1. Vai trò của Luật sư ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Xã hội ngày càng phát triển, càng phát sinh thêm nhiều mối quan hệ giữa công dân với công dân, giữa công dân với các cơ quan, tổ chức và giữa các cơ quan, tổ chức với nhau. Những mối quan hệ này nhiều khi phát sinh mâu thuẫn, ảnh hưởng đến quyền lợi của mỗi bên. Lúc này, với tư cách là Luật sư, người am hiểu pháp luật và kinh nghiệm trong hoạt động pháp luật, luật sư là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan tổ chức có hiệu quả nhất tại Tòa án. Luật sư góp phần giảm thiểu các vụ án oan sai, bảo vệ tốt nhất quyền lợi của khách hàng trên cơ sở các quy định của pháp luật, qua đó vị thế của luật sư trong xã hội cũng ngày càng được nâng cao.

Theo quy định tại Điều 2 Luật luật sư năm 2006 (sửa đổi bổ sung năm 2012) quy định “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng).” Luật sư và nghề luật sư đang ngày càng khẳng định vị trí và vai trò quan trọng trong đời sống xã hội hiện nay. Vai trò của Luật sư thể hiện ở một số khía cạnh sau:

1.1. Luật sư trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa

Luật sư với tư cách là người hiểu biết pháp luật sẽ giúp cho các cơ quan nhà nước, đảm bảo cho các hoạt động của các cơ quan này diễn ra đúng pháp luật, không bị sai lầm  bằng việc giám sát. Pháp luật phải được mọi người nhận thức và thực hiện thống nhất trong cả nước và tất cả các ngành, pháp luật thống nhất đòi hỏi mọi người, mọi vùng miền phải có  đủ thông tin về pháp luật và nâng cao ý thức pháp luật.

1.2. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong và ngoài tố tụng

- Trong lĩnh vực tham gia tố tụng: Luật sư tham gia trợ giúp pháp lý với tư cách là người bào chữa cho các bị can, bị cáo người bị tạm giữ trong các vụ án Hình sự hoặc là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trong các vụ án dân sự, hành chính, lao động, ly hôn, người bị hại trong các vụ án hình sự…

Ngoài ra luật sư cũng trợ giúp pháp lý cho người chưa thành niên; người có nhược điểm về thể chất tâm thần; người có khung hình phạt cao nhất là tử hình… theo sự phân công của Trung tâm trợ giúp pháp lý, Đoàn luật sư và Tổ chức hành nghề luật sư trên cơ sở yêu cầu trợ giúp pháp lý của người thuộc diện trợ giúp pháp lý hoặc của Cơ quan tiến hành tố tụng.

- Trong lĩnh vực đại diện ngoài tố tụng: Tại Khoản 1 Điều 29 Luật luật sư năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012 quy định về Hoạt động đại diện ngoài tố tụng của luật sư như sau: Luật sư đại diện cho khách hàng để giải quyết các công việc có liên quan đến việc mà luật sư đã nhận theo phạm vi, nội dung được ghi trong hợp đồng dịch vụ pháp lý hoặc theo sự phân công của cơ quan, tổ chức nơi luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động

Luật sư sẽ cùng người dân hoặc thay mặt người dân - những đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý để làm việc với các cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết các vụ việc liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Thông thường, luật sư tham gia đại diện ngoài tố tụng thể hiện trong các lĩnh vực như Hành chính, Lao động, khiếu nại…

1.3. Luật sư có vai trò rất lớn trong việc giúp cá nhân, tổ chức hiểu biết pháp luật và thực hiện đúng pháp luật

Theo quy định tại  Điều 28 Luật Luật sư năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012 quy định:

- Tư vấn pháp luật là việc luật sư hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp khách hàng soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ. Luật sư thực hiện tư vấn pháp luật trong tất cả các lĩnh vực pháp luật.

- Khi thực hiện tư vấn pháp luật, luật sư phải giúp khách hàng thực hiện đúng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ.

 Trong lĩnh vực tư vấn pháp luật:  Luật sư tham gia tư vấn cho khách hàng để đảm bảo quyền lợi hợp pháp tốt nhất cho khách hàng của mình: tư vấn hợp đồng, tư vấn cho các doanh nghiệp hoặc thực hiện các dịch vụ pháp lý khác…

1.4. Luật sư trong hoạt động tuyên truyền pháp luật và hoạt động tác xây dựng pháp luật

- Hoạt động tuyên truyền, phổ biến  pháp luật: Luật sư với tư cách là độc lập, đứng ở giữa với nhà nước với nhân dân, do đó, không bị áp lực bởi sự quản lí của nhà nước. Họ là những người gần gũi, gần nhân dân, hiểu được nhân dân, do đó khi họ hiểu pháp luật thế nào thì sẽ tuyên truyền cho nhân dân một cách dễ hiểu nhất. Từ đó tạo nên nhiều ý kiến trái chiều về pháp luật, Luật sư không đứng cùng phía với Nhà nước để Nhà nước nhận ra được sự hạn chế của pháp luật để có hướng điều chỉnh cho đúng, phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội của đất nước.

- Hoạt động đóng góp xây dựng chính sách, pháp luật về cải cách tư pháp, cải cách hành chính, và hội nhập kinh tế quốc tế: Tổ chức và tham gia các cuộc hội thảo, tọa đàm, góp ý bằng văn bản, tham gia ý kiến tại các cuộc họp của Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố để góp ý đối với các dự án luật và văn bản dưới luật trong quá trình soạn thảo . Phản ánh, kiến nghị về những khó khăn, vướng mắc thực tiễn hoạt động luật sư trong khuôn khổ hoạt động giám sát chấp hành pháp luật của các Đoàn công tác của Quốc hội, Hội đồng Nhân dân thành phố…

 

2. Luật sư tham gia vụ án dân sự được hưởng thù lao bao nhiêu?

Tại Điều 56 Luật Luật sư năm 2006 sửa đổi năm 2012 quy định trong trường hợp Luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý thì:

- Mức thù lao được thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý; đối với vụ án hình sự mà luật sư tham gia tố tụng thì mức thù lao không được vượt quá mức trần thù lao do Chính phủ quy định.

- Tiền tàu xe, lưu trú và các chi phí hợp lý khác cho việc thực hiện dịch vụ pháp lý do các bên thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý.

Như vậy, thù lao của luật sư trong vụ án dân sự sẽ do các bên thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý và được tính theo căn cứ và phương thức sau đây:

- Mức thù lao được tính dựa trên các căn cứ:

+ Nội dung, tính chất của dịch vụ pháp lý;

+ Thời gian và công sức của luật sư sử dụng để thực hiện dịch vụ pháp lý;

+ Kinh nghiệm và uy tín của luật sư.

- Thù lao được tính theo các phương thức:

+ Giờ làm việc của luật sư;

+ Vụ, việc với mức thù lao trọn gói;

+ Vụ, việc với mức thù lao tính theo tỷ lệ phần trăm của giá ngạch vụ kiện hoặc giá trị hợp đồng, giá trị dự án;

+ Hợp đồng dài hạn với mức thù lao cố định.

Như vậy, pháp luật không có quy định chi tiết cụ thể về mức thù lao mà luật sư được hưởng, mức hưởng thù lao của luật sư trong vụ án dân sự sẽ dựa theo những căn cứ nêu trên.

 

3. Kết thúc vụ án dân sự, Luật sư có được yêu cầu thêm khoản chi phí nào khác ngoài thù lao hay không?

Tại Điều 9 Luật Luật sự 2006 (sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật Luật sư sửa đổi 2012) quy định về các hành vi bị nghiêm cấm như sau: 

- Nghiêm cấm luật sư thực hiện các hành vi sau đây:

+ Cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng vụ án hình sự, vụ án dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự, các việc khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là vụ, việc);

+ Cố ý cung cấp hoặc hướng dẫn khách hàng cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật; xúi giục người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật;

+ Tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác;

+ Sách nhiễu, lừa dối khách hàng;

+ Nhận, đòi hỏi thêm bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý;

+ Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức, viên chức khác để làm trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc;

+ Lợi dụng việc hành nghề luật sư, danh nghĩa luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

+ Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích khác khi thực hiện trợ giúp pháp lý cho các khách hàng thuộc đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật; từ chối vụ, việc đã đảm nhận theo yêu cầu của tổ chức trợ giúp pháp lý, của các cơ quan tiến hành tố tụng, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc theo quy định của pháp luật;

+ Có lời lẽ, hành vi xúc phạm cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tham gia tố tụng;

+ Tự mình hoặc giúp khách hàng thực hiện những hành vi trái pháp luật nhằm trì hoãn, kéo dài thời gian hoặc gây khó khăn, cản trở hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác.

- Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở hoạt động hành nghề của luật sư.

Như vậy, theo quy định sau khi kết thúc vụ án dân sự, luật sư chỉ được phép nhận khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận theo hợp đồng với khách hàng, không được phép yêu cầu thêm khoản chi phí nào khác ngoài hợp đồng.

Để tìm hiểu thêm thông tin liên quan, mời quý bạn đọc tham khảo bài viết: Luật sư hướng dẫn viết bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong vụ án dân sự, lao động ?, Thù lao luật sư sao cho hợp lý ?

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: "Luật sư tham gia vụ án dân sự được hưởng thù lao bao nhiêu ?". Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.