chỉnh quan hệ có YTNN có thể dẫn đến trường hợp sẽ chọn một hệ thống pháp luật nào đó nhằm tránh những quy định bắt buộc thông thường được áp dụng. Chính yếu tố này đã dẫn đến tình trạng trong một thời gian dài, TPQT không muốn ghi nhận quyền LCPL cho các chủ thể. Chẳng hạn, đối với thừa kế có YTNN, pháp luật của Pháp không ghi nhận quyền lựa chọn cho người để lại di sản và lý do cơ bản cho việc không ghi nhận này được các chuyên gia về TPQT Pháp lý giải như sau: "quyền LCPL cần được loại bỏ” trong lĩnh vực thừa kế vì việc ghi nhận quyền này kéo theo "hệ quả là cho phép người để lại di sản LCPL không bảo vệ người thân của người để lại di sản thông qua chế định lưu sản (thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc)”. Tuy nhiên, nhược điểm nêu trên hoàn toàn có thể khắc phục được mặc dù vẫn ghi nhận quyền LCPL và kinh nghiệm của Bỉ cho thấy rõ điều vừa nêu: theo Điều 78 Bộ luật TPQT của Bỉ, pháp luật điều chỉnh thừa kế là pháp luật của nước mà người để lại di sản có nơi thường trú và, khi di sản là bất động sản, thì áp dụng pháp luật của nước nơi có bất động sản. Tiếp theo, Điều 79 quy định cho phép LCPL điều chỉnh thừa kế và, để tránh nhược điểm nêu trên, Điều 79 đã quy định thêm rằng "việc LCPL điều chỉnh không được có hệ quả tước bỏ quyền của người thừa kế được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo pháp luật được xác định theo Điều 78”.

Bên cạnh đó, việc cho phép LCPL điều chỉnh quan hệ có YTNN có thể kéo theo hệ quả là chúng ta áp dụng hệ thống pháp luật xâm phạm đến quyền lợi của người thứ ba. Tuy nhiên, nhược điểm vừa nêu cũng có thể khắc phục được và kinh nghiệm của Bỉ đã cho thấy điều này: liên quan đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Điều 99 và 100 Luật TPQT của Bỉ đã đưa ra các tiêu chí để xác định pháp luật điều chỉnh. Đến Điều 101, các nhà lập pháp Bỉ đã ghi nhận quyền của các bên LCPL nhưng đoạn cuối của Điều 101 đã nêu rõ "sự lựa chọn này phải minh thị và không được xâm phạm tới quyền lợi của người thứ ba”