1. Ly hôn khi con vẫn đang bú sữa mẹ ?

Thưa luật sư, Tôi năm nay 27 tuổi, tôi kết hôn năm 2013 đến nay tôi có 1 bé gái 8 tháng tuổi, do giữa vợ chồng tôi có nhiều mâu thuẫn nên chúng tôi khó hòa hợp với nhau được, nên tôi đã xin gia đình nhà chồng cho tôi đưa con về bố mẹ đẻ tôi 1 thời gian.

Gia đình chồng tôi không cho con tôi đi theo tôi, giờ hàng ngày tôi vẫn về thăm con nhưng luôn bị gây cản trở và còn bị đe dọa đánh, bố mẹ và chồng tôi về một phe. Tôi không xác định quay lại nữa, vậy luật sư cho tôi hỏi là chưa làm đơn ly hôn thì có cách nào để tôi được đón cháu về để chăm sóc không ạ?

Vì con tôi vẫn bú sữa mẹ, chồng Tôi thì bắt tôi phải viết đơn thì mới cho tôi nuôi con, vậy cho tôi hỏi: Tôi viết đơn thì sẽ có bất lợi gì không ah? án phi phải nộp là bao nhiêu ? con tôi hiện đang ở với bố mẹ chồng tôi nhưng hàng ngày tôi vẫn đến cho con ăn và thăm con như vậy liệu có gây bất lợi gì về quyền nuôi con cho tôi không ah? Tôi có đủ khả năng để nuôi con, về chỗ ăn chỗ ở, sau khi sinh con tôi chưa đi làm nên không có lương hàng tháng nhưng tôi đi làm lại ạ!

Ngườ hỏi: Thanhloan

Ly hôn khi con vẫn đang bú sữa mẹ ?

Luật sư giải đáp pháp luật hôn nhân, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành.

Trường hợp hai vợ chồng bạn thuận tình li hôn Tòa án sẽ căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 để giải quyết

Điều 55. Thuận tình li hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Trường hợp, bạn hoặc vợ bạn đưa ra yêu cầu ly hôn Tòa án sẽ căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 để giải quyết

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn được quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Vì con bạn được 8 tháng tuổi nên con bạn sẽ được giao cho bạn trực tiếp nuôi, trừ trường hợp bạn không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Án phí ly hôn theo quy định của pháp luật là 300.000 Việt Nam đồng. Nếu có liên quan đến việc chia tài sản thì bạn phải chịu thêm mức án phí tương ứng tỉ lệ với tài sản được chia theo qui định của pháp luật. Tài sản được chia không phải là thu nhập, do đó bạn không phải chịu thuế thu nhập cá nhân.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Nghĩa vụ cấp dưỡng và mức cấp dưỡng khi ly hôn ?

Xin chào Luật Minh Khuê ! Anh A ly dị vợ để kết hôn với tôi nhưng không có đăng ký. Tôi đã có cháu 2 tuổi trên giấy khai sinh của cháu cũng có tên anh A là bố. Nhưng hiện nay anh bỏ đi chung sống như vợ chồng với người khác không cấp dưỡng cho mẹ con tôi.

Tôi có yêu cầu anh A cấp dưỡng cho mẹ con tôi được không ? Và mức cấp dưỡng như thế nào ?

Mong Luật sư tư vấn giúp tôi !

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, bạn và anh A chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn cho nên về mặt pháp lý các bạn không phải là vợ chồng hợp pháp.
Căn cứ Điều 14
Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này".

Tuy nhiên các bạn đã có với nhau một người con và theo quy định của pháp luật hiện hành thì quan hệ giữa cha, mẹ với con không phụ thuộc vào việc cha mẹ có quan hệ vợ chồng hợp pháp hay không.

Hơn nữa tại Điều 15 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như sau:

"Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.''

Trong trường hợp này thì anh A có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con tương tự như trường hợp cấp dưỡng giữa cha, mẹ đối với con khi ly hôn theo Điều107, Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.

- Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này.

Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
Thứ hai, nêu Anh A không thực hiện nghĩa vụ này thì bạn hoàn toàn có thể nhờ pháp luật can thiệp.

Hồ sơ yêu cầu cấp dưỡng sau khi ly hôn bao gồm :

- Đơn khởi kiện về việc cấp dưỡng;

- Bản sao có chứng thực giấy chứng minh nhân dân;

- Bản sao có chứng thực sổ hộ khẩu;

- Chứng cứ chứng minh thu nhập của Anh A;

- Bản sao có chứng thực giấy sinh của con.

Hiện nay, pháp luật không có quy định cụ thể về mức cấp dưỡng tối đa hay tối thiểu là bao nhiêu. Tuy nhiên, căn cứ Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về mức cấp dưỡng nuôi con như sau:

“Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.”

Như vậy, đối với mức cấp dưỡng, pháp luật ưu tiên hai bạn tự thỏa thuận với nhau về mức cấp dưỡng cho con cho phù hợp. Trường hợp không tự thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định một mức cấp dưỡng phù hợp căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.

Căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của Anh A hoặc nhu cầu tối thiểu của con, hai bạn có thể thỏa thuận để thay đổi mức cấp dưỡng sao cho phù hợp, nếu hai bên không thỏa thuận được với nhau thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Tư vấn chia tài sản khi ly hôn theo công sức đóng góp ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi và chồng kết hôn năm 2012, đến tháng 9 năm 2014 thì tôi phát hiện chồng tôi có người thứ 3. Tôi đã tha thứ và chồng tôi cũng hứa sẽ chấm dứt và cố gắng cho gia đình hạnh phúc hơn. Nhưng do tính đa nghi, tôi vẫn nghĩ là chồng tôi vẫn còn qua lại với cô ta nên tôi âm thầm quan sát hành động của chồng tôi và đúng như tôi dự tính,anh ta vẫn còn qua lại với cô ấy.

Tôi đã bắt gặp anh ta và cô ấy tại phòng trọ của cô ta, ngoài ra tôi còn bắt gặp hai người đó qua lại vài lần. Tình cảnh gia đình tôi ngày càng căng thẳng, anh ta tìm mọi cách để đuổi tôi ra khỏi nhà. Ngày tôi quyết định về nhà cha mẹ sống, anh ta nói tiền vàng khi cưới lúc trước đều cho tôi. Khi đó tôi không chịu nổi sự ruồng rẩy của anh ta nên mới quay về nhà cha mẹ và sợ anh ta đưa tiền cho cô ấy nên tôi cầm hai quyển sổ tiết kiệm đưa về nhà (1 sổ do anh ta đứng tên 85 triệu, 1 sổ do tôi đứng tên 75 triệu). Sau khi về nhà được ít hôm thì anh ta nằng nặc đòi lại quyển sổ 85 triệu, tôi đã trả lại anh ta. Còn quyển sổ 75 triệu tôi vẫn giữ nhưng sau này do buồn chuyện gia đình ngày càng không thể cứu vãn nên tôi đã rút tất cả số tiền trên ra đi du lịch. Hiện nay, vợ chồng tôi còn lại 1 số vàng ( 1 cây vàng là do khi gả tôi đi cha mẹ tôi cho tôi làm của hồi môn và 1 cây vàng do nhà anh ta làm sính vật đi cưới tôi, hiện tất cả số vàng trên mẹ chồng tôi đang giữ).

Luật sư cho tôi hỏi: Bây giờ chồng tôi muốn ly hôn và tôi cũng đồng ý vì tôi quá mệt mỏi, tôi về nhà cha mẹ sống hơn nửa năm mà anh ta không đóai hoài. Vậy số vàng trên sẽ được phân chia như thế nào ? Và số tiền trong sổ tiết kiệm 75 triệu do tôi đứng tên( nhưng là tiền của anh ta, vì anh ta làm nhiều tiền hơn, tiền lương tôi đi làm thì chỉ lo sinh hoạt gia đình) nhưng giờ tôi đã xài hết, nếu anh ta tranh chấp thì tôi có đền lại số tiền đó không ? Vì khi trước anh ta nói là cho tôi, chỉ lấy lại sổ 85 triệu thôi, nên trong lúc buồn tôi đã dùng hết số tiền đó để đi đây đó cho khuây khoả. Nhờ luật sư giải đáp thắc mắc trên dùm tôi.

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: T.L

Tư vấn chia tài sản khi ly hôn theo công sức đóng góp ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Trả lời:

1. Phân chia số vàng.

Theo như bạn nói thì số vàng của bạn có nguồn gốc là của hồi môn của bạn được bố mẹ đẻ cho trước khi đi lấy chồng, và là sính lễ xin cưới của nhà trai, cho nên chúng tôi xác định đó là tài sản riêng của bạn.

Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản riêng như sau:

"1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này".

Áp dụng điều luật trên, số vàng của bạn được xác định là tài sản được tặng cho riêng. Bởi:

- Thứ nhất, đối với số vàng là của hồi môn của bố mẹ đẻ bạn cho bạn trước khi lấy chồng đương nhiên là việc cho riêng bạn và thuộc tài sản riêng của bạn.

- Thứ hai, đối với số vàng là sính lễ xin cưới của nhà trai được xác định là tặng cho riêng cô dâu - tức là bạn, nên nó thuộc tài sản được tặng cho riêng và là tài sản riêng của bạn.

Tất cả số vàng này hiện do mẹ chồng bạn đang giữ không đồng nghĩa với việc nó trở thành tài sản chung vợ chồng, nguồn gốc của số vàng này vẫn là từ việc bạn được tặng cho riêng. Do đó, khi ly hôn, số vàng này sẽ không được coi là tài sản chung của vợ chồng để phân chia.

2. Đối với cuốn sổ tiết kiệm 75 triệu đồng.

Cuốn sổ tiết kiệm 75 triệu đồng do bạn đứng tên không đồng nghĩa với việc nó là tài sản riêng của bạn, và cuốn sổ tiết kiệm 85 triệu đồng do chồng bạn đứng tên cũng vậy. Như thông tin bạn cung cấp, nguồn gốc của các cuốn sổ tiết kiệm này là do thu nhập hàng tháng của chồng bạn (còn thu nhập của bạn đã dùng vào sinh hoạt gia đình), do đó nó hoàn toàn được coi là tài sản chung của vợ chồng.

Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

"Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung".

Nếu khi ly hôn, vợ chồng bạn có tranh chấp, thì cả 2 cuốn sổ tiết kiệm với số tiền 75 triệu và 85 triệu đồng đều được xác định là tài sản chung và được phân chia. Khi phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn có xem xét đến công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn theo quy định mới năm 2020 ?

4. Làm thủ tục nhận con sau khi đã ly hôn ?

Thưa Luật sư, năm 2013 ông A có làm thủ tục ly dị với chị B, sau đó đăng ký kết hôn cùng chị C (có 01 con chung với chị C). Hiện nay (tháng 2/2016), chị B có sinh một bé gái (chưa làm giấy khai sinh) là con ruột của ông A. Tôi muốn hỏi vậy bây giờ ông A có thể làm thủ tục nhận con được không? Thủ tục để em bé mang họ cha trong giấy khai sinh? Ông A có vi phạm quy định pháp luật không khi hiện tại đăng ký giấy kết hôn với bà C?
Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

Làm thủ tục nhận con sau khi đã ly hôn ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, thủ tục nhận con:

Theo quy định tại điều 15, Luật hộ tịch năm 2014:

"3. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 của Luật Hộ tịch thì Ủy ban nhân dân kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh; nội dung đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.

4. Trường hợp trẻ chưa xác định được mẹ mà khi đăng ký khai sinh cha yêu cầu làm thủ tục nhận con thì giải quyết theo quy định tại Khoản 3 Điều này; phần khai về mẹ trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ em để trống.".

Điều 11, Thông tư số 15/2015/TT-BTP hướng dẫn Luật hộ tịch và Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định các chứng cứ chứng minh như sau:

"Điều 11. Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con

Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều 44 của Luật hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

2. Trường hợp không có văn bản quy định tại khoản 1 Điều này thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.

Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm giải thích rõ trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.

Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết theo quy định tại Điều 5 của Thông tư này hoặc hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.".

Thứ hai, ông A muốn đổi họ cho con.

Em bé muốn mang họ cha thì ông A phải làm thủ tục thay đổi họ cho con. Thủ tục thay đổi hộ tịch quy định tại điều 28, Luật hộ tịch năm 2014:

"Điều 28. Thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch

1. Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn.

Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.

3. Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch.

Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.".

Thứ ba, ông A đăng ký kết hôn với bà C không trái với quy định của pháp luật vì ông B đã ly hôn với bà A và được pháp luật công nhận.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn giải quyết tranh chấp tài sản trước khi ly hôn?

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

5. Ly hôn khi chưa đăng ký kết hôn ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Chị tôi có cưới hỏi và có với anh rể tôi một đứa con chung 3 tuổi nhưng không chung sống nhà ai người đó ở không đăng ký kết hôn vi chị tôi có tiền sử bệnh viêm màng não tuy hai người không ở chung với nhau nhưng anh ấy luôn đánh đập chị tôi.

Chị tôi không biết chữ chị tôi muốn chia tay hoặc ly hôn hai người chỉ có con chung ngoài ra( không có nợ chung ,không tài sản chung) theo luật sư tư vấn giúp tôi phải làm những thủ tục gì ?

Tôi xin trân thành cảm ơn!

Người gửi: Minh nguyen

Ly hôn khi chưa đăng ký kết hôn ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Luật hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn”.

“Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ”.

Theo đó, gia đình bạn có thể làm hồ sơ giúp chị bạn để yêu cầu ly hôn trong trường hợp này. Hồ sơ bao gồm:

+ Đơn xin ly hôn;

+ Giấy xác nhận của địa phương về quá trình chung sống của 2 người;

+ Chứng minh nhân dân của vợ, chồng;

+ Giấy khai sinh của con chung (bản sao có công chứng);

+ Giấy tờ chứng nhận về quyền sở hữu tài sản (trong trường hợp vợ chồng có yêu cầu tòa án chia tài sản chung của vợ chồng).

- Thẩm quyền giải quyết ly hôn: Hai bên có quyền thỏa thuận, lựa chọn nộp đơn kiện tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết: TAND quận (huyện) nơi cả hai bên hoặc một trong các bên có hộ khẩu thường trú, tạm trú. Nếu 2 bên có hộ khẩu thường trú ở 2 nơi khác nhau thì đơn kiện sẽ nộp tại TAND quận (huyện) nơi bị đơn có hộ khẩu thường trú, tạm trú (điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015) giải quyết.

Đối với con chung của hai người, việc giải quyết sẽ căn cứ Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”.

"Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”.

"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ”.

"Điều 85. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này”.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng cám ơn!

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?