Anh trai ông Ch (người thụ hưởng hợp đồng bảo hiểm) đã đề nghị công ty bảo hiểm X. thanh toán trị giá hợp đồng bảo hiểm 500 triệu đồng. Tuy nhiên, công ty X từ chối thanh toán với lý do – theo nguồn thông tin công ty X thu thập được từ chính quyền địa phương, ông Ch nghiện rượu rất nặng từ năm 2005 cho đến khi qua đời. Như vậy, ngay từ trước khi ký hợp đồng bảo hiểm, ông Ch đã nghiện rượu, nhưng các thông tin này ông lại không cung cấp cho công ty X khi ký kết hợp đồng – do vi phạm nguyên tắc trung thực trong hợp đồng bảo hiểm, công ty X cho rằng hợp đồng bảo hiểm giữa ông Ch và công ty vô hiệu từ thời điểm ký kết.

Anh trai ông Ch đã khởi kiện ra Tòa án nhân dân Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh. Tại phiên tòa, ý kiến của bệnh viên đã điều trị cho ông Ch cũng khẳng định: không có cơ sở để kết luận ông Ch nghiện rượu từ bao giờ cũng như không đủ căn cứ để kết luận rằng ông Ch. bị xơ gan là do nghiện rượu. Tuy nhiên, trong phán quyết của mình, Tòa án vẫn chấp thuận yêu cầu của công ty X, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh trai ông Ch với lý do cho rằng, ông Ch bị xơ gan là do nghiện rượu, ông Ch đã không trung thực cung cấp thông tin này khi ký kết hợp đồng.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Trong vụ việc trên các bên tham gia bảo hiểm gồm có: bên bán bảo hiểm – công ty X; bên mua bảo hiểm – ông Ch; người thụ hưởng là anh trai ông Ch. Số tiền bảo hiểm là 500 triệu, hình thức là bảo hiểm nhân thọ.

Theo nguyên tắc quy định tại Điều 18 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 thì bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ và trung thực mọi thông tin cho bên bán bảo hiểm trước khi giao kết hợp đồng (nguyên tắc trung thực). Nếu vi phạm nguyên tắc này thì theo khoản 2 Điều 19 thì hợp đồng sẽ bị vô hiệu. Trong tình huồng sự kiện bảo hiểm là việc ông Ch chết vì bệnh sơ gan. Theo nguyên tắc thì khi có sự kiện chết thì người thụ hưởng sẽ được nhận tiền bảo hiểm. Nhưng theo thông tin mà công ty X thu thập được từ chính quyền địa phương, ông Ch nghiện rượu rất nặng từ năm 2005 cho đến khi qua đời. Mà hợp đồng được ký năm 2010, khi ký hợp đồng ông Ch đã nghiện uống rượu 5 năm. Như vậy, từ trước khi ký hợp đồng bảo hiểm, ông Ch đã nghiện rượu, nhưng các thông tin này ông lại không cung cấp cho công ty X khi ký kết hợp đồng. Như vậy ông Ch Đã vi phạm nguyên tắc trung thực khi ký kết hợp đồng nên hợp đồng bảo hiểm này vô hiệu.

Vì hợp đồng vô hiệu nên người thụ hưởng tiền bảo hiểm là anh trai ông Ch. trong trường hợp này sẽ không nhận được số tiền bảo hiểm.

Từ vụ việc trên chúng ta thấy:

+ Trong hợp đồng bảo hiểm, nguyên tắc trung thực là nguyên tắc vô cùng quan trọng, các bên và đặc biệt là bên mua bảo hiểm phải cung cấp đầy đủ và trung thực mọi thông tin;

+ Việc từ chối thanh toán hợp đồng bảo hiểm của công ty bảo hiểm phải dựa trên những cơ sở thuyết phục nhằm chứng minh hợp đồng vô hiệu do bên mua đã không trung thực khi giao kết.

+ Người mua bảo hiểm cần tìm hiểu rõ quy định của pháp luật khi mua bảo hiểm, tránh che giấu thông tin, trục lợi bảo hiểm – khi rủi ro xảy ra, chính người mua sẽ bị thiệt hại lớn nhất.

1. Một số khái niệm

Theo quy định khoản Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi, bổ suung năm 2010 thì các khái niệm được hiểu là:

Bên mua bảo hiểm

Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng.

Người được bảo hiểm

Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng.

Khi rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm xảy ra đối với người này sẽ làm phát sinh trách nhiệm chi trả tiền bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là bên mua bảo hiểm. Nếu người được bảo hiểm không phải là bên mua bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm với người được bảo hiểm.

Người thụ hưởng

Người thụ hưởng là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người.

Trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, không nhất thiết phải quy định rõ người thụ hưởng. Nếu trong hợp đồng không thỏa thuận rõ về người thụ hưởng, số tiền bảo hiểm được trả là tài sản của bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm ( tùy theo quy định của từng doanh nghiệp).

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên mua bảo hiểm có thể thay đổi người thụ hưởng nhưng phải được sự đồng ý của ngườì được bảo hiểm bằng văn bản.

2. Mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể

Để thấy rõ được mối quan hệ giữa các chủ thể trong bảo hiểm con người, ta cần hiểu rõ được khái niệm về các chủ thể cũng như đặt các chủ thể theo đúng các mối quan hệ theo luật định.

a. Mối quan hệ giữa chủ thể của hợp đồng bảo hiểm và chủ thể của quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm

Thông thường chủ thể của hợp đồng dân sự cũng chính là chủ thể của quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Tuy nhiên đó chỉ là trong trường hợp người tham gia hợp đồng có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng mà họ đã tham gia. Đối với hợp đồng mà người được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hợp đồng thì chủ thể của hợp đồng không đồng nghĩa với chủ thể của quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó.

Với tư cách là một hợp đồng dân sự, hợp đồng bảo hiểm cũng nằm trong tình trạng đó. Do đó, xem xét mối quan hệ giữa chủ thể của hợp đồng bảo hiểm với chủ thể của quan hệ về nghĩa vụ bảo hiểm cũng vì lý do trên.

Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm bao gồm:

Bên bảo hiểm: là bên nhận phí của người tham gia bảo hiểm và cam kết nhận rủi ro bảo hiểm về phía mình. pháp luật về bảo hiểm quy định bên nhận bảo hiểm phải là doanh nghiệp có chắc năng kinh doanh bảo hiểm. Do nghĩa vụ bảo hiểm rất lớn nên bên nhận bảo hiểm phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và nguồn vốn đủ mạnh thì mới có thể đảm nhận được nghĩa vụ bồi thường.

Bên mua bảo hiểm: là bên đã nộp cho bên bảo hiểm một khoản tiền là phí bảo hiểm khi ký kết hợp đồng với doanh nghiệp bảo hiểm. Bên tham gia bảo hiểm thường là cá nhân, tổ chức bất kỳ. Tuy nhiên, các chủ thể này phải có đủ năng lực chủ thể và có mối quan hệ nhất định với đối tượng được bảo hiểm.

Chủ thể của quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm

Là những người có quyền, nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm. Chủ thể của quan hệ nghĩa vụ bao gồm:

Bên có nghĩa vụ: là doanh nghiệp bảo hiểm đã nhận phí bảo hiểm từ người tham gia bảo hiểm.

Bên được bảo hiểm: là bên thụ hưởng một khoản tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường thiệt hại hoặc được bên bảo hiểm đảm nhiệm thay một trách nhiệm dân sự khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Ngoài ra, bên được bảo hiểm còn được xác định cụ thể hơn thông qua hai thuật ngữ: người được bảo hiểm và người được hưởng bồi thường. Trong đó, người được bảo hiểm có thể đồng thời là người được bồi thường, nhưng có thể không đồng thời là người được hưởng bồi thời.

b. Mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể: bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng.

Mối quan hệ giữa bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm

  • Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm

Trong trường hợp, hợp đồng bảo hiểm, người mua bảo hiểm đó hướng tới việc bảo hiểm cho chính mình thì bên mua bảo hiểm đồng thời là người được bảo hiểm.

Ví dụ: A mua bảo hiểm y tế tại công ty bảo hiểm B. Trong trường hợp này thì người mua bảo hiểm hướng tới việc bảo hiểm cho sức khỏe của chính mình.

  • Bên mua bảo hiểm không đồng thời là người được bảo hiểm

Tại khoản 2 Điều 31 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, ngoài quy định về việc bên mua bảo hiểm có thể mua bảo hiểm cho chính mình thì pháp luật còn quy định việc mua bảo hiểm để hướng tới bảo vệ sức khỏe, tính mạng của người khác nhưng chỉ được mua bảo hiểm cho những người sau đây:

- Vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm;

- Anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng;

- Người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm.

Ngoài ra theo quy định tại Điều 38 Luật Kinh doanh bảo hiểm thì trong hợp đồng bảo hiểm con người trong trường hợp chết thì phải có sự đồng ý của người được bảo hiểm. Và những người thuộc khoản 2 Điều 38 sẽ không là người được bảo hiểm. quy định này nhằm đảm bảo sự an toàn tính mạng, sức khỏe cho người được bảo hiểm và đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm.

Ví dụ: ông A mua bảo hiểm tử tuất của công ty B. khi đó bên mua bảo hiểm là ông A nhưng người được hưởng bảo hiểm lại là thân nhân của ông A chết.

Mối quan hệ giữa bên mua bảo hiểm và người được thụ hưởng

  • Bên mua bảo hiểm đồng thời là người được thụ hưởng.

Trong các hợp đồng mà bên mua bảo hiểm hướng tới việc bảo hiểm thân thể cho người khác đồng thời xác định rõ trong hợp đồng bảo hiểm người thụ hưởng chính là mình thì người đó đồng thời là người thụ hưởng số tiền bảo hiểm.

Ví dụ: A mua bảo hiểm nhân thọ cho chống của mình là B tại công ty bảo hiểm C. trong hợp đồng quy định thì nếu có sự kiện bảo hiểm B chết thì A sẽ là người thụ hưởng. Như vậy nếu có sự kiện tai nạn xảy ra làm B chế thì A sẽ là người thụ hưởng.

  • Bên mua bảo hiểm không đồng thời là người thụ hưởng.

Trong các hợp đồng mà người mua bảo hiểm hướng tới việc bảo hiểm tài sản cho chính mình. Trong trường hợp người đó chết thì người thụ hưởng số tiền bảo hiểm lại là một người khác (có thể là người được chỉ định trong hợp đồng hoặc người thừa kế của bên mua bảo hiểm).

Ví dụ: A mua bảo hiểm nhân thọ của công ty bảo hiểm B. A đột ngột qua đời do tai nạn. Theo hợp đồng, công ty B phải chi trả số tiền bảo hiểm cho người thừa kế của bà A là chồng và con trai bà A.

Như vậy A là bên mua bảo hiểm và A cũng là người được bảo hiểm do A mua bảo hiểm cho tính mạng của mình. Nhưng người thụ hưởng trong trường hợp này lại không phải là A mà là chồng và con của A.

Mối quan hệ giữa người được bảo hiểm và người được thụ hưởng

Trong các hợp đồng bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm hướng tới việc bảo hiểm sức khỏe, tính mạng của người khác mà trong hợp đồng bảo hiểm xác định người được thụ hưởng là người được bảo hiểm thì người được bảo hiểm trong trường hợp này sẽ đồng thời là người thụ hưởng.

Ví dụ: cha mẹ mua bảo hiểm nhân thị cho con trai của mình là A tại công ty C và trong hợp đồng ghi rõ A là người thụ hưởng số tiền bảo hiểm nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Như vậy A là người được bảo hiểm và cũng chính là người thụ hưởng.

Trong ví dụ trên giả sự kiện bảo hiểm xảy ra là A chết thì trong trường hợp này người thụ hưởng sẽ là những người thừa kế của A. Vậy trên thực tế rất nhiều trường hợp tư cách của người mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng là những người khác nhau. Mặc khác, vì đặc tính của sự kiện bảo hiểm liên quan tới sự sống, sinh mạng của con người nên pháp luật và các nhà bảo hiểm rất thạn trọng trong giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhằm ngăn ngừa trục lợi, tủi ro đạo đức.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.0159 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê