Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ phát sinh:

- Là các cơ sở làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho một hoặc nhiều chủ thể nhất định trước một hoặc nhiều chủ thể bị gây thiệt hại. BLDS không có quy định cụ thể về các căn cứ này, tuy nhiên các căn cứ ấy có thể được nhận thấy thông qua quy định cụ thể: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.

-Mặc dù các căn cứ, như đã nói ở trên, không được quy định trực tiếp trong BLDS nhưng lại được NQ 03 đề cập một cách cụ thể. NQ này tại mục I.1 đã khẳng định trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố: (i) phải có thiệt hại xảy ra; (ii) Phải có hành vi trái pháp luật; (ii) Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại và (iv) Phải có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại.

-Các căn cứ nói trên cũng không khác biệt đáng kể với quy định của các quốc gia khác trên thế giới. Trong đó lưu ý đặc biệt về yếu tố lỗi của người gây thiệt hại, vốn là một yếu tố được coi là thuộc tính của hành vi trái pháp luật và do đó không được đề cập trong pháp luật Anh – Mỹ.

2. Có thiệt hại xảy ra trên thực tế

-Khái niệm thiệt hại: là sự giảm sút các lợi ích tài sản hoặc các lợi ích nhân thân so với tình trạng hiện hữu hoặc sự giảm sút các lợi ích mà chủ thể bị thiệt hại sẽ chắc chắn có được trong tương lai trong một điều kiện bình thường nếu không có việc gây thiệt hại xảy ra.

-Các loại thiệt hại:

+Thiệt hại về vật chất: Gồm thiệt hại vật chất do tài sản, do sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm: các lọai thực hiện này được quy định cụ thể trong BLDS từ các Điều 608 đến 611. Cũng cần lưu ý là ngòai các Điều luật này, BLDS 2005 còn có các quy định mới được bổ sung tại các Điều 628 & 629 dẫn đến cách hiểu rằng còn có những dạng thực hiện khác. Điều này là hòan tòan dễ hiểu  khi mà mồ mả và thi thể không thể được coi là tài sản theo nghĩa truyền thống cũng như thực tế.

>> Xem thêm:  Tư vấn phạt vi phạm hợp đồng thương mại theo pháp luật hiện hành

+Thiệt hại về tinh thần:

Theo NQ 03, các thiệt hại tinh thần được hiểu như sau:

Thiệt hại về tinh thần của cá nhân: Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm... và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu (mô tả qua các tình huống phát tán ảnh khỏa thân để đánh ghen, việc hủy họai khuôn mặt dẫn đến khó khăn trong giao tiếp hay trong họat động nghề nghiệp …).

Thiệt hại về tinh thần của tổ chức: Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin... vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu. Lưu ý là sự giảm sút uy tín này thực sự có ảnh hưởng đến họat động bình thường của tố chức, đó có thể là uy tín và thu nhập trong kinh doanh của doanh nghiệp hoặc hình ảnh xã hội của các tổ chức từ thiện.

Thiệt hại với tư cách là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường phải có các đặc tình sau:

Là thiệt hại thực tế: thiệt hại là có thực, có thể nhận thức được và không phải là các thiệt hại có tính chất tưởng tượng và cũng không phải là các sự giảm sút lợi ích mà không chắn chắn có được.

Thiệt hại phải có thể được tính thành tiền: dù qua bất kỳ phương tiện nào và cách thức tính tóan nào thì thiệt hại phải được tính tóan thành một lượng tiền tệ nhất định, làm cơ sở đầu tiên cho việc bồi thường.

Thiệt hại phải có quan hệ mật thiết với hành vi gây thiệt hại: nói cách khác quan hệ giữa 2 yếu tố này là không “quá xa”. Pháp luật Anh –Mỹ có nhiều quy định và án lệ về vấn đề này.

3. Có hành vi trái pháp luật

Theo NQ 03 thì “Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật.”

>> Xem thêm:  Tư vấn về bồi thường thiệt hại trong dân sự ?

Như vậy hành vi gây thiệt hại có thể tồn tại cả ở dạng không hành động (như không cứu giúp người trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng hay không áp dụng các biện pháp cần thiết để quản lý súc vật hay ngăn chặn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường) tuy trên thực tế hành vi gây thiệt hại dưới dạng hành động vẫn phổ biến hơn.

Pháp luật (pháp luật-đường lối chính sách, phong tục tập quán, đạo đức xã hội): nói cách khác, trong nhiều trường hợp các quy định của pháp luật viện dẫn đến các quy phạm đạo đức hay các quy tắc liên quan đến trật tự công cộng thì các quy tắc ấy cũng được xem xét để xác định có hay khôg hành vi trái pháp luật. Cũng cần lưu ý là việc tôn trọng các truyền thống hay đạo đức là một trong các nguyên tắc cơ bản của luật dân sự. Mặt khác, theo xu hướng chung trên thế giới, lợi ích nhà nước/trật tự công cộng cần phải được diễn giải linh họat và rộng nhất đến mức có thể.

Xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức:

Xuất phát từ đặc tính của pháp luật, hành vi trái pháp luật trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể khác trong xã hội hoặc gián tiếp gây hại cho trật tự pháp luật. Trong phạm vi vấn đề bồi thường thiệt hại nói chung, hậu quả này chính là các thiệt hại thực tế. Cũng cần nhấn mạnh rằng có nhiều dạng hành vi trái pháp luật trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng chỉ những hành vi đi kèm với các căn cứ còn lại mới làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

-Những hành vi gây thiệt hại nhưng không bị coi là hành vi trái pháp luật:

Gây thiệt hại do phòng vệ chính đáng: sẽ được nghiên cứu kỹ ở phần sau với quy định tại Điều 613. Tuy nhiên cần tham khảo và so sánh với chế định phòng vệ chính đáng trong luật hình sự.

Gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết: tương tự, tham khảo Điều 614 và so sánh với các quy định của luật hành chính.

Gây thiệt hại có sự đồng ý hợp pháp của người bị thiệt hại: lưu ý rằng sự đồng thuận phải là phù hợp quy định của pháp luật hiện hành. Chẳng hạn việc giúp con bệnh giải thóat bằng cái chết (“cái chết êm ái”) cũng chỉ được 2 quốc gia trên thế giới công nhận với các điều kiện nghiêm ngặt.

Gây thiệt hại khi thi hành công vụ hoặc thực hiện chức trách nghề nghiệp: chẳng hạn cảnh sát bắn đối tượng khi được phép, bác sĩ cắt bỏ bộ phận cơ thể nạn nhân để cứu tính mạng trong trường hợp khẩn cấp mà không cần có sự đồng ý của họ hay người thân.

Những trường hợp khác do pháp luật quy định… 

>> Xem thêm:  Làm mất dữ liệu khi chạy phần mềm điện thoại Iphone5 có phải chịu trách nhiệm không?

4. Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra

Cũng theo NQ 03 thì mối quan hệ nhân quả được diễn giải là: “Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại”.

Sinh viên cần lưu ý xem lại kiến thức pháp luật về quan hệ nguyên nhân – kết quả quả. Theo quy định của NQ 03, vấn đề cần phải được xem xét dưới hai chiều như sau:

Thứ nhất hành vi trái pháp luật là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại: trong hầu hết các trường hợp, để có thiệt hại thường có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó các nguyên nhân lại đóng vai trò khác nhau, có những nguyên nhân chỉ nên được coi là điều kiện, là tiền đề trong khi các nguyên nhân khác đóng vai trò quyết định (chẳng hạn đường trơn do mưa cũng là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại nhưng việc lưu thông xe quá tốc độ là lý do chủ yếu). Như vậy, để xác định hành vi trái pháp luật có là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại hay không cần phải xem xét sự “đóng góp” của hành vi trái pháp luật vào việc xảy ra thiệt hại.

Theo lý luận truyền thống thì hành vi trái pháp luật phải là nguyên nhân quyết định/chi phối/trực tiếp dẫn đến thiệt hại. Nhưng cần lưu rằng các hành vi gián tiếp vẫn có thể được coi là nguyên nhân chính của thiệt hại nếu chúng dẫn dắt đến các hành vi khác có tính dây chuyền và cuối cùng mới đến thiệt hại.

Thứ hai: thiệt hại là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật. Nói cách khác, với các hành vi trái pháp luật đã thực tế xảy ra cùng với các điều kiện khách quan thì thiệt hại là không thể tránh khỏi (có thể tham khảo ví dụ về việc hành khách bị trộm tài sản trong lúc bất tỉnh vì tai nạn giao thông để làm rõ vấn đề này).

5. Người gây ra thiệt hại có lỗi

-Khái niệm lỗi: xem lại lý luận chung.

-Hình thức lỗi: theo BLDS chỉ có 2 dạng lỗi là cố ý và vô ý. Về lý luận người ta còn chia các dạng lỗi thành các mức độ nặng và nhẹ để làm cơ sở xác định tính chất quyết định của hành vi trái pháp luật đối với thiệt hại để từ đó xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường lẫn mức bồi thường.

-Yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

>> Xem thêm:  Chủ nhà không chịu bồi thường thì làm thế nào ?

Lỗi không là căn cứ bắt buộc trong tất cả các trường hợp như đã phân tích.

Lỗi trong nhiều trường hợp là lỗi suy đóan: trong các trường hợp như bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra, bồi thường do súc vật gây ra … lỗi của người gây thiệt hại thể hiện ở việc không quản lý con người hay vật nuôi nên dẫn đến thiệt hại nghĩa là các chủ thể ấy không có lỗi trực tiếp đối với thiệt hại.

Có nhiều dạng và mức độ lỗi, nhưng điều này không ảnh hưởng đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Việc phân biệt lỗi cố ý hay vô ý chỉ có giá trị đối với việc xem xét để giảm mức bồi thường.

-Yếu tố lỗi trong một số trường hợp đặc biệt

-Phân biệt vai trò lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với lỗi trong trách nhiệm hình sự: như đã phân tích, lỗi trong việc bồi thường là cơ sở phát sinh trách nhiệm (ngọai trừ trường hợp đặc biệt), giúp xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường và mức bồi thường thì trong luật hình sự nó có ý nghĩa trong việc xác định tội danh cũng như xem xét năng lực trách nhiệm hình sự. 

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự về bồi thường thiệt hại, gọi:  1900.6162  để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Luật sư Lê Minh Trường tham gia trả lời VOV2 về hành vi bỏ chạy khi gây tai nạn giao thông ?