1. Mẫu giấy ủy quyền trong tham gia tố tụng dân sự

Công ty Luật Minh Khuê cung cấp văn bản Ủy quyền tham gia tố tụng dân sự mới nhất theo quy định của pháp luật hiện nay để quý khách hàng tham khảo và áp dụng trong từng trường hợp cụ thể:

>> Tải ngay: Mẫu giấy ủy quyền dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
----------------- o0o -----------------

GIẤY ỦY QUYỀN

(Dành cho cá nhân)

- Căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các văn bản hiến pháp hiện hành.

- Căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên;

......., ngày...... tháng...... năm 20...... ; chúng tôi gồm có:

I. BÊN ỦY QUYỀN (Bên A) :

Họ tên:.....................................................................................................................

Địa chỉ:.....................................................................................................................

Số CMND: .........................Cấp ngày: .........................Nơi cấp:..............................

Quốc tịch:.................................................................................................................

II. BÊN ĐƯỢC ỦY QUYỀN (Bên B):

Họ tên:......................................................................................................................

Địa chỉ:......................................................................................................................

Số CMND: .................................Cấp ngày: ............................Nơi cấp:...................

Quốc tịch:.................................................................................................................

III. NỘI DUNG ỦY QUYỀN:

Bằng giấy ủy quyền này Bên A ủy quyền cho bên B được thực hiện các công việc sau đây:

Được đại diện cho bên A tham gia tố tụng và thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về tố tụng và các văn bản pháp luật có liên quan tới tố tụng đối với các vụ việc dân sự tranh chấp mà bên A là đương sự; ký vào các văn bản, giấy tờ nộp tiền án phí, tạm ứng án phí hoặc nhận lại hoàn toàn tạm ứng phí dân sự.

Đại diện cho bên A thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong thi hành án dân sự: Ký Đơn yêu cầu thi hành án, khiếu nại về việc thi hành án dân sự; nộp tiền tạm ứng hoặc nhận lại hoàn toàn tạm ứng phí thi hành án dân sự.

IV. THỜI HẠN ỦY QUYỀN

Văn bản ủy quyền này có hiệu lực từ ngày ký cho đến khi được thay thế văn bản ủy quyền khác.

V. CAM KẾT

Hai bên cam kết sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Pháp luật về mọi thông tin ủy quyền ở trên.

Mọi tranh chấp phát sinh giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền sẽ do hai bên tự giải quyết.

Giấy ủy quyền trên được lập thành .......... bản, mỗi bên giữ ......... bản.

BÊN ỦY QUYỀN
(Ký, họ tên)

BÊN ĐƯỢC ỦY QUYỀN
(Ký, họ tên)

>> Xem thêm:  Tỷ lệ cổ phần và quyền hạn của cổ đông trong công ty cổ phần ? Khi nào được ủy quyền để tham dự họp đại hội cổ đông ?

2. Đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 15/6/2004 đã bổ sung và hoàn thiện thêm về chế định người đại diện của đương sự, đặc biệt liên quan đến các quy định về người đại diện theo ủy quyền. Trong phạm vi bài viết dưới đây, tác giả trao đổi một số vấn đề xung quanh quy định về ủy quyền và việc chấm dứt đại diện theo ủy quyền, những vướng mắc nảy sinh từ việc hiểu và áp dụng các quy định của BLTTDS về vấn đề này trong thực tiễn thụ lý và giải quyết các tranh chấp dân sự.

Từ đó, tác giả đưa ra kiến nghị góp phần hoàn thiện về ủy quyền và việc chấm dứt đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự.

Việc tham gia của người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự

Tương tự như trong pháp luật nội dung (Xem hộp 1), pháp luật tố tụng dân sự (từ Điều 73 đến Điều 78 Bộ luật tố tụng dân sự) phân chia người đại diện ra làm 2 loại là người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Việc tham gia tố tụng của người đại diện của đương sự nói chung và người đại diện theo ủy quyền nói riêng trong tố tụng dân sự có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết các vụ án dân sự, đặc biệt trong trường hợp đương sự không tự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Hộp 1: Theo Bộ luật Dân sự (BLDS)

Điều 138. Đại diện theo ủy quyền

1. Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

2. Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân.

3. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.

Như vậy, khi hai bên (bên ủy quyền và bên được ủy quyền) thiết lập một quan hệ ủy quyền đồng thời thiết lập một quan hệ hợp đồng với tính chất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền. Bên ủy quyền phải trả thù lao nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Trong quan hệ ủy quyền, người được ủy quyền thay mặt người ủy quyền thực hiện một số hành vi nhất định làm phát sinh hậu quả pháp lý liên quan đến quyền lợi của các bên trong quan hệ hợp đồng hoặc lợi ích của người đã ủy quyền trong phạm vi ủy quyền. Vì vậy, xét về mặt bản chất pháp lý, quan hệ ủy quyền luôn tồn tại 2 quan hệ:

1) Quan hệ giữa người ủy quyền và người được ủy quyền. Trong quan hệ này người được uỷ quyền có nghĩa vụ phải thực hiện các hành vi pháp lý trong phạm vi ủy quyền. Người được ủy quyền phải trực tiếp thực hiện nghĩa vụ của mình mà không được ủy quyền lại cho người khác trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

2) Quan hệ giữa người được ủy quyền với bên thứ ba của giao dịch. Người được ủy quyền với tư cách của người đã ủy quyền giao kết hoặc thực hiện các giao dịch dân sự với bên thứ ba. Người được ủy quyền có những quyền và nghĩa vụ nhất định với bên thứ ba của giao dịch.

>> Xem thêm:  Mẫu giấy ủy quyền quyết toán thuế, hoàn thuế, kê khai thuế thu nhập cá nhân (TNCN) mới nhất năm 2020

3. Thực tiễn thi hành pháp luật về đại diện ủy quyền trong án dân sự

Thực tiễn xét xử án dân sự, không ít lần giữa VKS và tòa, giữa tòa cấp dưới với tòa cấp trên đã tranh cãi về chuyện ủy quyền của các đương sự.Nguyên nhân là quy định chưa cụ thể, chưa điều chỉnh được một số tình huống mới phát sinh trong đời sống…

Năm 2007, ba nhân viên của một công ty bị bắt, bị khởi tố vì trộm giấy ủy nhiệm chi mà giám đốc công ty ký sẵn (trị giá hơn 3,6 tỉ đồng) rồi mang đến một chi nhánh của Ngân hàng B yêu cầu chuyển tiền vào tài khoản cá nhân.

Có cần ghi rõ phạm vi ủy quyền?

Sau đó, Ngân hàng B ủy quyền cho chi nhánh nơi các bị can đến chuyển tiền tham gia phiên tòa sơ thẩm với tư cách là bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Sau phiên sơ thẩm cuối năm 2010 của TAND TP.HCM, chi nhánh ngân hàng kháng cáo về phần bồi thường dân sự.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Trong phiên phúc thẩm gần đây, đại diện VKSND Tối cao đã đề nghị tòa bác kháng cáo vì theo nội dung giấy ủy quyền thì Ngân hàng B chỉ ủy quyền cho chi nhánh tham gia phiên sơ thẩm chứ không ủy quyền cả việc kháng cáo. Việc kháng cáo của chi nhánh ngân hàng là vượt quá phạm vi ủy quyền.

Tuy nhiên, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM lại cho rằng chi nhánh ngân hàng đã được Ngân hàng B ủy quyền thường xuyên để giải quyết công việc hằng ngày. Vì thế, đại diện chi nhánh ngân hàng có thể tham gia ở bất kỳ giai đoạn tố tụng nào trong một vụ án có liên quan tới mình. Từ đó, tòa tiếp tục xử chứ không bác kháng cáo như đề nghị của đại diện VKS.

Nhận định của tòa phúc thẩm đã gây tranh cãi về mặt pháp lý. Theo Thẩm phán Nguyễn Huy Hoàng (TAND quận Gò Vấp, TP.HCM), quan điểm của đại diện VKSND Tối cao là hợp lý. Thẩm phán Hoàng lý giải: Đương sự phải ghi rõ nội dung ủy quyền vì sơ, phúc thẩm là hai giai đoạn tố tụng độc lập, khác nhau.

Đồng tình, TS Nguyễn Văn Tiến (giảng viên Trường ĐH Luật TP.HCM) cũng nhận xét: Mỗi giai đoạn tố tụng bao hàm những thủ tục khác nhau nên cần những yêu cầu khác nhau. Vì lẽ đó, việc đòi hỏi giấy ủy quyền phải ghi rõ từng nội dung ủy quyền không hẳn là vô cớ.

Khi nào phải làm lại giấy ủy quyền?

Tháng 3-2006, bà PTNN khởi kiện yêu cầu người con trai trả lại một phần đất tại huyện Dầu Tiếng (Bình Dương). Tháng 7-2006, TAND huyện Dầu Tiếng xử sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu của bà N. Đầu năm 2007, TAND tỉnh Bình Dương xử phúc thẩm cũng tuyên bà N. thắng kiện…

Sau khi chánh án TAND Tối cao kháng nghị giám đốc thẩm, tháng 6-2010, Tòa Dân sự TAND Tối cao đã hủy cả hai bản án sơ, phúc thẩm, giao hồ sơ cho TAND huyện Dầu Tiếng xử sơ thẩm lại. Tháng 8-2011, TAND huyện Dầu Tiếng xử sơ thẩm lần hai với kết quả như lần xử sơ thẩm đầu tiên. Sau đó, người con kháng cáo…

Trong vụ này, điều đáng nói là sau khi thụ lý lại, TAND huyện Dầu Tiếng đã không yêu cầu một người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan làm lại giấy ủy quyền mới mà vẫn giữ nguyên giấy ủy quyền của lần xử sơ thẩm thứ nhất. Ngoài ra, tòa còn chấp nhận một giấy ủy quyền không hợp lệ về hình thức: Ban đầu, do thiếu hiểu biết nên bà N. cùng bốn người khác đồng đứng đơn kiện rồi ủy quyền cho một người tham gia tố tụng. Sau đó, tòa xác định chỉ có bà N. là nguyên đơn, bốn người kia có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Lẽ ra phải yêu cầu bà N. làm giấy ủy quyền mới thì tòa lại chấp nhận luôn giấy ủy quyền cũ.

Theo Thẩm phán Nguyễn Huy Hoàng, tòa không yêu cầu các đương sự làm ủy quyền mới là vi phạm tố tụng nghiêm trọng, có thể bị hủy án. Bởi lẽ khi một bản án bị hủy để xử lại thì quá trình tố tụng đương nhiên được quay lại từ đầu nên tòa bắt buộc phải yêu cầu đương sự làm giấy ủy quyền mới. Chưa kể, ý chí của các đương sự lúc đó có thể khác với trước. Tuy nhiên, để tạo thuận lợi cho đương sự, tòa có thể linh động mời các bên đến hỏi xem họ có đồng ý giữ nguyên nội dung ủy quyền cũ hay không. Thậm chí ngay tại lúc mở đầu phiên xử, tòa cũng có thể hỏi như trên rồi lập biên bản ghi nhận.

Thẩm phán Phạm Công Hùng (Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM) lại cho rằng nên chia thành hai dạng cụ thể: Nếu giấy ủy quyền cũ chỉ ghi chung chung thì khi thụ lý lại vụ án, tòa phải yêu cầu đương sự làm ủy quyền mới để tránh vi phạm tố tụng. Nếu giấy ủy quyền cũ có ghi đầy đủ nội dung, thời gian, phạm vi, thời hạn ủy quyền, mặt khác bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền không có gì thay đổi thì nó vẫn có nguyên giá trị. Bởi lẽ việc hủy án xử lại chỉ là trình tự tố tụng, còn việc ủy quyền liên quan đến quyền và nghĩa vụ của đương sự. Hai việc này hoàn toàn khác nhau…

Ủy quyền “chi ly” hay “bao quát”?

Xung quanh chuyện phạm vi ủy quyền của đương sự, hiện đang có hai luồng ý kiến khác nhau.

Luồng ý kiến thứ nhất dựa vào hướng dẫn tại Nghị quyết 05 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao cho rằng người ủy quyền phải liệt kê rõ ràng từng nội dung ủy quyền trong văn bản. Chẳng hạn, giấy ủy quyền phải ghi “ông A. được thay mặt tôi kháng cáo bản án” thì người đại diện mới có quyền kháng cáo.

Luồng ý kiến thứ hai thoáng hơn, lập luận Điều 73 BLTTDS (về người đại diện) không bắt buộc giấy ủy quyền phải ghi chi ly từng công việc của người đại diện nên chỉ cần ghi có tính bao quát là đủ. Chẳng hạn ghi “ông A. được thay mặt tôi tham gia tố tụng” thì người đại diện đương nhiên có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ xuyên suốt trong mọi giai đoạn tố tụng.

Không cần liệt kê cụ thể

Trong vụ việc của ngân hàng, theo tôi không cần liệt kê rõ từng nội dung và yêu cầu mỗi giai đoạn tố tụng phải có một ủy quyền mới. Về nguyên tắc, khi hợp đồng ủy quyền được xác lập, có công chứng thì người đại diện được làm tất cả những gì đã nhận ủy quyền. Không phải máy móc hiểu là trong giấy ủy quyền ghi hai chữ kháng cáo thì người nhận ủy quyền mới được kháng cáo. Trừ khi ủy quyền có ghi thời gian thì hết thời hạn đó phải làm ủy quyền mới. Nhưng riêng trong giai đoạn thi hành án thì chuyện ủy quyền phải cụ thể, chi tiết và thường phải làm ủy quyền mới.

Luật sư TRẦN HẢI ĐỨC, Đoàn Luật sư TP.HCM

Tùy nội dung ủy quyền

Ở vụ của bà N., tôi cho rằng phải tùy vào nội dung ủy quyền mới xác định được là cần giấy ủy quyền khác hay không. Nếu giấy ủy quyền ghi rõ người đại diện chỉ được thay mặt đương sự tham gia giai đoạn sơ thẩm hoặc phúc thẩm (giới hạn phạm vi ủy quyền) thì khi án bị hủy, họ phải làm lại ủy quyền mới. Nếu giấy ủy quyền có ghi thời gian được ủy quyền thì hết thời gian đó đương nhiên nó hết hiệu lực, phải làm ủy quyền lại. Còn nếu giấy ủy quyền chỉ ghi chung chung là “được quyền thay mặt giải quyết mọi vấn đề liên quan đến khi vụ án kết thúc” thì tòa vẫn có thể chấp nhận giấy cũ.

Luật sư TRẦN NGỌC QUÝ, Đoàn Luật sư TP.HCM

Cần hướng dẫn

Đã đến lúc TAND Tối cao có văn bản hướng dẫn đầy đủ quy định từ hình thức, nội dung cho đến việc thế nào là một giấy ủy quyền hợp lệ. Có hướng dẫn để áp dụng thống nhất sẽ tránh được những sai sót và tranh cãi như hiện nay.

TS NGUYỄN VĂN TIẾN, Trường ĐH Luật TP.HCM

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

4. Thủ tục thừa kế di sản

Thân chào các vị Luật sư ! Xin phép cho tôi được tư vấn. Bố, mẹ tôi đã mất và không để lại di chúc.Trước đây quyển sổ đỏ chứng nhận quyền sử dụng đất đưng tên Bố,mẹ tôi. Gia đình tôi hiện nay có 6 anh chị em. Vừa qua được sự đồng ý của các chị gái muốn sang tên cho tôi và anh trai tôi đứng tên chung trong quyển sổ đỏ đó. Vậy anh em chúng tôi cần phải làm những thủ tục gì đẻ được hợp thức hóa. Xin chân thành cảm ơn!

=> Trong trường hợp này, bạn và các anh chị em của mình làm biên bản thỏa thuận phân chia di sản và có đầy đủ chữ ký của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, theo đó, những người đồng ý để lại cho bạn và anh trai mình đứng tên cần làm văn bản từ chối nhận di sản thừa kế. Tất cả những văn bản này cần phải có công chứng của tổ chức công chứng có thẩm quyền. Sau đó, bạn và anh trai bạn đến Phòng công chứng làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Sau khi có những văn bản này, bạn mang đến Văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện nơi có đất để thực hiện thủ tục sang tên cho bạn và anh trai bạn được cùng đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

5. Thủ tục phúc thẩm vụ án chia thừa kế

Thưa luật sư, xin hỏi: Nếu tôi khởi kiện ra toà việc tranh chấp tài sản thừa kế thì tôi phải nộp án phí phải không?nếu tôi thắng kiện thì có phải được lấy lại tiền án phí không? người bị thua kiện phải trả án phí phải không? nếu xét xử phúc thẩm thì có phải đóng tiếp án phí không? Tôi xin chân thành cám ơn và đợi câu trả lời của quí công ty !!

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 dưới đây.

Án phí bao gồm các loại sau đây:

+ Án phí dân sự, gồm có các loại án phí giải quyết vụ án tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động;

+ Án phí hình sự;

+ Án phí hành chính.

Mức án phí đối với từng loại vụ việc được quy định cụ thể như sau:

1. Mức án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch, mức án phí dân sự phúc thẩm; Mức án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm; Mức án phí hành chính sơ thẩm và án phí hành chính phúc thẩm:

Loại án phí

Mức án phí

Án phí hình sự sơ thẩm

200.000 đồng

Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự,

hôn nhân và gia đình, lao động không có giá ngạch

300.000 đồng

Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án tranh chấp kinh doanh,

thương mại không có giá ngạch

3.000.000 đồng

Án phí hành chính sơ thẩm

300.000 đồng

Án phí hình sự phúc thẩm

200.000 đồng

Án phí dân sự phúc thẩm

300.000 đồng

Án phí hành chính phúc thẩm

300.000 đồng

2. Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch:

Giá trị tài sản có tranh chấp

Mức án phí

a) từ 6.000.000 đồng trở xuống

300.000 đồng

b) Từ trên 6.000.000 đồng đến

400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến

800.000.000 đồng

20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d) Từ trên 800.000.000 đồng đến

2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến

4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

3. Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại có giá ngạch:

Giá trị tranh chấp

Mức án phí

a) từ 60.000.000 đồng trở xuống

3.000.000 đồng

b) Từ trên 60.000.000 đồng đến

400.000.000 đồng

5% của giá trị tranh chấp

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến

800.000.000 đồng

20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d) Từ trên 800.000.000 đồng đến

2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến

4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

4. Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp lao động có giá ngạch:

Giá trị tranh chấp

Mức án phí

a) Từ 4.000.000 đồng trở xuống

300.000 đồng

b) Từ trên 3.000.000 đồng đến

400.000.000 đồng

3% của giá trị tranh chấp, nhưng không thấp hơn 300.000 đồng

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến

2.000.000.000 đồng

12.000.000 đồng + 2% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d) Từ trên 2.000.000.000 đồng

44.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

Trên đây là quy định về án phí và mức án phí với từng loại:

+ Mức án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch, mức án phí dân sự phúc thẩm; Mức án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm; Mức án phí hành chính sơ thẩm và án phí hành chính phúc thẩm:

+ Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch;

+ Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại có giá ngạch;

+ Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp lao động có giá ngạch;

Cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp tham khảo và chỉ áp dụng khi thông qua ý kiến của Luật sư riêng, hoặc được tư vấn của tổ chức hành nghề luật sư.

>> Xem thêm:  Quy định về đánh giá dự thầu trong liên danh ?