Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý
Bộ luật dân sự năm 2005 được ban hành vào ngày 14/6/2005 và có hiệu lực áp dụng từ ngày 01/01/2006 đã tạo nên bước tiến quan trọng trong quá trình triển khai kỹ thuật lập pháp của nước ta. Tuy nhiên, thực tế khi áp dụng thì vẫn không tránh khỏi những khó khăn, bất cập cần khắc phục. Chính vì vậy, Bộ luật dân sự năm 2015 ra đời, thay thế những điều khoản không còn phù hợp và tạo nên sự đồng bộ để áp dụng thực tiễn được dễ dàng, hợp lý hơn.
2. So sánh về tài sản giữa Bộ luật dân sự 2005 và Bộ luật dân sự 2015
Điều 163. Tài sản theo Bộ luật dân sự 2005
Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
Trong đó :
- Tài sản là vật
Vật là bộ phận của thế giới vât chất, tồn tại khách quan mà con người có thể cảm nhận bằng giác quan của mình. Xét trong phạm trù pháp lý, vật chỉ có thể trở thành đối tượng của quan hệ pháp luật khi nó được con người kiểm soát và đáp ứng được một nhu cầu nào đó của con người.
Vật trong Bộ luật dân sự dùng để chỉ những vật mà con người có thể chiếm hữu được, chi phối được, có thể cân, đo, đong đếm, xác định được bề rộng, bề dài, theo sự tồn tại và và vật hình thành trong tương lai con người phải khai thác được, sử dụng được phục vụ cho lợi ích của mình. Như vậy, ngoài việc vật đó phải đáp ứng là bộ phận của yếu tố vật chất, đáp ứng được nhu cầu của con người thì vật phải có thực với tính chất là tài sản phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng của quan hệ dân sự.
- Tài sản là tiền
Tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hoá, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác. Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá. Hiện nay chưa có quy định rõ ràng cụ thể làm rõ bản chất pháp lý của tiền. Pháp luật chỉ thừa nhận chỉ có loại tiền có giá trị đang được lưu hành trên thực tế mới được coi là tài sản.
- Tài sản là giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao dịch dân sự. Giấy tờ có gái hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cố phiếu, tín phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu,... Xét về hình thức thì giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định.
- Tài sản là các quyền tài sản
Quyền tài sản được hiểu là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất. Quyền tài sản có những loại như quyền sử dụng đất, quyền chuyển giao tài sản, quyền đòi nợ, quyền sở hữu đối với phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp... Các quyền này có trị giá được bằng tiền.
Điều 105. Tài sản theo Bộ luật dân sự 2015
Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.
Như vậy có thể thấy Bộ luật dân sự năm 2015 cũng có quy định tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản giống với Bộ luật dân sự năm 2005, ngoài ra còn bổ sung thêm là tài sản bao gồm bất động sản và động sản, có thể là tà sản hiện có và hình thành trong tương lai.
- Động sản là những tài sản không phải là bất động sản và theo tính chất thì động sản là những tài sản có thể dịch chuyển mà không làm ảnh hưởng đến công dụng của tài sản.
- Bất động sản là tài sản không di dời được, nếu bị di dời thì công dụng của tài sản không còn hoặc không thể di dời như đất đai. Ngoài ra, bất động sản có thể là những tài sản do pháp luật quy định.
- Tài sản hiện có là những tài sản có đầy đủ công dụng mà có thể khai thác, sử dụng được để phục vụ cho các nhu cầu của con người.
- Tài sản hình thành trong tương lai là những tài sản sẽ hình thành sau khi quan hệ dân sự được xác lập. Hoặc trên thực tế tài sản đã hình thành nhưng chủ sở hữu chưa có quyền sở hữu về mặt pháp lý như căn hộ chưa đăng ký quyền sở hữu
3. So sánh về quyền sở hữu giữa Bộ luật dân sự 2005 và Bộ luật dân sư 2015
Điều 164. Quyền sở hữu - Bộ luật dân sự 2005
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản.
Trong đó có thể hiểu :
- Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản.
- Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản.
- Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó.
Điều 158. Quyền sở hữu - Bộ luật dân sự 2015
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.
Trong đó có thể hiểu :
- Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản. Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu.
- Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
- Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu huỷ tài sản. Pháp luật quy định cá nhân là chủ sở hữu hoặc không phải là chủ sở hữu có quyền định đoạt về tài sản, tuy nhiên để có quyền định đoạt thì phải đáp ứng những điều kiện nhất định về năng lực hành vi và các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Như vậy, có thể thấy khác với quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì Bộ luật dân sự năm 2015 đã ghi nhận và tách quyền chiếm hữu thành một điều luật độc lập, thể hiện cách tiếp cận mới và đặc biệt tiến bộ của các nhà làm luật. Theo đó chế định chiếm hữu được xem là một chế định độc lập so với chế định sở hữu. Việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp và gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản là sự chiếm hữu tài sản thực tế kết hợp với ý chí của người chiếm hữu. Theo chế định này, người chiếm hữu tài sản được suy đoán là ngay tình; người nào cho rằng, người chiếm hữu là không ngay tình thì phải chứng minh. Người nào có tranh chấp với người chiếm hữu thì phải chứng minh rằng người chiếm hữu không có quyền. Người chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai được áp dụng thời hiệu hưởng quyền và được hưởng hoa lợi, lợi tức mà tài sản mang lại theo quy định pháp luật.
Trên đây là toàn thông tin tư vấn Luật Minh Khuê muốn cung cấp đến quý khách hàng. Ngoài ra quý khách có thể tham khảo thêm bài viết So sánh các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 và Bộ luật dân sự năm 2005 để hiểu rõ hơn. Nếu còn bất kỳ vướng mắc nào chưa rõ hoặc cần hỗ trợ vấn đề pháp lý nào khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu trực tiếp đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp nhanh chóng. Rất mong nhận được sự hợp tác của quý khách hàng. Trân trọng !
Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê