Luật sư tư vấn:

Pháp luật Việt Nam trước đây cũng như hiện nay đều quy định các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản. Biện pháp này được thực hiện dựa trên nhiều yếu tố, trong đó có xét đến phạm vi, hiệu quả của khoản vay. Đồng nghĩa rằng, bảo đảm tiền vay là biện pháp thu nợ dự phòng khi việc thu hồi vốn không thực hiện được, như các luận điểm trong khoa học ngân hàng thường đề cập.

 

1. Các biện pháp bảo đảm tiền vay trong lĩnh vực ngân hàng

Các biện pháp bảo đảm thường được tổ chức tín dụng phân chia dựa trên đặc điểm đối tượng tài sản của hợp đồng bảo đảm, theo 02 (hai) hình thức pháp lý sau đây:

 

1.1 Bảo đảm tiền vay bằng tín chấp:

Quy định về cho vay tín chấp được luật hóa cả trong lĩnh vực ngân hàng, nhưng hiện nay lại bỏ ngỏ cơ chế thực hiện, bao hàm cả trách nhiệm pháp lý phát sinh đối với các tổ chức tín dụng. Pháp luật trao quyền cho các tổ chức tín dụng tự tổ chức thực hiện trên nguyên tắc mang lại hiệu quả, vô hình trung những quy định này đã đẩy rủi ro có thể xảy ra đối với các cá nhân quyết định cho vay có bảo đảm bằng hình thức này.

Với ý nghĩa cho vay tín chấp sẽ tạo thuận lợi cho người vay, ngân hàng không quá lệ thuộc vào tài sản bảo đảm, song, rủi ro khi cho vay theo dạng bảo đảm này là không thể tránh khỏi, nếu khách hàng vay bị mất vốn vì nhiều lý do khác nhau, kể cả những lý do khách quan (ví dụ: do thiên tai, địch họa, do khách hàng bị vi phạm hợp đồng thương mại, đầu tư có tài trợ vốn vay,...). Với những hạn chế này, pháp luật cần phải thiết lập cơ chế pháp lý về cho vay tín chấp, thay vì để tổ chức tín dụng tự tổ chức thực hiện sẽ gặp nhiều khó khăn, rủi ro, kể cả bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong cơ chế này, các nhà làm luật cần xác định những trường hợp (tiêu chí) ngân hàng được phép cho vay tín chấp; xử lý vi phạm hợp đồng; trách nhiệm tổ chức tín dụng, cá nhân nếu để xảy ra tình trạng mất vốn, tránh tâm lý lo ngại khi cho vay.

 

1.2 Bảo đảm tiền vay bằng tài sản:

Hình thức bảo đảm tiền vay bằng tài sản được vận dụng phổ biến tại nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới (ví dụ: Điều 36 Luật Ngân hàng thương mại Trung Quốc; Điều 30.1 Luật Ngân hàng Ba Lan).

Về phương diện nghiệp vụ, các tổ chức tín dụng thường phân loại tài sản bảo đảm thành động sản và bất động sản để thực hiện quy trình, thủ tục giao dịch bảo đảm phù hợp, đúng pháp luật:

- Đối với bất động sản, những tài sản được Nhà nước cho phép giao dịch, thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của bên bảo đảm (ví dụ: nhà đất, công trình, nhà xưởng, dự án đầu tư...), đây là những tài sản có đặc tính dễ quản lý, dễ định giá khi cho vay, nhưng cũng liên tục biến động giá, khó khăn khi xử lý (bán, chuyển nhượng);

Đối với động sản, những tài sản này khó quản lý, dễ bị thất thoát (do dễ dàng chuyển nhượng trên thị trường, một số tài sản không bắt buộc phải qua đăng ký quyền sở hữu, nguy cơ bị chuyển nhượng, bị tịch thu sung công...). Trường hợp tài sản bảo đảm là quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng, tài sản hình thành trong tương lai, thủ tục, xử lý đối với những tài sản dạng này khá phức tạp, nhiều rủi ro do những thay đổi về “trạng thái” tài sản trong quá trình bảo đảm. Chẳng hạn, khi các quyền tài sản chấm dứt do hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng hoặc tài sản hình thành trong tương lai đã hình thành trên thực tế.

Bộ luật Dân sự năm 2015 có bổ sung hai biện pháp bảo đảm mới là “cầm giữ tài sản” và “bảo lưu quyền sở hữu” (Điều 292). Các biện pháp bảo đảm này khi thực thi đã nhận được đánh giá tích cực của các nhà khoa học, vì “phù hợp với tính chất bảo đảm nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ”, tác động mạnh mẽ đến biện pháp bảo đảm nghĩa vụ hợp đồng dân sự, kinh tế. Song, việc áp dụng biện pháp “bảo lưu quyền sở hữu”, theo tác giả chỉ phù hợp cho các giao dịch mua bán tài sản bảo đảm nghĩa vụ thanh toán ngoài lĩnh vực ngân hàng. Trong lĩnh vực cho vay ngân hàng, biện pháp “cầm giữ tài sản” vẫn thường xảy ra đối với các trường hợp cầm giữ sổ tiết kiệm do ngân hàng phát hành khi chưa đến thời điểm đáo hạn, phù hợp với nhu cầu vốn ngay của bên cầm giữ tài sản. Tài sản cầm giữ ở đây là sổ tiết kiệm, với đặc điểm là giấy tờ có giá, thuộc sở hữu của bên vay. Song những rủi ro do cầm cố tài sản này khá cao, thậm chí vi phạm các quy định cho vay như khuyến cáo của ngành ngân hàng, cũng như qua phân tích của các chuyên gia trong lĩnh vực này.

Theo xu hướng phát triển kinh tế quốc tế, hoạt động của các tập đoàn, doanh nghiệp có quy mô lớn không chỉ giới hạn ở phạm vi tài sản có được hiện diện tại một quốc gia. Mở rộng tài sản bảo đảm bằng việc sử dụng động sản (máy móc, thiết bị, nguyên liệu, hàng hóa...) để bảo đảm khoản vay cũng là nhu cầu thiết yếu, khách quan hiện nay. Song, bất cập trong thực tiễn Việt Nam chính là nằm ở khâu kiểm soát tài sản bao gồm cả khâu thẩm định, quản lý, bảo quản, xử lý tài sản là động sản; cơ chế bảo vệ quyền lợi của các tổ chức tín dụng khi tài sản được bảo đảm cho nhiều tổ chức tín dụng vẫn chưa rõ ràng. Đây là những trỗ ngại, làm hạn chế quyền định đoạt của chủ sở hữu, cũng như gián tiếp gây hạn chế các hoạt động cho vay, cần được các nhà làm luật quan tâm khắc phục bằng các quy định cụ thể.

 

2. Mối quan hệ pháp lý đối với hợp đồng bảo đảm

Xét về bản chất, hợp đồng bảo đảm là một phần của hợp đồng cho vay, vì .vậy nội dung hợp đồng bảo đảm được đề cập trong hợp đồng vay hoặc được thiết kế thành một hợp đồng riêng biệt. Hai hợp đồng này phải thể hiện mối quan hệ khăng khít, ràng buộc lẫn nhau về pháp lý, theo đó: i) Hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị vô hiệu mà các bên chưa thực hiện thì giao dịch bảo đảm chấm dứt, nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt; ii) Giao dịch bảo đảm vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp các bên có những thỏa thuận khác (khoản 2 Điều 29 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ).

Quy định của điều luật được viện dẫn đã thể hiện rõ nét mối quan hệ pháp lý giữa hai hợp đồng này như sau:

Thứ nhất, điều luật khẳng định tính độc lập của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, được thực hiện dưới hình thức pháp lý là hợp đồng bảo đảm. Quan hệ giữa hai hợp đồng này là quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ, (cho dù thực tiễn các nghiên cứu khoa học có trường hợp không nhìn nhận) dựa trên đặc điểm nghĩa vụ của hợp đồng đã được luật hóa. Song hiệu lực của hợp đồng bảo đảm lại không phụ thuộc vào hợp đồng cho vay, kể cả khi hợp đồng cho vay bị vô hiệu (khoản 2 Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Quy định này đã làm sáng tỏ rằng, với bản chất của quan hệ vay mượn bắt buộc phải hoàn trả đầy đủ, kịp thời, bên vay ngay từ đầu đã thể hiện ý chí đồng ý, xác lập nghĩa vụ đối với tài sản được bảo đảm, cho dù hợp đồng có phát sinh nghĩa vụ bị vô hiệu thì hợp đồng bảo đảm cũng không bị vô hiệu (quy định này loại trừ trong trường hợp các bên có thỏa thuận thì Tòa án có thể tuyên bô cả hợp đồng bảo đảm bị vô hiệu cùng với hợp đồng cho vay). Khi đó, nếu các bên đã thực hiện một phần nội dung của hợp đồng vay, thì vẫn phát sinh nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Bên cho vay đồng thời là bên nhận bảo đảm được quyền yêu cầu bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (trả nợ) thay cho bên vay.

Thứ hai, giao dịch bảo đảm vô hiệu không làm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng cho vay, bên vay vẫn phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng vay. Quy định này như một sự cam kết của các nhà làm luật bảo vệ quyền lợi của bên cho vay, kể cả trong trường hợp giao dịch bảo đảm bị vô hiệu. Khi đó, các chế tài vi phạm hợp đồng cho vay vẫn phải được đặt ra nếu bên vay vi phạm các điều khoản và điều kiện của hợp đồng, ở trường hợp này, có thể thấy, tuy hợp đồng cho vay không bị vô hiệu, tiền vay, lãi suất không thay đổi nhưng bên cho vay vẫn phải đối diện với những rủi ro là không thu hồi được nợ (do bên vay không có tài sản trả nợ tại thời điểm thanh toán).

Thực tiễn giải quyết tranh chấp minh chứng cho thấy, hợp đồng bảo đảm vô hiệu (không ràng buộc nghĩa vụ bảo đảm) thường xảy ra, gây khó khăn, tạo nguy cơ mất an toàn cho vay. Nguyên nhân, theo tác giả là do tính đặc thù của từng loại tài sản được công nhận hợp pháp và sự đa dạng hình thức sở hữu, nên thực tiễn xảy ra tình trạng, hợp đồng bảo đảm được ký kết không đúng ý chí của chủ sở hữu, trái pháp luật. Những sai phạm này đã được ngành tòa án nhận diện, làm sáng tỏ thông qua các bản án, án lệ được ban hành.

Vấn đề này xảy ra khá phổ biến trong thực tiễn xét xử, nhất là đối với tài sản bảo đảm là tài sản chung, tài sản có thể chuyển nhượng một phần. Chẳng hạn: (1) Đối với tài sản được chuyển nhượng từng phần, thông thường quyền lợi của ngân hàng chỉ được bảo đảm phần tài sản được bảo đảm hợp pháp theo đúng trình tự thủ tục. Các cơ quan tố tụng không được hủy bỏ toàn bộ giao dịch với lý do liên quan đến quyền lợi của chủ thể khác như Án lệ số 11/2017/AL (theo Quyết định số 299/QĐ-CA ngày 28/12/2017) đã nhận diện, giải quyết (Xem: Phụ lục - Vụ án thứ 8); (2) Đối với tài sản chung (của vợ chồng, hộ gia đình, thừa kế chung,...), việc định đoạt tài sản này phải theo thỏa thuận hoặc theo luật định. Bên cạnh đó, chủ sồ hữu tài sản chung phải có nghĩa vụ quản lý đối với tài sản của chính mình trong khôi tài sản chung đó. Nêu khoản tiền giải ngân được sử dụng vì mục đích chung (mua nhà đất, thanh toán nợ chung, sử dụng vào hoạt động kinh doanh chung), vợ, chồng, thành viên hộ gia đình biết rõ giao dịch dưới hình thức xác nhận khoản vay, nhận nợ có ghi rõ thông tin tài sản bảo đảm chung,... cho dù họ không trực tiếp ký kết hợp đồng cho vay, hợp đồng bảo đảm, theo tác giả khi xét xử Tòa án vẫn phải công nhận hợp đồng bảo đảm đó hợp pháp.

Trong phạm vi cuốn sách này, tác giả chỉ dừng lại ở công tác nhận diện những trường hợp điển hình (về hình thức) mối quan hệ này còn tồn tại bất cập như sau:

Các tổ chức tín dụng thường dựa trên dư nợ tín dụng cuốỉ kỳ hạn vay làm cơ sở áp dụng biện pháp bảo đảm. Biện pháp nghiệp vụ này phù hợp cho các khoản vay trung, dài hạn, phù hợp nhu cầu tín dụng biến động liên tục của bên vay. Ví dụ: Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số 402- 200-003/2013/HĐBLTCBĐS-NHNA ký ngày 20/12/2013 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần NA với Công ty cổ phần HC, tại khoản 2, Điểu 1 có ghi nghĩa vụ được bảo đảm không chỉ giới hạn ở phạm vi một thỏa thuận tín dụng cụ thể, mà còn mở rộng bao gồm: “nghĩa vụ phát sinh trước và sau thởi điểm ký kết Hợp đồng này. Từ thỏa thuận bảo đảm này, ngân hàng yêu cầu bên vay thế chấp nhiều tài sản bảo đảm, nhưng các bên không để ra các giải pháp để giải chấp tài sản, chỉ để lại tài sản bảo đảm tương ứng khoản vay, gây khó khăn khi bên vay muôn sử dụng phần tài sản bảo đảm không cần thiết bảo đảm vào các mục đích giao dịch khác.

Song, trở ngại là, bên vay phải sử dụng nhiều tài sản bảo đảm có giá trị cao, bên bảo đảm khó thu hồi phần tài sản bảo đảm để tiến hành xác lập các giao dịch khác nếu họ chưa thực hiện hết nghĩa vụ trả nợ (cho dù tài sản đó có giá trị cao hơn nhiều so với dư nợ tín dụng tại thời điểm đó).

-    Tài sản được bảo đảm cho các khoản vay từng lần vẫn được bên vay lựa chọn áp dụng. Trong trường hợp này, khi có sự thay đổi nhu cầu tín dụng, không ít các ngân hàng do sai sót đã sử dụng lại hợp đồng bảo đảm được ký kết ban đầu, bảo đảm cho các nhu cầu tín dụng (thỏa thuận vay) tiếp sau đó. Hành vi này tạo ra sự thiếu kết nốỉ, ràng buộc giữa hai hợp đồng, gây thiệt hại cho các tổ chức tín dụng, thậm chí vi phạm quy định của pháp luật hình sự về hoạt động cho vay, bị truy cứu trách nhiệm.

Những vướng mắc điển hình trên cần tháo gỡ, thống nhất về quan điểm áp dụng pháp luật, nếu không xử lý, kịp thời có giải pháp cụ thể, sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho tổ chức tín dụng.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hoạt động vay vốn, giải ngân vốn... Quý khác hàng vui lòng gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng, tài chính trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.