1. Khái niệm Hiến pháp
Hiến pháp là Hình thức văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành, có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quy định các vấn đề cơ bản nhất của Nhà nước như: hình thức và bản chất nhà nước, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa xã hội; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Hiến pháp được sử dụng rộng rãi ở tất cả các nước với nghĩa là luật cơ bản của một nhà nước.
Hiến pháp là cơ sở để xây dựng các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, được cụ thể hóa, chi tiết hóa bằng các văn bản pháp quy.
Mọi văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp luật của Việt Nam đều phải phù hợp với Hiến pháp.
2. Chủ nghĩa hiến pháp là gì?
Chủ nghĩa hiến pháp trong tiếng Anh là constitutionalism, có người dịch là chủ nghĩa hợp hiến, có người dịch là “chủ nghĩa hiến pháp”, có người dịch là “chủ nghiệp lập hiến”. Theo tác giả bài viết nên dịch là “chủ nghĩa hiến pháp” thì sự chuyển tải bao quát và đầy đủ hơn. Các thuật ngữ hiến pháp trị, hay chủ nghĩa hiến pháp hầu như cũng có một nội hàm gần tương tự. Nội hàm của khái niệm “chủ nghĩa” đang là một trong những vấn đề rất lớn trong lý luận của khoa học pháp lý hiện nay ở Việt Nam. Từ điển tiếng Việt của Việt Nam định nghĩa: Chủ nghĩa là hệ thống các quan niệm, đạo đức, văn học, nghệ thuật, được coi là lý luận cơ bản hướng dẫn mọi mặt hoạt động.
Từ điển chính quyền và chính trị Hoa Kỳ của Jay M. Shafritz ghi nhận: Chủ nghĩa hiến pháp là sự phát triển của những tư tưởng hợp hiến qua nhiều thời đại. Trong khi lý luận cổ điển về hiến pháp thường phải quay về với những tư tưởng của Aristotle, thì của lý luận hiến pháp hiện đại lại xuất phát từ những tư tưởng khế ước xã hội thế kỷ XVII. Những biểu hiện đặc trưng của Hiến pháp là khái niệm về một chính phủ hữu hạn mà thẩm quyền tối hậu của nó luôn luôn phải tuân thủ sự đồng ý của người bị cai trị.
Giáo sư Hamilton của Đại học Yale (Mỹ) cho rằng “chủ nghĩa hiến pháp là cách gọi niềm tin của con người vào ngôn từ được soạn trên giấy để ổn định nhà nước”. Với cách định nghĩa hẹp như vậy thì học giả nhấn mạnh rằng “chủ nghĩa hiến pháp phát triển rực rỡ từ năm 1776”. Nhiều luật gia cho rằng, năm 1776 (trước khi Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ra đời một năm) là một mốc đánh dấu cho sự xuất hiện của chủ nghĩa hiến pháp hiện đại (modern constitutionalism). Điều này xuất phát từ bối cảnh lịch sử thay đổi thời điểm bấy giờ tại Hoa Kỳ khi chủ nghĩa hiến pháp xuất hiện đồng thời với chủ nghĩa cộng hòa (republicanism).
3. Sự ra đời của chủ nghĩa Hiến pháp
Chính phủ hiến pháp bắt nguồn từ những ý tưởng chính trị tự do ở Tây Âu và Hoa Kỳ là hình thức bảo vệ quyền cá nhân đối với sinh mạng và tài sản, tự do tôn giáo và ngôn luận. Ðể bảo đảm những quyền này, những người soạn thảo hiến pháp đã nhấn mạnh kiểm soát đối với quyền lực của mỗi ngành trong Chính phủ, bình đẳng trước pháp luật, tòa án công bằng và tách biệt nhà thờ khỏi nhà nước. Những đại biểu điển hình của truyền thống này là nhà thơ John Milton, luật gia Edward Coke và William Blackstone, các chính khách như Thomas Jefferson và James Madison, và những triết gia như Thomas Hobbes, John Locke, Adam Smith, Baron de Montesquieu, John Stuart Mill.
Chính phủ hợp hiến hiện đại gắn bó chặt chẽ với kinh tế và quyền lực của túi tiền, do ý tưởng cho rằng, những ai đóng thuế cho Chính phủ hoạt động phải được đại diện trong Chính phủ đó. Nguyên tắc cung cấp kinh tế và giải quyết khiếu nại đi đôi với nhau là yếu tố mấu chốt của Chính phủ hợp hiến hiện đại; sự phát triển của các thể chế đại diện và tinh thần đoàn kết dân tộc đối lập với sự tuân thủ tượng trưng đối với nhà Vua và tòa án, đã hạn chế có hiệu quả trên thực tế quyền lực của nhà Vua.
Trật tự hợp hiến của xã hội Hoa Kỳ được xây dựng trên nền tảng sự nhất trí của công dân tự do và có lý trí, thể hiện trong biểu tượng "khế ước xã hội" làm cơ sở để đạt được những mục đích nhất định. Thuyết "khế ước xã hội" cực thịnh ở châu Âu thế kỷ 17 và 18, gắn liền với tên tuổi nhà triết học Anh Thomas Hobbes, John Locke và nhà triết học Pháp Jean-Jacques Rousseau. Những nhà tư tưởng này đã giải thích nghĩa vụ chính trị của các cá nhân đối với cộng đồng trên cơ sở lợi ích và lý trí, và họ cũng nhận thức rõ những lợi thế của xã hội dân sự nơi mà cá nhân có cả quyền và nghĩa vụ so với những bất lợi của "nhà nước tự nhiên", một giả thuyết về sự vắng mặt hoàn toàn của quyền lực Chính phủ. Ý tưởng "khế ước xã hội" phản ánh nhận thức cơ bản rằng, một cộng đồng chứ không chỉ là một Chính phủ khả thi phải được thiết lập nếu có một Chính phủ tự do và nếu con người được bảo vệ chống lại sự tấn công của những ham muốn đồng nghĩa với tình trạng hỗn loạn, bạo ngược và nổi loạn chống lại trật tự hợp lý sẵn có. Trong tạp chí "Người theo chủ nghĩa liên bang” (số 2), John Jay lập luận rằng, cá nhân có thể từ bỏ một số quyền tự nhiên cho xã hội nếu Chính phủ có quyền lực cần thiết để bảo vệ lợi ích chung. Kết quả là sự tham gia của công dân vào nền dân chủ hợp hiến đi kèm với trách nhiệm tuân thủ luật pháp và các quyết định của cộng đồng trong các vấn đề chung, thậm chí khi cá nhân bất đồng gay gắt. Aristotle và Spinoza đều cho rằng, cả "kẻ súc sinh" tức là tội phạm vô Chính phủ, và "kẻ bề trên" tức sẽ trở thành nhà độc tài, đều sử dụng luật pháp theo ý mình và phải bị khuất phục hay tẩy chay khỏi xã hội. Hobbes, Locke và những nhà sáng lập nước Mỹ đều đồng ý như vậy. Ðây là điều kiện tiên quyết của xã hội dân sự. Luật pháp và chính sách của Chính phủ hợp hiến không chỉ bị giới hạn về phạm vi mà còn dựa trên sự nhất trí nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân nói chung, và từng cá nhân nói riêng, trong xã hội đó.
4. Các yếu tố cấu thành của chủ nghĩa Hiến pháp
Thứ nhất, chủ nghĩa hiến pháp đòi hỏi phải có Hiến pháp được một Hội đồng lập hiến hoặc Quốc hội thông qua theo một thủ tục đặc biệt khác làm luật
Hiến pháp là một văn luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, là luật của các luật, là đạo luật cao nhất mà các văn bản pháp luật phải làm gốc để ban hành những quy định không được trái với Hiến pháp. Hiến pháp chính là một văn bản quy định thể chế nhà nước, có tác dụng làm cho mọi người hạnh phúc hơn. Đó là vị trí, vai trò và chức năng quan trọng của một quốc gia. Khi nhân dân giao quyền lực cho nhà nước và sự xuất hiện của nhà nước chính là một sự cứu cánh chó sự diệt chủng của loài người, nếu loài người vẫn đi theo con đường của chế độ xã hội thị tộc nguyên thủy.
Theo đó, Hiến pháp sẽ do Quốc hội thông qua với thủ tục đặc biệt hơn bao gồm các bước: Đề xuất xây dựng, sửa đổi Hiến pháp, quyết định việc xây dựng, sửa đổi Hiến pháp, quyết định các nguyên tắc nền tảng của Hiến pháp, xây dựng Dự thảo Hiến pháp, tham vấn nhân dân, thảo luận, thông qua, trưng cầu ý dân về sửa đổi hiến pháp và công bố. Quốc hội có chức năng lập hiến tập trung nhất thông qua quyền biểu quyết dự thảo hiến pháp. Tại một phiên họp toàn thể, Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua Dự thảo. Và dự thảo chỉ được thông qua khi có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội tán thành khác với việc thông qua các văn bản luật chỉ cần quá nửa số đại biểu Quốc hội thông qua. Sau khi được Quốc hội thông qua, để đảm bảo quyền lập hiến của nhân dân, sẽ tiến hành lấy ý kiến của người dân về việc ban hành những nội dung trong hiến pháp.Đối với nước ta thì ngoài hiến pháp năm 1946 ra thì các bản hiến pháp ban hành sau này của Việt Nam không quy định bắt buộc “phúc quyết toàn dân” đối với sửa đổi Hiến pháp.
Thứ hai, chủ nghĩa hiến pháp gắn liền với mục tiêu hạn chế quyền lực của nhà nước nên việc tổ chức nhà nước phải theo nguyên tắc phân quyền
Đây là một trong những yếu tố căn bản của chủ nghĩa Hiến pháp. Nhà nước ta được quản lý bởi ba nhánh quyền lực nhà nước là hành pháp, lập pháp và tư pháp. Những cơ quan này có chức năng quản lý những công việc thuộc phạm vi của mình nhưng cùng phối hợp với nhau để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Hiện nay có ba loại chính phủ phải chịu trách nhiệm tương ứng với ba loại phân quyền là phần quyền mềm dẻo, tức là Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước một Quốc hội – một hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước của nhà nước tổ chức theo chế độ đại nghị. Đối với phân quyền cứng rắn, Chính phủ không chịu trách nhiemj trước Quốc hội, mà phải chịu trách nhiệm trực tiếp với nhân dân. Đây là một hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước của các nhà nước tổ chức theo chế độ tổng thống. Đối với phân quyền hỗn hợp, Chính phủ chịu trách nhiệm với những hoạt động của mình trước Quốc hội, Tổng thống hay Thủ tướng – ngươi đứng đầu nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm trước cử chi.
Tiêu điểm của việc kiểm soát quyền lực nhà nước chính là Chính phủ – cơ quan hành pháp phải chịu trách nhiệm đối với những nhiệm vụ và công việc được giao và được kiểm soát theo hình thức từ bên trong. Trong tất cả các bộ phận cấu thành nên quyền lực nhà nước kể từ cơ quan lập pháp cho đến hành pháp và kể cả tư pháp, chỉ có cơ quan hành pháp là thể hiện nguyên hình nhà nước nhất.
Đối với quyền lực nhà nước tại Việt Nam thì quyền lực được chia thành ba nhánh quyền lực tương tự theo như quy định tại khoản 3, Điều 2 của Hiến pháp như sau: ‘3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.”
+ Đối với lập pháp: Đây là cơ quan thuộc một trong ba chức năng chính của nhà nước, song hành cùng các quyền như quyền hành pháp và quyền tư pháp để tổng hợp thành quyền lực nhà nước. Chịu trách nhiệm ban hành và thông qua các văn bản pháp luật liên quan đến mọi vấn đề đời sống xã hội. Đứng đầu là Quốc hội, thực hiện quyền lập hiến và lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng, cốt yếu của đất nước. Tại các địa phương sẽ có cơ quan Hội đồng nhân dân các cấp, đại diện cho quyền lực của nhân dân.
+ Hành pháp: Là một trong ba chức năng chính của nhà nước, cùng các nhánh quyền lực khác phối hợp tạo nên một thể thống nhất quyền lực nhà nước. Hành pháp chính là việc thi hành thoe quy định tại Hiến pháp, căn cứ theo Hiến pháp để thực hiện các công việc về quản lý, giám sát những hoạt động của cơ quan cấp dưới. Đại diện cho hành pháp chính là Chính phủ và các cấp địa phương sẽ có Ủy ban nhân dân.
+ Tư pháp: Đây là cơ quan chịu trách nhiệm xét xử, căn cứ theo những điều luật quy định để thực hiện chức năng chình của quyền lực nhà nước trừng trị tội phạm cũng như giải quyết các xung đột giữa các cá nhân. Đứng đầu là Tòa án và có các cơ quan tố tụng khác.
Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy ở bất kỳ quốc gia nào thì nhu cầu có một cơ quan tư pháp độc lập là điều rất quan trọng khi cách giải quyết vấn để của một số bộ phận người lãnh đạo, cán bộ hiện nay đang bị đồng tiền chi phối. Mục đích của việc xây dựng cơ quan tư pháp độc lập chính là ngăn không cho các ngành khác vượt quá giới hạn của Hiến pháp, đặc biệt là khi có những vụ án liên quan đến quyền con người.
Nói tóm lại, hiến pháp có địa vị rất quan trọng đối với nhà nước, đây chính là một đạo luật tối cao của quốc gia, quy định cách tổ chức bộ máy nhà nước và thông qua nhà nước thì con người mới có thể phát triển và đạt được những thành tựu như ngày nay. Là một phần quan trọng của nhà nước pháp quyền. Nhà nước pháp quyền là một nhà nước hợp hiến, chính quyền nhà nước được thành lập thông qua những cuộc bầu cử chân chính và có sự giới hạn quyền lực nhà nước, với mục tiêu bảo vệ quyền con người. Và cũng dựa từ những yếu tố cấu thành của chủ nghĩa hiến pháp nói ở phần trên, chúng ta có thể nhận thấy chủ nghĩa hiến pháp hay pháp quyền khi du nhập vào các nước theo truyền thống phpas luật dân luật như Pháp và Đức đều xuất hiện thêm chữ “nhà nước” theo cách dịch của các nước này. Nhà nước chính là thiết chế đảm bảo cho chế độ pháp quyền. Và tại Việt Nam chúng ta thường hay sử dụng cụm từ nhà nước pháp quyền thay cho cụm từ chủ nghĩa hiến pháp. Ngược lại so với các nước phương tây cụ thể là Anh và Mỹ là biểu tượng của truyền thống pháp luật Thông luật đều giữ lại nguyên bản hai chữ “pháp quyền” để thể hiện thể chế chính trị.
5. Mối quan hệ giữa chủ nghĩa Hiến pháp và lý thuyết về Nhà nước pháp quyền
Giữa chủ nghĩa Hiến pháp và lý thuyết về nhà nước pháp quyền có mối quan hệ rất mật thiết với nhau. Hầu hết những đòi hỏi của nhà nước pháp quyền đều là những đòi hỏi của chủ nghĩa Hiến pháp. Đó là những đặc điểm mọi chủ thể mang quyền lực nhà nước đều phải đứng dưới hiến pháp là pháp luật, tổ chức quyền lực nhà nướcphải tuân theo nguyên tắc phân quyền.Sự giới hạn vàkiểm soát quyền lực nhà nước đặt nhà nước dưới sự điều chỉnh của pháp luật. Mọi hoạt động của nhà nước phải dựa trên pháp luật, không được tùy tiện…Chính vì lẽ đó không ít tác giả cho rằng chủ nghĩa Hiến pháp là một phần cơ bản của nhà nước pháp quyền, trong khi đó cũng không ít tác giả lại cho rằng chủ nghĩa Hiến pháp là tương đương với nhà nước pháp quyền.
Nhưng giữa chúng vẫn có sự khác nhau, tạo nên sự khác nhau của hai học thuyết/ hai luận thuyết chính trị. Nếu như ở chủ nghĩa Hiến pháp nguồn gốc quyền lực nhà nước phải thuộc về nhân dân, thì ở nhà nước pháp quyền thì lại không là nhất thiết.Tư tưởng, lý thuyết về quan hệ giữa quyền lực nhà nước và quyền lực của nhân dân. Quyền lực nhà nước là do nhân dân trao cho, có giới hạn và phải chịu sự kiểm soát. Đó là những nội dung cốt yếu của chủ nghĩaHiến pháp. Trong khi đó nhà nước pháp quyền lại gắn chặt chẽ với một xã hội dân sự
Việt Nam có 4 bản Hiến pháp,nội dung của các bản Hiến pháp này về cơ bản không khác gì với phương Tây.Nhưng đi vào cụ thể có những điểm khác.Cái khác căn bản ở đây là chúng ta có Hiến pháp nhưng chưa có tinh thần của chủ nghĩa Hiến pháp.Sự xuất hiện của Hiến pháp thành văn, cũng những tư tưởng về Hiến pháp ít nhiều đã khẳng định tính giới hạn quyền lực nhà nước đã xuất hiện. Nói một cách chuẩn xác là chúng tavẫn ít có chủ nghĩa Hiến pháp.Điều khẳng định trên có thể chứng minh một cách dễ dàng qua nội dung các quy định Hiến pháp, cũng thông qua thực tế thực thi các quy định của Hiến pháp. Một khi những tiêu chí đòi hỏi của chính bản Hiến pháp chưa thể hiện được những yêu cầu của Hiến pháp trong Chủ nghĩa Hiến pháp thì lẽ đương nhiên rất khó cho việc thực hiện chủ nghĩaHiến pháp.
Nhưng năm gần đây thuật ngữ "nhà nước pháp quyền” được nhắc đi, nhắc lại rất nhiều lần, nhưng ngược lại thuật ngữ chủ nghĩa Hiến pháp chưa một lần nào được xuất hiện. Bên cạnh đó chủ thể vi phạm Hiến pháp cũng chưa được xác định một cách rõ ràng ngay cả trong nhận thức của xã hội lẫn thực tiễn thực thi. Khẩu hiểu: "Toàn Đảng, toàn dân nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật” có thể chứng minh được nhận định này. Hiến pháp được làm ra không phải cho người dân phải có trách nhiệm thực hiện, mà trách nhiệm thực thi Hiến pháp thuộc về các cơ quan nhà nước. Càng có nhiều thẩm quyền bao nhiêu, thì càng phải có trách nhiệm phải thi hành Hiến pháp bấy nhiêu.
Những năm gần đây thuật ngữ "nhà nước pháp quyền” được nhắc đi, nhắc lại rất nhiều lần, nhưng ngược lại thuật ngữ "chủ nghĩa Hiến pháp” chưa một lần nào được xuất hiện trong các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Bên cạnh đó chủ thể vi phạm Hiến pháp cũng chưa được xác định một cách rõ ràng ngay cả trong nhận thức của xã hội lẫn thực tiễn thực thi. Khẩu hiểu:"Toàn Đảng, toàn dân nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật”có thể chứng minh được nhận định này. Hiến pháp được làm ra không phải cho người dân phải có trách nhiệm thực hiện. Trách nhiệm thực thi Hiến pháp thuộc về các cơ quan nhà nước. Càng cao bao nhiêu càng có nhiều thẩm quyềnbao nhiểu, thì càng phải chính sách trsch nhiệm thi hành Hiến pháp bấy nhiêu. Nhưng rất tiếc rằng, theo tinh thần các quy định của Hiến pháp, mọi người dân, mọi chủ thể trong xã hội đều có trách nhiệm thi hành Hiến pháp. Theo quy tắc của nguyên tắc tập trung, sức nặng của việc tuân thủ các quy định của Hiến pháp được dồn xuống dưới. Theo chiều ngược lại chức năng giám sát việc tuân thủ Hiến pháp được Hiến pháp giao cho tất cả các cơ quan nhà nước, từ Ủy ban nhân dân cấp xã cho đến Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam. Càng cao bao nhiêu càng có trách nhiệm giám sát việc thi hành Hiến pháp bấy nhiêu. Thật là khó khăn thay, khi chủ thể có khả năng vi phạm Hiến pháp nhất lại được Hiến pháp giao cho việc giám sát vi thi hành Hiến pháp.
Bên cạnh việc chuẩn bị sửa đổi Hiến pháp với từng điều khoản của nó. Một công việc cần phải làm ngay là phải tăng cường nhận thức vềChủ nghĩa Hiến pháp: Những nhận thức về tầm quan trọng cũng những yếu tố cấu thành của nó, nhất là những quan niệm có liên quan tức thì đến việc sửa đổi các quy định Hiến pháp và cả bản thân Hiến pháp, để chúng ta sẽ có một bản Hiến pháp chuẩn theo tinh thần của Chủ nghĩaHiến pháp, một cơ sở đầu tiên cho việc thực thi Hiến pháp sau này. Chúng ta cần cả hai thứ, chứ không phải chỉ có một , như những gì đang diễn ra. Nếu không là như vậy thì việc sửa đổi sẽ chỉ là những cố gắng vô ích mà thôi.