1. Lý luận về công việc lãnh đạo của H. Room
Lý luận về công việc lãnh đạo mà H. Room trình bày trong cuốn sách của H. Room chủ yếu là nghiên cứu một khía cạnh của hành vi lãnh đạo.
Khía cạnh đó là mức độ chia sẻ quyền ra quyết định quản lý giữa người lãnh đạo với cấp dưới, nghiên cứu việc lựa chọn phương thức lãnh đạo hoặc phương thức ra quyết định quản lý thích hợp trong những điều kiện chủ quan và khách quan nhất định.
Ông nhấn mạnh, tất cả những nhà quản lý đều là những người ra quyết định quản lý. Trình độ của nhà quản lý cao hay thấp chủ yếu thể hiện ở chỗ những quyết định quản lý mà họ đưa ra có bao nhiêú cái là đúng. Đồng thời, việc nhà quản lý có thể dưa ra những quyết định đúng đắn hay không lại phụ thuộc vào phương thức quản lý mà họ sử dụng, phụ thuộc vào việc sử dụng những trợ lý thích hợp để giải quyết vấn đề.
Cuốn sách còn vạch rõ, ra quyết định quản lý là một quá trình xã hội. H. Room cho rằng, nhiệm vụ hàng đầu của nhà quản lý là xác định việc giải quyết vấn đề như thế nào, chứ không phải là xác định phương án cụ thể để giải quyết vấn đề. Trong toàn bộ cuốn sách đó, H. Room muốn giải đáp hai vấn đề quan trọng. Nhà quản lý phải áp dụng trình tự ra quyết định như thế nào để xử lý một cách hữu hiệu những vấn đề gặp phải trong công việc? Nhà quản lý đang áp dụng trình tự ra quyết định như thế nào trong thực tế trước mắt để xử lý những vấn đề gặp phải trong công việc và những nhân tố ảnh hưởng đến việc nhà quản lý quyết định để cho cấp dưới tham gia quyết sách ớ mức nào đó là gì? H. Room gọi vấn đề thứ nhất là vấn đề mang tính quy phạm hoặc tính xác định. Sự lý giải và phân tích vấn đề này có thể cấu thành mô hình quy phạm nhằm lựa chọn phương thức ra quyết định hoặc phong cách lãnh đạo, với tư cách là một quá trình xã hội. Còn vấn đề thứ hai là vấn đề mang tính miêu tả, bới vì vấn đề này đề cập đến việc nhà quản lý đã làm như thế nào trong hoàn cảnh thực tế, chứ không đề cập đến việc nhà quản lý phải làm gì và phải làm như thế nào.
2. Trường phái nghiên cứu của các học giả trung Quốc cổ đại và hiện đại về lãnh đạo
Lãnh đạo được hiểu là một quá trình ảnh hưởng mang tính xã hội trong đó lãnh đạo tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của cấp dưới nhằm đạt mục tiêu của tổ chức. Lãnh đạo là quá trình sử dụng và phối hợp hoạt động của các cá nhân trong tổ chức bằng cách gây ảnh hưởng và dẫn đắt hành vi của cá nhân hay nhóm người nhằm hướng tới mục tiêu của tổ chức. Lãnh đạo là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong khoa học về tổ chức - nhân sự.
Đối với các công trình của các triết gia Trung Hoa cổ đại và các học giả Trung Quốc hiện đại về lý luận lãnh đạo, quản lý
Xuất phát là 3 nhà sáng lập 3 trường phái chính là đức trị, pháp trị, vô vi là Khổng Tử, Hàn Phi Tử, Lão Tử... Nhóm công trình này tập trung thể hiện quan điểm, tư tưởng lãnh đạo chính trị và thuật trị dân, trị nước như Khổng Tử với Luận ngữ, Đại học,Trung dung; Lão Tử với Đạo đức kinh, Hàn Phi với Hàn Phi tử. Ở Việt Nam, nguồn tư liệu này được xuất bản qua sự chú giải của các học giả như Ngô Tất Tố, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Đăng Thục, Vũ Khiêu, Phan Ngọc...
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện đại như Phùng Hữu Lan (bộ sách Lịch sử Triết học Trung Quốc), Hồ Thích (sách Trung Quốc triết học sử đại cương), Quách Mạt Nhược (sách Nghiên cứu xã hội cổ đại Trung Quốc), Phạm Văn Lan, Lâm Ngữ Đường... đã thể hiện sự phong phú, sâu sắc, đặc sắc và cả mặt hạn chế của nền triết học Trung Quốc, trong đó có nhiều tư tưởng triết học về chính trị và quản lý xã hội.
Trung Quốc thời hiện đại có nhiều công trình nghiên cứu chính trị, xã hội từ quan điểm của dân tộc, quốc gia, tuy nhiên, lại không có lý luận quản lý, lãnh đạo có tầm ảnh hưởng với thế giới. Họ cũng phải sang các nước tiên tiến học tập, phải nhập khẩu và sử dụng nhiều giáo trình, sách chuyên khảo từ Mỹ, Tây Âu... trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp, lãnh đạo tổ chức và quản lý hành chính công.
3. Trường phái nghiên cứu của nước như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản về quản lý, lãnh đạo
Đối với các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý, lãnh đạo từ các nước: Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản đó chính là các nước phát triển.
Thứ nhất, ta có thể nói đến: Trường phái Quản lý theo khoa học, tiêu biểu là F. Taylor với các công trình nghiên cứu Quản lý phân xưởng(1903); Hệ thống định mức sản phẩm và nghệ thuật cắt gọt kim loại(1906); Các nguyên tắc của quản lý theo khoa học(1911). Quản lý theo khoa học đã thực hiện tách chức năng của “nhà quản lý” khỏi vai trò, chức năng của “ông chủ” và làm cho công việc quản trị sản xuất trở nên thông minh hơn, có hiệu suất cao hơn nhiều so với quản lý truyền thống. Các nguyên tắc bảo đảm cho hoạt động quản lý thực hiện một cách khoa học được ông đề xuất, như: tiêu chuẩn hóa công việc, chuẩn hóa thao tác, quy trình làm việc, chuyên môn hóa lao động, có công cụ và môi trường lao động thích hợp... vẫn đang được áp dụng rộng rãi trong quản trị hiện đại. Song, cách tiếp cận, tư tưởng “con người kinh tế” của ông bị phê phán là máy móc và phiến diện.
Tiếp theo là trong cuốn Quản lý công nghiệp và quản lý nói chung(1911), H. Fayol đã đưa ra lý luận Quản lý tổng quát với quan điểm cần mở rộng phạm vi ứng dụng của lý luận quản lý theo khoa học, không chỉ trong các công ty công nghiệp mà còn áp dụng cho các cơ quan hành chính nhà nước. Định nghĩa về quản lý mà ông đưa ra đã nêu đủ các chức năng của một nhà quản lý và chủ thể quản lý nói chung: Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra.Thuyết Quản lý theo khoa học bằng khoa họccủa Taylor và Fayol sau đó được các nhà khoa học phát triển theo nhiều hướng và các nhánh khác nhau, mạnh nhất là xu hướng nghiên cứu khoa học lãnh đạo có tính độc lập tương đối so với khoa học quản lý với các yêu cầu và tiêu chuẩn cao hơn.
Về thuyết Lãnh đạo dựa trên cơ sở tố chất (Traits Theory). Những năm1930 - 1940 ở Mỹ, nhiều học giả đã cố gắng chứng minh rằng các nhà lãnh đạo xuất sắc đều có những tố chất ưu việt, nổi trội so với số đông như tính thống trị, tham vọng, nhiệt huyết, khiêm nhường... Song rất khó đạt tới sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu về danh sách các phẩm chất có tính bẩm sinh của người lãnh đạo.
Lý luận lãnh đạo dựa trên cơ sở hành vi(Behavioral Theories) tập trung nghiên cứu về phong cách lãnh đạocủa các nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Các nghiên cứu của Đại học Michigan và Đại học Ohio (Hoa Kỳ) về câu hỏi lãnh đạo cần tập trung vào công việc hay con người, hay cả hai trọng tâm này. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trong những môi trường khác nhau, cùng một phong cách lãnh đạo lại cho những kết quả khác nhau.
Vào những năm 1960, các nghiên cứu về hiệu quả lãnh đạo - tập trung vào đối tượng là nhóm lãnh đạo doanh nghiệp đã đề xuất một lý thuyết mới về lãnh đạo - Lý luận lãnh đạo theo tình thế - (Contingency theories) với ý tưởng môi trường khách quan và sự biến đổi cho phù hợp quyết định phong cách và hiệu quả của nhà quản lý, lãnh đạo.
Một trường phái mới trong khoa học quản lý, lãnh đạo hiện đại là Lý luận về lãnh đạo, quản lý dựa trên hệ thống văn hóa tổ chức/văn hóa doanh nghiệp. Các nghiên cứu theo hướng này phải kể đến các tác phẩm của W. Ouchi về Thuyết Z, của M. Yoshino và E. Vogel về Mô hình quản lý của Nhật Bản. Theo E. Vogel, mô hình, phương thức quản lý của Nhật Bản rất thành công trong những năm 70 - 90, cần được học hỏi, vận dụng vào các nước khác, trước hết là Hoa Kỳ. Các tổ chức sản xuất, kinh doanh cũng có thể tạo ra các giá trị cho nó, cho xã hội và quá trình kiến tạo văn hóa tổ chức, văn hóa doanh nghiệp có vai trò quan trọng của người sáng lập và lãnh đạo tổ chức.
Các lý thuyết lãnh đạo gần đây chú ý đến vai trò của nhà lãnh đạo khởi nghiệp, sáng lập xuất sắc, thực thi nhiệm vụ xây dựng, truyền bá, quản trị và phát triển văn hóa tổ chức của mình.
Theo cách tiếp cận này, các nhà lãnh đạo lớn thường có mục đích tạo ra cho tổ chức và nhân viên dưới quyền họ không chỉ sự thành đạt về vật chất mà còn cả các yếu tố và giá trị tinh thần. Lãnh đạo bằng văn hóa tổ chức của doanh nghiệpkhông chỉ được luận giải trong các công trình nghiên cứu của P. Drucker, W. Ouchi, E. Schein... mà còn được truyền bá một cách mạnh mẽ và hiệu quả thông qua các sách hồi ký hay tổng kết kinh nghiệm thực tế của các nhà lãnh đạo xuất sắc các tập đoàn, tổ chức kinh doanh và cả các tổ chức chính trị, tôn giáo. Triết lý hành động đúng đắn, văn hóa tổ chức vững vàng chính là nền tảng và hệ điều hành cho lãnh đạo thực hiện được việc đổi mới và thích nghi với sự biến đổi nhanh chóng và sâu sắc của thời kỳ cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức và toàn cầu hóa.
4. Những tác phẩm của Victor H. Room
Ông Victor H. Room đã viết khá nhiều tác phẩm, trong đó có nhiều cuốn sách và nhiều luận văn. Những tác phẩm quan trọng nhất của ông kể đến: “Công việc và sự khích lệ” (1964), “Lãnh đạo và quyết sách” (cùng viết với G. năm 1973). Quyến thứ nhất là tác phẩm tiêu biểu về thuyết hy vọng. Quyển thứ hai nói về mô hình quy phạm và những nguyên lý cơ bản về lý luận lãnh đạo do H. Room và G. đề ra cùng với những quy tắc và việc ứng dụng nó trong thực tế. Trước khi phát hành quyển sách thứ hai, H. Room đã từng phát biểu một bài viết trên tạp chí “Động lực của tổ chức” vào mùa xuân năm 1973 với nhan đề “Mô hình quy phạm H. Room - G.”.
Bài viết đó chính là nội dung cơ bản của cuốn “Lãnh đạo và quyết sách”. Trong bài viết ấy, ông đã đưa ra một luận điểm mới về việc ra quyết định quản lý. Sau đó vào năm 1974, H. Room và Apisec đã cùng phát biểu một bài luận văn với nhan đề “Ra quyết định quản lý, một quá trình mang tính xã hội: Mô hình quy phạm và mô hình miêu tả hành vi lãnh đạo (xem cuốn “Khoa học quyết sách”, tập 5 nãm 1974). Năm 1976, H. Room lại phát biểu bài luận văn với nhan đề “Người lãnh đạo có thế học cách lãnh đạo không?” (tạp chí “Động lực của tổ chức” năm 1976, số mùa đông) đê nói rõ thêm lý luận của mình về công việc lãnh đạo.
5. Công trình nghiên cứu về quản lý, lãnh đạo ở Việt Nam
Thứ nhất, ta nói đến nhóm nghiên cứu về ảnh hưởng, tác động của các giá trị tư tưởng, truyền thống văn hóa dân tộc đối với nhận thức, hoạt động và phong cách của các chủ thể lãnh đạo, quản lý của Việt Nam. Ở Việt Nam thời kỳ cổ và trung đại, quan niệm về lãnh đạo, quản lý bó hẹp trong việc cai trị hay vấn đề cách thức trị nước của tầng lớp vua quan đối với dân chúng.
Tuy vậy, một số di sản của văn hóa cai trị - quản lý theo Nho giáo vẫn tiếp tục được nghiên cứu và truyền bá đến ngày nay đã khẳng định tính hợp lý, đúng đắn của nó như tư tưởng nhà cai trị phải có đủ phẩm cách, lòng nhân ái, đề cao phương pháp đức trị và mô hình quản lý xã hội theo gia đình, gia tộc... Đồng thời, tư tưởng về lãnh đạo, quản lý đất nước thời kỳ này có một nguồn mạch tự nhiên quý giá từ các vị anh hùng và thiên tài chính trị - quân sự của dân tộc ta như Lý Thái Tổ, Trần Hưng Đạo, Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ... với ý chí khẳng định chủ quyền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.
Thứ hai, về nhóm nghiên cứu về lý luận và phương pháp luận của khoa học tổ chức liên quan tới vấn đề thiết kế cơ chế, tổ chức bộ máy quyền lực trong hệ thống chính trị và các cơ quan công quyền.Trường phái khoa học tổ chức này đã trở nên lạc hậu với thế giới.
Ở Việt Nam, do ảnh hưởng của trường phái khoa học Xô viết, trong nhiều thập kỷ, tổ chức được hiểu là một phạm trù bao trùm các nội dung của công tác tổ chức thể chế, công tác cán bộ, công tác quản lý nhân sự trong hệ thống chính trị. Hạn chế của cách tiếp cận này là chưa chú trọng tới vấn đề quyền lực, trách nhiệm cá nhân và hiệu quả lãnh đạo, chưa làm rõ mối quan hệ giữa chủ thể lãnh đạo và thể chế, tổ chức của nó. Câu hỏi lãnh đạo quyết định thể chế, tổ chức bộ máy lãnh đạo, quản lý hay ngược lại, và công việc lãnh đạo cần đặt trọng tâm vào tổ chức hay là nhân sự còn là một vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu.
Thứ ba, nhóm nghiên cứu về tư tưởng và cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp...Tư tưởng Hồ Chí Minh có ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà lãnh đạo thời kỳ này, tập trung trong các tác phẩm Sửa đổi lối làm việc(1947), Di chúc(1969)...
Mặt khác, nhiều công trình nghiên cứu Hồ Chí Minh của Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trần Văn Giàu, Đặng Xuân Kỳ và các nhà nghiên cứu ở nước ta hiện nay đã cho thấy giá trị của tư tưởng, minh triết, nhân cách, đạo đức, phong cách lãnh đạo của Hồ Chí Minh mãi mãi là một tấm gương sáng chói cho nhiều thế hệ cán bộ lãnh đạo, quản lý Việt Nam. Tuy nhiên, từ tư tưởng, ý thức đạo đức đến hoạt động lãnh đạo thực tế và hiệu quả của nó là một chặng đường dài cần được nghiên cứu, lý giải cụ thể.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn)