1. Ly thân là gì?

Trước hết, theo quy định của pháp Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội hiện hành thì không quy định về việc ly thân. Vì vậy, nếu cuộc sống hôn nhân của bạn và chồng bạn không hạnh phúc và bạn không muốn tiếp tục sống cùng chồng, tuy nhiên chưa đến mức phải ly hôn thì bạn và chồng bạn có thể ly thân mà không cần thực hiện bất cứ thủ tục nào.

Khái niệm ly thân được hiểu một cách đơn giản là hai vợ chồng sống chung hoặc sống riêng nhưng không có quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục).

Nếu sau quá trình ly thân, cuộc sống hôn nhân của vợ chồng bạn rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì bạn và chồng bạn có thể tiến hành thủ tục ly hôn.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Mẫu đơn xin ly hôn

2. Ly hôn đơn phương là gì?

Ly hôn là sự kiện pháp lý chấm dứt quan hệ hôn nhân. Thủ tục ly hôn được quy định chặt chẽ các chế định của Luật hôn nhân gia đình và Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong trường hợp ly hôn đơn phương, là khi ly hôn xuất phát từ ý chí của một bên vợ hoặc chồng thì chỉ khi người nộp đơn ly hôn chứng minh được việc ly hôn là có căn cứ thỏa mãn các điều kiện của pháp luật thì mới được tòa án chấp thuận ra quyết định ly hôn.

3. Điều kiện để có thể ly hôn đơn phương là gì?

>>> Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

>>> Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

>>> Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia”

3. Thủ tục ly hôn đơn phương như thế nào?

Về hồ sơ xin ly hôn đơn phương gồm có:

- Đơn xin ly hôn đơn phương

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của nguyên của vợ và chồng.

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng.

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giầy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở…

- Bản sao giấy khai sinh của các con (nếu có)

Thời gian giải quyết: 4 đến 6 tháng

>> Tham khảo bài viết liên quan: Làm thủ tục ly hôn đơn phương có cần hòa giải tại xã không ?

4. Trẻ trên 9 tuổi có quyền chọn người chăm sóc khi bố mẹ ly dị

Theo khoản 2 điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con. Nếu không thoả thuận được thì toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Việc con đồng ý ở với mẹ là một tiêu chí quan trọng trong việc ra quyết định ai là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Tuy nhiên, nguyện vọng của con bạn là muốn được ở với mẹ không phải là cơ sở duy nhất mà nó chỉ có ý nghĩa như là một trong các điều kiện để toà án xem xét, đánh giá trong việc ra quyết định ai sẽ là người nuôi con, trên cơ sở xem xét một cách toàn diện nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con.

5. Muốn 'thay' tên cha trong khai sinh của con sau khi ly dị ?

Pháp luật hôn nhân gia đình và hộ tịch hiện hành quy định quan hệ giữa cha và con có thể là quan hệ dựa trên yếu tố huyết thống (quan hệ giữa cha đẻ và con đẻ) hoặc dựa trên quan hệ nuôi dưỡng (quan hệ giữa cha nuôi và con nuôi).

Con của sinh ra trong thời kỳ hôn nhân (hay quan hệ hôn nhân hợp pháp lần thứ nhất) giữa vợ và người chồng thứ nhất là con chung của hai người. Quan hệ giữa người chồng thứ nhất và con là quan hệ giữa cha đẻ - con đẻ và được pháp luật công nhận, bảo hộ.

Mặc dù chồng cũ của vẫn biệt tích, đã được tòa án xử cho ly hôn với người chồng cũ nhưng pháp luật không tước quyền làm cha của người chồng cũ.

Mặt khác, quan hệ giữa người chồng thứ hai và con riêng của chỉ là quan hệ giữa cha dượng và con đẻ của vợ nên về nguyên tắc, việc làm lại giấy khai sinh cho con để đưa người chồng mới thay vào vị trí cha đứa trẻ là không phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.

Việc cho đứa trẻ làm con nuôi người chồng mới để thay đổi lại giấy khai sinh cho đứa trẻ mà không có sự đồng ý của người cha đẻ cũng không phù hợp với quy định tại Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, nguyện vọng làm lại giấy khai sinh cho con, ghi tên của người chồng mới làm cha đứa trẻ là không có cơ sở để giải quyết. >> Tải mẫu đơn xin ly hôn

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh KHuê