- 1. Tổng số đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế ở các nước đang phát triển được chọn
- 2. Mức độ tăng của đơn theo PCT từ năm 1978:
- 3. Bảng thể hiện số lượng đơn theo PCT do người sử dụng PCT ở các nước đang phát triển được lựa chọn nộp:
- 4. Sở hữu trí tuệ và đầu tư:
- 4.1 Khái quát chung:
- 4.2 Phần đóng góp của riêng các nước trong tổng số nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký năm 1996
NỘI DUNG TƯ VẤN
1. Tổng số đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế ở các nước đang phát triển được chọn
Theo thống kê về tổng số đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế ở các nước đang phát triển được chọn (mức tăng trưởng theo phần trăm từ năm 1994 đến năm 1998):
Xu hương tăng trong đơn yêu cầu cấp bàng độc quyền sáng chế đặc biệt dễ nhận thấy ở Nhật Bản, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và châu Âu. Nhật Bản, đã phải mất 95 năm để cấp một triệu bàng độc quyển sáng chế đầu tiên trong khi chỉ mất 15 năm để cấp một triệu bàng tiếp theo. Xu hương rất giống như vậy cũng dễ nhận thấy trong nộp đơn quốc tế theo Hiệp ước hợp tác về Bàng độc quyền sáng chế (PCT) do WIPO quản lý . Đến tháng 8 năm 2002 PCT có 117 quốc gia thành viên. WIPO nhận hơn 103.000 đơn theo PCT trong nãm 2001, tăng 14,3 phần trăm so vói năm 2000. Trong năm thứ 11 liên tục đứng đầu danh sách người sử dụng lớn nhất của hệ thống này là các ngành công nghiệp và nhà sáng chế từ các nước như: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (38,5% tổng số đơn trong năm 2001), Đức (13,1%), Nhật Bản (11,4%), Vương quốc Anh (6,0%) và Pháp (6,0%).
2. Mức độ tăng của đơn theo PCT từ năm 1978:
Tuy nhiên, việc sử dụng PCT đang tâng lên tại các nước đang phát triển nơi đã bắt đầu tích luỹ tri thức và giành được sức mạnh kinh tế (xem Bâng -2.7). Ví dụ số lượng đơn theo PCT do các nước đang phát triển nộp trong năm 2001 đã tăng 70,6 phần trăm, với số lượng lón nhất do ngươi sử dụng ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nam Phi thực hiện. So sánh với SỐ liệu thống kê năm 2000, mức tăng đặc biệt cao ở Trung Quốc (188%), An Độ (103%) và Hàn Quốc (53%).
3. Bảng thể hiện số lượng đơn theo PCT do người sử dụng PCT ở các nước đang phát triển được lựa chọn nộp:
| Nước | 2000 | 2001 | Tỷ lệ tăng trưởng |
| Bra-xin | 161 | 193 | 20% |
| Trung Quốc | 579 | 1670 | 188% |
| Ấn Độ | 156 | 316 | 103% |
| Mê-hi-cô | 71 | 107 | 51% |
| Hàn Quốc | 1514 | 2318 | 53% |
| Sing-ga-po | 225 | 271 | 20% |
| Nam Phi | 386 | 418 | 8% |
Tuy nhiên, dữ liệu hiện có về tẩm quan trọng của SHTT đối với phát triển kinh tế còn khá hạn chế. Bàng chứng thấy được và giải thích được về sự được hay mất trong kinh tế do bào hộ SHTT gây ra hiện còn chưa đầy đủ. Khó có thể phân tích được vai trò của SHTT trong quá trình phát triển kinh tế bđi tính phức tạp của việc tách riêng hoặc cách ly các tác động của bảo hộ sỏ hữu trí tuệ ra khỏi những yếu tố khác có tác động đến những nền kinh tế đang phát triển. Một số chuyên gia lập luận ràng có nhiều khả năng vai trò của SHTT trong phát triển kinh tê' tuỳ thuộc vào trường hợp cụ thể, vdi nhiều biến dạng từ ngành công nghiệp này sang ngành khác, từ nưdc này sang nưdc khác. Nhưng những ngưôi khác khẳng định ràng tình hình mạnh hoặc yếu của SHTT có tdc động mạnh đến đầu tư trực tiếp nưdc ngoài (FDI), đồng thòi mức độ bảo hộ SHTT thđp sẽ ngăn cản những hình thức đổu tư nhất định trong nhiều ngành công nghiệp.
Sự khó khăn trong việc phân tích các khía cạnh kinh tế của sở hữu trí tuệ có thể quy cho tác động qua lại phức tạp của nhiều yếu tố. Tính chất và mức độ cửa sự phức tạp đó có thể thấy rõ thông qua việc khảo sát vai trò của hệ thống bàng độc quyền sáng chế đối vdi thành tựu của nền kinh tế.
Điển hình là một hệ thống bàng độc quyền sáng chế được thiết lập vì các lý do sau đây: (a) để thúc đẩy hoạt động sáng tạo và sáng chế bàng cách ban cấp những độc quyền sở hữu và một khoảng thời gian hdp lý để thu hồi chi phí R&D đối vdi sáng chế, (b) để thúc đẩy đầu tư cho việc thương mại hoá những sáng chế mdi thông qua những độc quyền có giói hạn trong sử dụng và khai thác thương mại đối vdi sáng chế và (c) để quàng bá tri thức và thông tin thông qua việc công bố đơn yêu cầu và cấp bàng độc quyền sáng chế nhàm phục vụ lợi ích của hoạt động nghiên cứu triển khai khác cũng như của toàn xã hội. Các lý do này dường như là thích hợp và liên quan nhiều vdi các nền kinh tế phát triển hơn là các nưdc đang phát triển hoặc chậm phát triển, do một số yếu tố xung quanh hoạt động sáng tạo và sáng chế ở các nưdc vừa nói tới, bao gồm một hình mẫu SHTT khác phát sinh cùng vdi yêu cẩu đang nổi lên đối vdi việc bào hộ những "sáng chế nông thôn" và tri thức truyền thống. Quả thật, ở các nước đang phát triền đa số đơn yêu cầu cấp bàng độc quyền sáng chế do người nưdc ngoài từ các nưdc phát triển nộp, đồng thời các điều kiện đề xúc tiến đổi mdi ở trong nước đối vđi nhiều lĩnh vực đang còn ở xa mức lý tưỏng, do hạn chế về tài nguyên và những yếu tố khác (hạn chế tiếp cận vdi vật tư, thiết bị, nghiên cứu và khả năng chế thử, thiếu kỹ năng liên quan về chuyên môn và quàn lý, thị trưòng không được tổ chức và V.V.).
Những người chỉ trích hệ thống bàng độc quyền sáng chế giả định ràng bởi vì các yếu tố trên mà phần thưởng kinh tế dành cho sự đổi mói sê chảy từ các nước đang phát triển tòi các nước phát triển và ràng vốn đáu tư trong các nưổc đang phát triền có nhiều khả năng chỉ tập trung vào các hãng do nưóc ngoài sở hữu hoặc kiểm soát. Già định thứ hai trên đây tất nhiên được trông đợi là mang lại khoản tiên thù lao cho các hãng do nưóc ngoài sở hữu. Các yếu tố này nếu xem xét một cách biệt lập thì dường như thể hiện môt sự thiên vị bất lợi cho các nưỏc đang phát triển.
Tuy nhiên, hệ thống bàng độc quyền sáng chế mang lại những lợi ích thực tiễn và tích cực, đặc biệt là đối với các nưàc đang phát triển. Ví dụ, nó trợ giúp cho chuyền giao công nghệ và li-xăng bàng độc quyền sáng chế thông qua việc sử dụng thông tin về bồng độc quyền sáng chế theo cách tích cực . Ngoài ra, hệ thống có thể được sử dụng như công cụ hưống dẫn thực hành trong việc ra quyết định đầu tư tại các công ty đang tìm kiếm giá thấp hơn ở các nước đang phát triển cho hoạt động sàn xuất của họ. Bàng nhiều cách, hệ thống bàng độc quyển sáng chế hoạt động giống như công cụ chỉ thị mức độ bảo hộ được ban cấp để đưa vào áp dụng hoặc chuyển giao tài sản công nghệ tới các nước đang phát triển đồng thời cũng như một sự đánh giá sơ bộ vê rủi ro đối với việc sử dụng một sáng chế mà không được bào hộ đầy đủ theo bàng độc quyển sáng chế trong một ngành cụ thề khi ở đó mức độ cấp bàng độc quyền sáng chế được ghi nhộn là cao. Chất lượng của pháp luật quốc gia về bàng độc quyền sáng chề xác nhộn sự nghiêm túc của các cam kết của một chính phủ trong việc khuyến khích cà sự đổi mới và tôn trọng SHTT liên quan đến đổi mói, đông thời xác nhận lòng tin cùa chính phủ vào vai trò tích cực của hệ thống bàng độc quyền sáng chế đối vói sự phát triển quốc gia.
4. Sở hữu trí tuệ và đầu tư:
4.1 Khái quát chung:
Các nhà kinh tế vẫn chưa nghiên cứu đầy đủ những vấn đề trực tiếp liên quan tới kinh tế và sở hữu trí tuệ. Trong số rất ít ngưòi đề cập đến đề tài này, đang có những ý kiến khác nhau. Một số xác nhộn mối quan hệ tích cực giữa sở hữu trí tuệ và đổi mới, sáng chế, còn những người khác có quan điểm khác/0 Nhiều nhà nghiên cứu khuyến nghị có một mối liên kết giữa sự bào hộ được nâng cao đối vói SHTT và sự tăng trưởng FDI vào một số nươc. Sự gia tăng vững chác và nhanh chóng của FDI ở Ấn Độ (trừ thòi kỳ suy giảm vào năm 1999 do ảnh hưởng bất lợi của cuộc khủng hoảng ở Đông Á) đã rõ ràng kể từ cuộc cài cách về bàng độc quyền sáng chế và nhãn hiệu hàng hoá vào đẩu những năm 1990. Sự gia tăng tương đương ở Bra-xin còn ấn tượng hơn, với sự tăng trưởng ngoạn mục của FDI sau khi một luật mớiyể sở hũơ công nghiệp được đưa vào áp dụng năm 1996, quy định bàng độc quyền sáng chế có thời hạn bảo hộ 20 nãm và dược phẩm chưa đưa ra thị trường được bào hộ theo cơ chế chò sẵn.
Mọi người đều biết ràng đâu tư vào FDI là công việc khá tốn kém. Các nhà đầu tư sẽ dưới mức cho các hoạt động như vậy nếu không được đàm bào ràng có thề thu hoạch phẩn lón nhất trong nhũng lợi nhuận sẽ phát sinh. Có thể lập luận một cách thuyết phục ràng bảo hộ SHTT đóng vai trò xúc tác trong kích thích FDI. Hơn thế nữa, bào hộ sở hữu trí tuệ có tiềm nâng đóng góp tích cực chonhũhg nỗ lực của một đất nước để thu hút FDI, gia tăng ngoại thương và cung cấp các điếu kiện cần thiết cho chuyển giao công nghệ. Sư kết hợp của tất cả các yếu tố này góp phần tăng thêm tiềm nâng cho tăng trưởng mạnh. Ví dụ trong trưòng hợp của Nhật Bàn, nhịp độ phát triển công nghệ kể từ nãm 1945 gán kết một cách đáng kể mặc dù không phài là hoàn toàn với sở hữư trí tuệ và đặc biệt là với hệ thống bàng độc quyền sáng chế, hệ thống đã được sử dụng rộng rãi trong “quá trình đuổi kịp'.
Mối quan hệ giữa hoạt động kinh tế quốc tế và SHTT đối vói các nưóc đang phát triển trong thời kỳ sau TRIPS mới đây được w. Lesser thuộc trường đại học Cornell khảo sát, trong một tài liệu do WIPO đặt hàng. Tác già đã đặc biệt chú ý khảo sát mối liên kết giữa sự bảo hộ SHTT ở mức độ mạnh hơn và hai yếu tố quốc tế: FDI và nhập khẩu. Lesser thông báo vẻ phát hiện cùa Ông ràng "mối liên kết giữa số điểm chấm cho SHTT và FDI cũng như nhập khẩu vừa là tích cực vừa là đáng kể" và kết luận ràng “...xem xét trong bối cành của nhũhg nghiên cứu trưóc đây, kết quà là bàng chứng bát buộc ta phải thừa nhận ràng quyền sở hữu trí tuệ mạnh hơn thực sự mang lại một số lợi ích trong nưóc đối vói các nước đang phát triền."
Đối vói câu hỏi về sở hũư trí tuệ và lợi ích của nó trong phương trình kinh tế, con nhiều khía cạnh tích cực khác nữa nhất là nếu xem xét phần sở hũư trí tuệ ngoài bống độc quyền sáng chế. Hãy lấy trường hợp nhãn hiệu hàng hoá làm ví dụ. Nhãn hiệu hàng hoá là bộ phận quan trọng của hệ thống SHTT và có ánh hưởng mạnh đến đầu tư tư nhân cũng như đến quyết định thương mọi. Nhãn hiệu hàng hoá được sử dụng từ nhiều năm và ở nhiểu nưởc, cả phát triển và đang phát triển . Các quan chức lãnh đạo phụ trách SHTT coi giá trị thị trường của các nhãn hiệu hàng hoá của họ là mệ* phần vốn trí tuệ và vô hình của họ
4.2 Phần đóng góp của riêng các nước trong tổng số nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký năm 1996
Giá trị gia tăng từ các ngành công nghiệp văn hoá (văn học, âm nhạc, nghệ thuật, v.v.) cũng cần được xem xét tương tự. Tại các nưóc đang phát triển, khu vực kinh tế này đang phát triển một cách đáng kể. Quyền tác giả và quyền liên quan của tác giả, người biểu diễn, nhà chế tạo bản ghi âm, tổ chức phát sóng và những ngưòi sáng tạo khác đã một thòi được chú ý bởi những thiệt hại kinh tế mà nạn đánh cắp tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gây ra, nhất là vói phần mềm, âm nhạc và phim. Dựa trên dữ liệu của OECD, tỷ lệ hàng già trên tổng doanh số bán của ngành đã đạt tói 33% trong ngành âm nhạc, 50% trong ngành video và 43% trong ngành phần mềm.
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!