1. Ly hôn muốn giành quyền nuôi con khi chồng hay nhậu nhẹt?

Kính chào luật sư, tôi năm nay 34 tuổi, kết hôn từ năm 2014, và đã có hai con chung, bé gái lớn được 03 tuổi, bé trai 01 tuổi. Vợ chồng tôi gần như ly thân được gần nửa năm. Vì tính ông ấy hay ăn hay nhậu, anh ấy làm việc cho xưởng của gia đình, lấy lương hàng tuần. Chiều cũng có ngày chạy grab bike kiếm thêm.
Tiền bạc làm cũng có đưa hết cho tôi nhưng vẫn không bỏ được tật xấu là nhậu nhẹt. Ăn nhậu toàn với mấy người anh em bên chồng tôi. Tôi và bên chồng đã nhiều lần xích mích về vấn đề này. Họ rủ rê anh ấy ăn nhậu mặc kệ giờ giấc. Mặc kệ vợ chồng tôi có mâu thuẫn tột cùng đến đâu. Ba mẹ chồng tôi cũng mặc kệ, chỉ lên tiếng bênh vực những người con của họ thôi. Luôn trách cứ tôi là không biết cách sống và không biết điều. Tôi bất mãn lắm. Mỗi lần chồng tôi đi ăn nhậu về là vợ chồng tôi xảy ra mâu thuẫn.
Tôi nản lắm muốn chấm đứt quan hệ vợ chồng để chú tâm làm việc và nuôi con cái. Nhưng ngặt là chồng tôi lại muốn giành quyền nuôi bé gái. Tôi không đồng ý, vì thật sự chồng tôi không thể nuôi và chi ỷ lại ở ba mẹ chồng tôi là đem bé con tôi về quê cho ông bà giữ. Ba mẹ chồng tôi đã gần 70 tuổi, sống nhờ vào tiền của những người con. Tôi muốn giành quyền nuôi cả hai con có được không?
Mong sớm nhận được phản hồi của công ty, tôi xin cảm ơn!
Youtube video

Tư vấn ly hôn: Ai được quyền nuôi con - Cafe sáng VTV3

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014quy định về Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về Ly hôn theo yêu cầu của một bên:

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp, vợ chồng bạn hiện nay đang có rất nhiều mâu thuẫn không chỉ mâu thuẫn của hai vợ chồng mà còn có mâu thuẫn giữa bạn và gia đình chồng của bạn. Chồng bạn thường xuyên nhậu nhẹt, rượu chè, không quan tâm đến vợ con, cũng như không chăm chỉ làm ăn để kiếm thu nhập để chăm lo cho cả các con. Do vậy, bạn muốn ly hôn với chồng bạn thì bạn có thể một mình làm đơn ly hôn với chồng bạn hoặc bạn thỏa thuận với chồng bạn về vấn đè ly hôn để cả hai vợ chồng cùng làm đơn ly hôn nộp cho Tòa án để yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.

Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo như thông tin bạn cung cấp, bạn có hai người con chung: cháu lớn được 03 tuổi, cháu thứ hai được 01 tuổi. Chồng bạn cũng muốn giành quyền nuôi con sau khi ly hôn với bạn, thậm chí chồng bạn còn muốn giành quyền nuôi cháu gái. Lúc này, bạn có thể được Tòa án giao cho trực tiếp nuôi con khi bạn thuộc một trong các trường hợp sau:

Một là, bạn có thể thuyết phục chồng bạn để chồng bạn chấp nhận đồng ý giao con cho bạn nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn. Mặc dù, bạn là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con ly hôn nhưng chồng bạn vẫn có thể đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn mà bạn không được phép ngăn cản.

Hai là, chồng bạn không đồng ý ly hôn thì bạn buộc phải chứng minh được mình có đủ điều kiện, có đủ khả năng để trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn tốt hơn chồng bạn để có thể chăm sóc, nuôi dưỡng tốt nhất cho cả hai người con. Cụ thể:

- Đối với cháu thứ hai mới được 01 tuổi. Lúc này, con dưới 36 tháng tuổi, Tòa án sẽ giao cho người mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn. Bạn chỉ cần đưa ra những bằng chứng như hợp đồng lao động, các giấy tờ chứng minh thu nhập ổn định hoặc các tài sản, đất đai, nhà cửa, ô tô để chứng minh bạn đủ khả năng để nuôi dưỡng con.

- Đối với cháu gái đầu được 03 tuổi. Bạn không nói rõ là cháu đã đủ 03 tuổi hay chưa. Do đó, nếu cháu chưa đủ 03 tuổi thì bạn đương nhiên được ưu tiên trực tiếp nuôi cháu sau khi ly hôn. Còn trong trường hợp con bạn đã đủ 03 tuổi thì giữa bạn và chồng bạn có quyền ngang nhau trong việc giành quyền nuôi con. Về phía bạn thì cần chứng minh bạn có điều kiện tốt hơn chồng bạn, còn phía chồng bạn thì bạn đưa ra những hình ảnh, video, băng ghi âm, ghi hình hoặc những người làm chứng để chứng minh chồng bạn không quan tâm vợ con, suốt ngày nhậu nhẹt, rượu chè, không thay đổi kể cả khi bạn khuyên ngăn. Bên cạnh đó, bạn cũng cần chứng minh, phía gia đình chồng bạn, đặc biệt là bố mẹ chồng không có đủ khả năng, đủ sức khỏe để chăm sóc cho con bạn.

Như vậy, tùy thuộc vào thỏa thuận của hai vợ chồng bạn, cũng như phụ thuộc vào những bằng chứng mà bạn và chồng bạn nêu ra thì Tòa án sẽ giao con cho người có đủ khả năng, đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn.

>> Tham khảo thêm nội dung liên quan: Hai vợ chồng có được thỏa thuận quyền nuôi con trước khi sinh không ?

>> Xem thêm:  Ly hôn khi vừa đăng kí kết hôn được 2 ngày ? Có yêu cầu hủy hôn được không ?

2. Tư vấn về quyền nuôi con khi lấy chồng Malaysia?

Thưa luật sư, Tôi có câu hỏi mong được Luật sư tư vấn: Tôi lấy chồng ở Malaysia, 2 vợ chồng tôi có một con chung, năm nay cháu 1 tuổi. Tôi không đi làm mà chỉ ở nhà làm nội trợ. Sắp tới tôi muốn ly hôn, vậy tôi có đủ điều kiện để được quyền nuôi con hay không?
Tôi xin chân thành cảm ơn.

Tư vấn về quyền nuôi con khi lấy chồng Malaysia?
Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì bạn lấy chồng ở Malaysia nhưng bạn không nói rõ hiện tại bạn đã về sinh sống tại Việt Nam hay vẫn sinh sống, thường trú ở Malaysia. Theo quy định tại Điều 127 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì:

"Điều 127. Ly hôn có yếu tố nước ngoài

1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này.

2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.".

Như vậy trong trường hợp của bạn áp dụng như sau :

- Nếu bạn và chồng có nơi thường trú chung tức là cùng ở Malaysia thì cần xem xét pháp luật Malaysia để xác định ai trong 2 vợ chồng bạn được quyền nuôi con.

- Nếu bạn và chồng không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam. Tức là trong trường hợp này áp dụng theo Luật hôn nhân gia đình 2014. Theo đó, theo quy định tại Điều 81 quyền nuôi con được xác định :

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.".

Trường hợp của bạn, con bạn một tuổi nên quyền nuôi con sẽ thuộc về bạn. Bạn ở nhà nội trợ nhưng bạn chứng minh yếu tố đó không ảnh hưởng đến việc bạn trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bạn vẫn được Tòa án giao con cho trực tiếp nuôi dưỡng.

>> Tham khảo thêm: Có giành lại quyền nuôi con khi thời kỳ ly thân con ở với Bố ?

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin ly hôn bản cập nhật mới nhất năm 2021 ? Hướng dẫn cách viết đơn xin ly hôn

3. Tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn ?

Cho em hỏi theo trường hợp của em: Con em 4 tuổi nhưng lúc sanh đến giờ đều gửi bà ngoại thì quyền nuôi con sẽ thuộc về ai. Vì hiện tại chồng em còn đi học, đi suốt tuần. E thì đi làm công ty ?
Mong luật sư tư vấn dùm em. E cảm ơn ạh.

Luật sư trả lời:

Chào bạn, Luật Minh Khuê xin được trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014 có quy định:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Trường hợp: Bạn trực tiếp thỏa thuận với chồng về việc bạn sẽ nuôi bé sau khi ly hôn. Nếu chồng bạn đồng ý thì đương nhiên bạn sẽ được quyền nuôi bé bởi pháp luật luôn ưu tiên sự thỏa thuận giữa bố và mẹ. Chúng tôi nghĩ rằng bạn nên thực hiện phương án này trước khi yêu cầu Tòa phân chia quyền nuôi con để thủ tục ly hôn được nhanh chóng hơn.

Nếu hai người không muốn thỏa thuận hoặc không thể thỏa thuận được thì bạn phải yêu cầu Tòa án giải quyết. Theo quy định của pháp luật, Tòa sẽ căn cứ trên tất cả các phương diện từ vấn đề kinh tế cho đến vấn đề tình cảm để xem ai có thể đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho con thì sẽ giao con cho người đó trực tiếp nuôi dưỡng. Vì bé mới được 4 tuổi, nên tòa án sẽ không cần xem xét nguyện vọng của bé muốn ở với ai. Vì vậy, nếu bạn muốn được nuôi bé thì bạn cần phải chứng minh được rằng bạn có điều kiện chăm lo cho con tốt hơn; đồng thời, bạn cũng có thể đưa ra các căn cứ về việc chồng bạn không đủ điều kiện để nuôi các con.

Vậy muốn giành quyền nuôi con, bạn phải chứng minh mình có điều kiện nuôi con hơn chồng của bạn. Những điều kiện cần chứng minh là về vật chất và tinh thần cụ thể như sau:

- Điều kiện về vật chất (kinh tế):

Chị phải chứng minh được mình có đầy đủ các điều kiện về vật chất như:

+ Thu nhập thực tế

+ Công việc ổn định

+ Có chỗ ở ổn đinh(nhà ở hợp pháp)

+ ... và các vấn đề khác.

Theo đó bạn phải có điều kiện về tài chính hơn so với chồng, mức thu nhập, nơi cư trú của bạn phải đủ để đảm bảo điều kiện về nuôi dưỡng, học tập và vui chơi cho cháu bé.

Để chứng minh được vấn đề này bạn cần cung cấp cho Toà án những giấy tờ như: hợp đồng lao động, bảng lương, giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu đất, sở hữu nhà (sổ đỏ),...

- Điều kiện về tinh thần:

Các điều kiện về tinh thần bao gồm: thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi, giải trí, nhân cách đạo đức của cha mẹ...

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm nội dung: Vợ có được quyền nuôi con khi chồng cũ lấy vợ mới ?

>> Xem thêm:  Có thể ủy quyền để ly hôn được không ? Những lưu ý khi ly hôn ?

4. Giành quyền nuôi con khi chồng bạo hành gia đình ?

Thưa luật sư, Vợ chồng tôi kết hôn được 5 năm và có 1 cháu 4 tuổi. Gần đây vợ chồng tôi có gây gổ và vợ tôi có thái độ không tôn trọng gia đình tôi và tôi có đánh vợ, nhưng chỉ cảnh cáo thôi không gây thương tích gì cả. Vợ tôi liền bỏ ra nhà mẹ cũng được 1 tháng.

Trong thời gian đầu vợ tôi có cho tôi gặp con, nhưng mấy ngày gần đây thì vợ tôi nghe lời mẹ không cho tôi gặp con. Trong thời gian chung sống tôi nghi ngờ vợ tôi có người khác, lạnh nhạt và luôn kiếm chuyện với tôi nhưng tôi chưa tìm được bằng chứng. Nếu ra tòa thì tôi có được bao nhiêu phần trăm giành quyền nuôi con, mong được luật sư tư vấn cho tôi ?

Tôi cảm ơn.

Dành quyền nuôi con khi chồng bạo hành gia đình ?

Luật sư trả lời:

Theo Điều 5 Luật phòng chống bạo lực gia đình 2007quy định về Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình:

"Điều 5. Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình

1. Nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;

b) Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này;

c) Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;

d) Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật này;

đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Nạn nhân bạo lực gia đình có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu".

Căn cứ vào những quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật để bạn có thể sẽ bị xử phạt nếu vợ bạn chứng mình được bạn đánh cô ấy.

Theo Điểm a Khoản 1 Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình 2007 quy định:

"1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng".

Hành vi của chồng bạn sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 49 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

"Điều 49. Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.
2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;
b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này".

Đối với trường hợp này, bạn rất khó có được quyền nuôi con.

Trừ khi bạn chứng minh được vợ bạn ngoại tình, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, thì bạn mới có khả năng dành được quyền nuôi con.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm: Vợ muốn ly hôn và giành quyền nuôi con thì phải làm thế nào ?

>> Xem thêm:  Vợ ngoại tình thì bị xử phạt như thế nào ? Nghi ngờ vợ ngoại tình có ly hôn được không ?

5. Quyền nuôi con sau khi ly hôn thuộc về ai?

Bây giờ tôi muốn làm đơn ly hôn mà chồng tôi không có mặt để giải quyết thì tôi phải làm sao. Trong khi chúng tôi đã sống ly thân được 3 năm. Con gái được 4 tuổi vẫn được tôi nuôi từ nhỏ. Xin hỏi ly hôn tôi có được nuôi dưỡng con không. Thủ tục ly hôn cần những gì?

Quyền nuôi con sau khi ly hôn thuộc về ai?

Trả lời:

Theo Luật Hôn nhân và gia đình, tại Điều 56 quy định:

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Khi muốn ly hôn đơn phương bạn phải có căn cứ theo quy định trên để tòa thụ lý giải quyết ly hôn đơn phương cho bạn. Bạn nộp hồ sơ ly hôn đơn phương tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chồng bạn đang cư trú. Hồ sơ ly hôn đơn phương gồm:

- Đơn khởi kiện ly hôn đơn phương (Theo mẫu);

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- CMND và hộ khẩu;

- Giấy khai sinh các con;

- Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung ( nếu có)

Trường hợp ly hôn đơn phương mà chồng bạn không có mặt sẽ giải quyết theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự như sau:

Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật:

b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét vắng mặt họ;

c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;

d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;

đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Điều 228. Xét sử trong trường hợp đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt tại phiên tòa

Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây:

1. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt;

2. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa;

3. Các trường hợp quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật này.

Như vậy, căn cứ vào các quy định trên, trường hợp Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà chồng bạn vắng mặt thì Tòa án sẽ hoãn phiên xét xử. Nếu được Tòa triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa sẽ tuyên bố xét xử vắng mặt.

Về vấn đề người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

" 2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo đó, con bạn đã được 4 tuổi, trước tiên Tòa sẽ tôn trọng sự thỏa thuận của vợ và chồng về người trực tiếp nuôi con. Trường hợp không thỏa thuận được ( trường hợp của bạn chồng bạn vắng mặt nên sự thỏa thuận gần như là không đạt được) thì Tòa sẽ căn cứ vào quyền lợi của con để quyết định giao con cho vợ hoặc chồng. Tòa xem xét dựa trên các tiêu chí như: điều kiện kinh tế( thu nhập, chỗ ở,...); môi trường sống; quỹ thời gian giành cho con; tình cảm, trách nhiệm đối với con;.... để quyết định giao con cho bên đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho con. Bạn phải chứng minh trước Tòa rằng bạn hoàn toàn có điều kiện để được nhận nuôi con và nếu con sống chung với bạn sẽ có cơ hội được phát triển tốt nhất về thể chất cũng như tinh thần. Đồng thời bạn cũng có thể chỉ ra những căn cứ để cho thấy chồng bạn không đủ điều kiện để nuôi con ( như chồng bạn và con đã không sống chung từ lâu, chồng bạn không thực hiện trách nhiệm của cha đối với con, không quan tâm, chăm sóc con,....). Khi đó Tòa sẽ căn cứ vào tất cả những yếu tố đó để quyết định người được trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

>> Xem thêm nội dung tư vấn: Trong bản án ly hôn vợ là người nuôi con, sau này chồng có thể giành lại quyền nuôi con không ?

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quy định của luật hôn nhân gia đình về quyền nuôi con sau khi ly hôn ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Nguyên nhân từ đâu mà tình trạng hôn nhân trong giới trẻ ngày càng gia tăng như vậy?

Trả lời:

Thứ nhất: do họ thiếu kỹ năng sống, chưa có sự chuẩn bị về tâm lý, kinh tế, sức khỏe và những hiểu biết cần thiết cho cuộc sống gia đình, quá đề cao cái tôi của bản thân, ít quan tâm đến chồng hoặc vợ, khiến phần lớn các cặp vợ chồng trẻ nảy sinh mâu thuẫn ngay từ những tháng đầu, năm đầu của cuộc hôn nhân. Trong khi đó nhận thức về cuộc sống gia đình, ý nghĩa của hôn nhân và tình yêu còn hời hợt đã khiến họ không đủ bản lĩnh và kỹ năng giải quyết, vượt qua các mâu thuẫn, dẫn đến ly hôn. Chiếm một phần trong số các cặp ly hôn là do họ kết hôn ngoài ý muốn khi những hiểu biết về kiến thức giới tính có phần hạn chế.

Thứ hai: do kinh tế khó khăn, nghề nghiệp không ổn định, thu nhập bấp bênh, sinh con sớm khiến vợ chồng thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, không tập trung đồng thuận để xây dựng kinh tế gia đình, nuôi dạy con cái. Hầu hết trong các Quyết định công nhận thuận tình ly hôn đều thể hiện các cặp vợ chồng đến xin ly hôn không có tài sản chung.

Và còn một số nguyên do đjăc biết khác

Câu hỏi: Quan hệ về con chung

Trả lời:

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con

Câu hỏi: hứng cứ và chứng minh

Trả lời:

Nghĩa vụ chứng minh

Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.

Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh.

Cá nhân, cơ quan tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó.

Những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh

Những tình tiết, sự kiện sau đây không phải chứng minh:

Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Toà án thừa nhận;

Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật;

Những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp.

Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh.

Đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự.

Chứng cứ

Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Toà án hoặc do Toà án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định mà Toà án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự.

Nguồn chứng cứ

Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:

Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được;

Các vật chứng;

Lời khai của đương sự;

Lời khai của người làm chứng;

Kết luận giám định;

Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;

Tập quán;

Kết quả định giá tài sản;

Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.

Xác định chứng cứ

Các tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận.

Các tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.

Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc.

Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình theo quy định hoặc khai bằng lời tại phiên toà.

Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định và có chữ ký của các thành viên tham gia thẩm định.

Tập quán được coi là chứng cứ nếu được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận.

Kết quả định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định hoặc văn bản do chuyên gia về giá cả cung cấp theo quy định.

Giao nộp chứng cứ

Trong quá trình Toà án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Toà án; nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Việc đương sự giao nộp chứng cứ cho Toà án phải được lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ. Trong biên bản phải ghi rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của chứng cứ; số bản, số trang của chứng cứ và thời gian nhận; chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người nhận và dấu của Toà án. Biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào hồ sơ vụ việc dân sự và một bản giao cho đương sự nộp chứng cứ giữ.

Đương sự giao nộp cho Toà án chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.

Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án chia theo quy định của pháp luật

Trongtrường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định chung.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.