1. Một người có thể cho, hiến tinh trùng tại nhiều nơi không?

Tại Điều 4 của Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, có quy định chi tiết về việc cho tinh trùng và noãn như sau:

- Thứ nhất, Người muốn cho tinh trùng và noãn phải trải qua các khám và xét nghiệm để xác định những điều sau: không mắc các bệnh di truyền có thể ảnh hưởng đến thế hệ sau này; không mắc các bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức hoặc kiểm soát được hành vi của bản thân; không nhiễm HIV.

- Thứ hai, Người muốn cho tinh trùng và noãn phải tự nguyện và chỉ được thực hiện tại một cơ sở y tế được Bộ Y tế công nhận có khả năng thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm.

- Thứ ba, Cơ sở y tế thực hiện việc cho tinh trùng và noãn không được tiết lộ thông tin như tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người cho tinh trùng.

- Thứ tư, Tinh trùng và noãn của người cho chỉ được sử dụng cho một người duy nhất. Trong trường hợp không thành công trong việc sinh con, tinh trùng và noãn có thể được sử dụng cho người khác. Tuy nhiên, nếu người cho tinh trùng và noãn đã thành công trong việc sinh con, tất cả tinh trùng và noãn chưa sử dụng sẽ phải được hủy bỏ hoặc hiến tặng cho cơ sở nghiên cứu khoa học.

Theo quy định được nêu trên, tinh trùng hiến tặng chỉ được sử dụng cho một người duy nhất trong quá trình thụ tinh đồng nghĩa với việc là một người không thể cho, hiến tinh trùng tại nhiều cơ sở. Trong trường hợp không thành công trong việc sinh con, mới có thể sử dụng tinh trùng để thụ tinh cho một người khác.

Việc sử dụng tinh trùng từ người hiến tặng cho nhiều người cùng một lần tại một bệnh viện sẽ vi phạm pháp luật. Điều này có nghĩa là việc chia sẻ tinh trùng từ một nguồn duy nhất cho nhiều phụ nữ trong một đợt thụ tinh sẽ bị coi là vi phạm quy định của Nghị định 10/2015/NĐ-CP. Quy định này được thiết lập nhằm đảm bảo tính công bằng và an toàn trong quá trình thụ tinh trong ống nghiệm. Bằng cách giới hạn việc sử dụng tinh trùng từ một người hiến tặng cho một người nhận duy nhất, pháp luật mong muốn đảm bảo rằng quy trình thụ tinh được thực hiện một cách chính xác và có hiệu quả, đồng thời tránh các vấn đề pháp lý và đạo đức có thể phát sinh từ việc chia sẻ tinh trùng cho nhiều người cùng một lần.

Do đó, bất kỳ bệnh viện nào vi phạm quy định này sẽ chịu trách nhiệm pháp lý và có thể bị xử lý theo luật pháp hiện hành. Việc tuân thủ quy định của Nghị định 10/2015/NĐ-CP là cần thiết để đảm bảo quyền lợi và sức khỏe của cả người hiến tặng tinh trùng và người nhận trong quá trình thụ tinh trong ống nghiệm.

 

2. Sử dụng tinh trùng được hiến thụ tinh cho nhiều người bị xử phạt thế nào?

Theo quy định của khoản 3 và khoản 6 Điều 42 Nghị định 117/2020/NĐ-CP, vi phạm các quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm sẽ bị xử phạt như sau:

- Người vi phạm sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng cho một trong các hành vi sau đây:

+ Cung cấp tên tuổi, địa chỉ hoặc hình ảnh của người cung cấp tinh trùng, người nhận tinh trùng hoặc người nhận phôi.

+ Sử dụng tinh trùng hoặc phôi của một người để sử dụng cho từ hai người trở lên, trừ trường hợp không thành công trong việc sinh con.

+ Không hủy hoặc hiến tặng cho cơ sở làm nghiên cứu khoa học tinh trùng hoặc phôi chưa sử dụng hết trong trường hợp sinh con thành công.

+ Không mã hóa tinh trùng hoặc phôi của người cung cấp hoặc mã hóa nhưng không ghi rõ đặc điểm của người cung cấp, đặc biệt là yếu tố chủng tộc.

+ Lưu giữ tinh trùng, phôi tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không được phép thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm.

+ Không hủy số tinh trùng, phôi của người gửi khi tinh trùng, phôi đã chết và cơ sở lưu giữ tinh trùng, phôi nhận được thông báo kèm theo bản sao giấy khai tử hợp pháp từ gia đình người gửi, trừ trường hợp vợ hoặc chồng của người đó có đơn đề nghị lưu giữ và vẫn duy trì đóng phí lưu giữ, bảo quản.

+ Hủy số tinh trùng, phôi của người gửi khi tinh trùng, phôi đã chết và vợ hoặc chồng của người đó đã có đơn đề nghị lưu giữ và vẫn duy trì đóng phí lưu giữ, bảo quản.

+ Không hủy tinh trùng của người gửi trong trường hợp người gửi ly hôn và đề nghị hủy tinh trùng của chính mình.

- Ngoài ra, còn có hình thức xử phạt bổ sung như sau:

+ Đình chỉ hoạt động thụ tinh trong ống nghiệm trong khoảng thời gian từ 01 tháng đến 03 tháng đối với cơ sở vi phạm đồng thời từ 03 hành vi trở lên trong các hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3 và các điểm c, d, đ, e, g của khoản 4 Điều này.

+ Đình chỉ hoạt động thụ tinh trong ống nghiệm trong khoảng thời gian từ 06 tháng đến 12 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b của khoản 4 và khoản 5 Điều này.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 4 của Nghị định 117/2020/NĐ-CP, mức phạt tiền được áp dụng cho cá nhân như sau: Mức phạt tiền đối với cá nhân là mức phạt tiền được quy định trong Chương II của Nghị định này. Trong trường hợp vi phạm cùng một hành vi vi phạm hành chính, mức phạt tiền đối với tổ chức sẽ tương đương với 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Nghị định 117/2020/NĐ-CP, nếu một bệnh viện sử dụng tinh trùng của bạn để thụ tinh cho nhiều người trong cùng một lần, điều này vi phạm quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Trường hợp này, bệnh viện sẽ bị áp dụng mức phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Mức phạt tiền này được xác định dựa trên mức phạt tối đa và tối thiểu quy định trong Nghị định. Bệnh viện sẽ phải chịu mức phạt tiền này nhằm xử lý hành vi vi phạm quy định về sử dụng tinh trùng của bạn cho nhiều người trong cùng một lần trong quá trình thụ tinh trong ống nghiệm. Ngoài việc áp dụng mức phạt tiền, bệnh viện sẽ bị đình chỉ hoạt động thụ tinh trong ống nghiệm từ 01 tháng đến 03 tháng. Điều này có nghĩa là trong khoảng thời gian đó, bệnh viện sẽ không được thực hiện các quy trình thụ tinh trong ống nghiệm. Đình chỉ hoạt động thụ tinh trong ống nghiệm là biện pháp xử lý thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro và đảm bảo tuân thủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm.

Việc áp dụng mức phạt tiền và đình chỉ hoạt động thụ tinh trong ống nghiệm cho bệnh viện là nhằm xử lý hành vi vi phạm, đồng thời tạo ra hậu quả đủ mạnh để cảnh báo và ngăn chặn các vi phạm tương tự trong tương lai. Qua đó, quy định này giúp bảo vệ quyền lợi của người hiến tinh trùng và đảm bảo an toàn, đạo đức và chất lượng trong việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Việc áp dụng mức phạt tiền và đình chỉ hoạt động thụ tinh trong ống nghiệm là một biện pháp cụ thể và nghiêm khắc để đảm bảo tính công bằng và tuân thủ quy định về sinh con. Điều này góp phần xây dựng một môi trường y tế tốt hơn, đảm bảo quyền lợi của người dùng dịch vụ sinh sản và duy trì sự phát triển bền vững của lĩnh vực này.

 

3. Quy định pháp luật hiện hành về việc nhận tinh trùng

Căn cứ theo quy định tại Điều 5 của Nghị định 10/2015/NĐ-CP, có quy định chi tiết về việc nhận tinh trùng, noãn và phôi như sau:

- Đối với việc nhận tinh trùng, người nhận phải là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh, trong đó nguyên nhân vô sinh có thể do người chồng hoặc là phụ nữ độc thân có nhu cầu sinh con. Điều kiện cần đạt của người nhận là đảm bảo chất lượng tinh trùng để thụ tinh.

- Đối với việc nhận noãn, người nhận phải là người Việt Nam hoặc có nguồn gốc Việt Nam, và cũng là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh. Nguyên nhân vô sinh trong trường hợp này là do người vợ không có noãn hoặc noãn không đủ chất lượng để thụ tinh.

- Đối với việc nhận phôi, có các trường hợp sau:

+ Người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh đến từ cả người vợ và người chồng;

+ Người vợ trong cặp vợ chồng đã thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm nhưng không thành công, trừ trường hợp mang thai hộ;

+ Phụ nữ độc thân không có noãn hoặc noãn không đảm bảo chất lượng để thụ tinh.

- Ngoài ra, người nhận tinh trùng, noãn hoặc phôi phải có đủ sức khỏe để thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai và sinh con. Họ không được mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, không nhiễm HIV, không mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A và B. Họ cũng không bị các bệnh di truyền ảnh hưởng đến thế hệ sau và không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức hoặc kiểm soát được hành vi của mình.

- Ngoài ra, các cơ sở khám bệnh và chữa bệnh không được phép tiết lộ tên, tuổi, địa chỉ và hình ảnh của người nhận tinh trùng và phôi.

Như vậy, các quy định trong Nghị định 10/2015/NĐ-CP về việc nhận tinh trùng, noãn và phôi đảm bảo rằng quá trình này được thực hiện theo các tiêu chuẩn y tế và đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan, tôn trọng quyền riêng tư và đảm bảo sự bảo mật thông tin cá nhân của người nhận trong quá trình điều trị vô sinh.

Xem thêm >> Hiến tinh trùng có phải nhận con sinh ra trong ống nghiệm?

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của Luật Minh Khuê về vấn đề trên. Nếu quý khách hàng còn bất kỳ khúc mắc nào xin vui lòng liên hệ tới Tổng đài: 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Xin cảm ơn!