1. Quan điểm của tâm lý học hành vi

Tâm lý học hành vi coi hành vi chỉ đơn thuần là phản ứng trả lời kích thích: S => R, không thừa nhận có sự tồn tại của tâm lý, ý thức và sự tác động của nó đối với hành vi người.
Như vậy, cái hạt nhân hợp lý của thuyết hành vi là ở chỗ: Môi trường có vai trò khơi dậy, kích thích hành vi. Trong môi trường điều kiện hoá chẳng hạn bị kiểm soát chặt chẽ thì hành vi người có thể diễn ra theo công thức S => R. Vận dụng mặt hợp lý này có ý nghĩa nhất định đối với hành vi chấp hành pháp luật nói chung. Chẳng hạn như việc tăng cường kiểm soát hành vi của cán bộ và đối tượng cũng như xử lý nghiêm hành vi vi phạm trong lĩnh vực ANTT sẽ làm giảm được hành vi vi phạm đó.
 Tuy nhiên, quan niệm của thuyết hành vi với công thức S => R, khó có thể lý giải được: Khi cùng một kích thích (S), nhưng lại có các phản ứng (R) khác nhau liên quan tới yếu tố thuộc về chủ thể phản ứng, nó khó thể lý giải hành vi người trong điều kiện thiếu hoặc sự lỏng lẻo trong sự kiểm soát xã hội.

2. Quan niệm của Phân tâm học

 Theo quan điểm của phân tâm học hành vi người do nguồn năng lượng tình dục (libido) bị chèn ép tạo ra và quyết định. Theo S.Freud “Tất cả cái gì ta có được ở con người, dù trong đó có kết quả của giáo dục, chỉ là nguồn năng lượng tình dục (libido) bị chèn ép tạo ra mà thôi”. Người ta phạm tội là do năng lượng tình dục (libido) quá mạnh và thoát ra không hợp lý (không được cái tôi và cái siêu tôi chấp nhận).
Trong tâm lý học, việc đánh giá học thuyết S.Freud còn nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Chúng ta có thể kế thừa “hạt nhân hợp lý” trong quan điểm của S.Freud về cội nguồn của hành vi; về mâu thuẫn, xung đột giữa cái bản năng và cái xã hội, về kinh nghiệm được nội tâm hoá do bị phạt hay được thưởng với các cảm giác có tội hay tự hào giúp cá nhân hành động theo các giá trị xã hội. Những vấn đề này rất có ý nghĩa trong nghiên cứu hành vi, trong đó có hành vi phạm tội, chẳng hạn có giải pháp khai thác “Bản năng sống của con người bằng các hoạt động lành mạnh, để con người giải toả những năng lượng tiềm ẩn một cách có văn hoá". 

3. Quan niệm của Tâm lý học nhân văn

Nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ bậc nhất định từ thấp đến cao: bậc thấp nhất là nhu cầu sinh lý, bậc cao hơn tiếp theo là nhu cầu an toàn, bậc cao tiếp là nhu cầu được yêu thương, bậc nhu cầu được quý trọng, bậc cao nhất là nhu cầu tự khẳng định, thể hiện mình.
Con người có xu hướng tìm cách thoả mãn nhu cầu bậc thấp trước và  khi nhu cầu này được thoả mãn thì nhu cầu bậc cao hơn tiếp theo sẽ xuất hiện và thúc đẩy con người hoạt động để thoả mãn nó.  
Quan điểm trên của tâm lý học nhân văn cho thấy tầm quan trọng của các bậc nhu cầu người đối với hành vi người nói chung và hành vi phạm tội nói riêng. Nó lý giải phần nào trường hợp bần cùng sinh đạo tặc, góp phần minh chứng câu nói của C.Mác: Con người phải nghĩ đến tồn tại đã, sau mới làm ra lịch sử.
Hạn chế của trường phái tâm lý học nhân văn ở chỗ họ dựa trên quan điểm nhìn nhận hành vi người ở góc độ cá nhân mà bỏ qua sự chi phối của cộng đồng xã hội đến hành vi của cá nhân.
  - Năm 1895, Gustave Le Bon đã nghiên cứu và viết về đám đông (một trong những hình thức tồn tại của cộng đồng người) đã chỉ ra rằng: đám đông bao giờ cũng vô thức, dù là bất cứ đám đông nào, dù đó là đám đông cao sang và bác học nhất, như đám đông nghị viện, dù cá nhân hợp thành nó như thế nào, là nông dân, người bình thường, người vô học hay nhà tri thức, nhà khoa học, nhà chính trị tinh tường,v.v... khi đã tham gia đám đông, lập tức tính cách hay trí tuệ của từng cá nhân trong đó hoàn toàn biến đổi, họ hành động hoàn toàn theo những quy luật khác. "Dù những cá nhân hợp thành nó như thế nào, dù đời sống, nghề nghiệp, tính cách hay trí tuệ của những cá nhân ấy giống nhau hay khác nhau ra sao, thì chỉ riêng việc họ chuyển biến thành đám đông, họ đã có một tâm hồn tập thể làm cho họ cảm nhận, suy nghĩ, và hành động theo một cách hoàn toàn khác với cách mà một cá nhân riêng lẻ vẫn cảm nhận, suy nghĩ và hành động. Có những tư tưởng, tình cảm chỉ nảy sinh hay chỉ biến thành hành động của cá nhân khi cá nhân đó nằm trong đám đông”. Tác giả Từ Thanh Hán cũng cho rằng trào lưu xã hội là môi trường bên ngoài, có ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần, sự giao tiếp và hành vi của con người.
- Hành vi của cá nhân còn bị chi phối nhóm mà cá nhân là thành viên bởi những cách thức sau: áp lực của của người đứng đầu và của số đông buộc cá nhân phải tuân theo chuẩn mực nhóm, cá nhân có xu hướng học tập, bắt chước lẫn nhau khi thấy phương thức ứng xử của thành viên khác tỏ ra có hiệu nghiệm để thoả mãn lợi ích của mình, cá nhân muốn khẳng định mình trước các thành viên. 
Từ vấn đề trên cho thấy, hành vi của cá nhân chịu áp lực rất lớn của cộng đồng người. Cho nên lý giải hành vi phạm tội của cá nhân không thể chỉ chú ý đến việc “trị liệu” cá nhân mà cần tính đến căn nguyên mang tính cộng đồng.    

4. Quan điểm của tâm lý học hoạt động

Các nhà tâm lý học hoạt động đều thống nhất cho rằng: Tâm lý có vai trò định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi. Việc nhìn nhận tâm lý người đối với hành vi vi phạm pháp luật nói chung và hành vi phạm tội nói riêng ở các góc độ khác nhau:

4.1 Ở góc độ coi ý thức là chức năng tâm lý cấp cao chỉ có ở người

và  hành vi đặc trưng của người là hành vi do ý thức định hướng, điều khiển, điều chỉnh.
 + Theo A.N. Lêônchiev: Trong bản thân ý thức của con người có cái "nghĩa" và cái "ý"; cả "nghĩa" và "ý" cùng tham gia vào hành động người. Nghĩa là cái khách quan ai cũng hiểu như nhau, còn ý mang tính chủ quan, phụ thuộc vào kinh nghiệm, thái độ,v.v... của mỗi cá nhân. Trong những hoàn cảnh sống nhất định buộc cá nhân phải lựa chọn, thì đó không phải là sự lựa chọn giữa các “nghĩa” mà là lựa chọn cái "ý " của mình.  Điều này càng thể hiện rõ trong thực tế: Trong cùng hoàn cảnh, tình huống như nhau, người này thì lựa chọn phương thức xử sự hợp pháp, còn người khác lựa chọn phương thức ứng xử bất hợp pháp; có khi vẫn hoàn cảnh, tình huống tương tự như hoàn cảnh, tình huống trước đây, nhưng hành vi của cá nhân hiện tại lại có thể thay đổi, diễn ra không giống với khuôn mẫu hành vi trước đây của cá nhân, thậm chí trái ngược hoàn toàn. Có cá nhân, mục đích hành động của họ nhiều khi lấn át mối đe doạ phải chịu trách nhiệm về vi phạm pháp luật, thậm chí tạo ra tình huốn - hoàn cảnh một cách có chủ ý nhằm làm cho hành vi vi phạm pháp luật được thực hiện dễ dàng hơn. Nhiều công trình nghiên cứu đã kết luận: Đối với những người có những sai phạm không đáng kể, thì rất khó chỉ ra những hiện tượng tâm lý tiêu cực cụ thể chi phối hành vi vi phạm pháp luật; nhưng khi đề cập đến người phạm tội, nhất là loại tái phạm thì dễ dàng chỉ ra một số đặc điểm: Thái độ phủ nhận những quy phạm pháp luật cơ bản, ở họ "ít sự kiềm chế bản thân", có những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà nhiều khi những người bình thường "khó tưởng tượng", "rất bất ngờ", "thật khó hiểu". Những hiện tượng tâm lý này, bất kể tình huống khó khăn hay dễ dàng, thường khiến cá nhân lựa chọn con đường vi phạm pháp luật.  
Tuy giữ vai trò không bằng "ý" của cá nhân, nhưng "nghĩa" khách quan - tình huống cũng chi phối hành vi vi phạm pháp luật. Vai trò của tình huống chi phối hành vi vi phạm pháp luật thể hiện rất rõ trong những tình huống sau: Tình huống xung đột, mâu thuẫn nội bộ lâu dài đã phát sinh tâm lý, hành vi vi phạm pháp luật trong đó có tội phạm. Tình huống thuận lợi cho hành vi phạm tội diễn ra khiến nhiều thứ dễ trở thành sự "hấp dẫn", "miếng mồi ngon" cho tội phạm, dễ làm suy yếu tự kiềm chế tâm lý, làm lung lay những thái độ đối với chuẩn mực xã hội và tạo nên những điều kiện thuận lợi cho hành vi vi phạm pháp luật diễn ra (có nhiều người lên án buôn lậu nhưng thật đáng tiếc, những người đó khi gặp món hời, giá rẻ từ hàng hoá do buôn lậu lại vội vàng mua khi chính họ biết rằng những hành động như thế là tiếp tay cho buôn lậu, nhưng vì trong tâm lý họ suy nghĩ rằng chúng không gây thiệt hại gì lắm cho xã hội, đôi bên cùng có lợi). Vì vậy, trong phòng chống những vi phạm pháp luật cần chú ý không chỉ phương diện tâm lý của đối tượng mà còn chú ý cả môi trường, tình huống nơi thực thi các quy định của pháp luật có tính "hấp dẫn", “dễ dàng”, cho hành vi vi phạm diễn ra hay không.
 + Nhìn nhận ý thức gồm ba mặt nhận thức, thái độ và mặt năng động của ý thức đối với hành vi
Sự tương tác giữa ba mặt nhận thức, thái độ và mặt năng động của ý thức đối với hành vi có thể xẩy ra những trường hợp sau:
 Trường hợp thứ nhất: Nếu cá nhân nhận thức đúng, đầy đủ và có thái độ đúng đối với pháp luật thì phần lớn sẽ dẫn tới hành vi chấp hành đúng  pháp luật. Một số trường hợp cá nhân có hành vi mang đầy đủ dấu hiệu khách quan của hành vi vi phạm pháp luật nhưng vì tình huống bất khả kháng như sự kiện bất ngờ, bị khống chế không còn khả năng từ chối, xử sự trong tình thế cấp thiết. Những hành vi trong những tình huống này của chủ thể được xác định là không có lỗi, nên không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật - không bị coi là người có hành vi vi phạm. Trường hợp thứ nhất là mục tiêu cần đặt ra đối với giáo dục pháp luật cho mọi người. 
Trường hợp thứ hai: Cá nhân có nhận thức đúng và đầy đủ về pháp luật, nhưng thái độ không tôn trọng, coi thường pháp luật, thì khi gặp tình huống, cá nhân dễ có hành vi vi phạm pháp luật. Vì những công trình nghiên cứu tâm lý học và tội phạm học do nhiều tác giả tiến hành đã nêu quy luật quan trọng có liên quan với nhau dẫn tới hành vi vi phạm pháp luật: Khi có sự tách biệt nội dung khách quan của tình huống và ý   chủ quan của chủ thể về tình huống thì cá nhân xử sự phần lớn theo ý chủ quan của họ.
Trường hợp thứ ba: Vốn hiểu biết về pháp luật của cá nhân chưa đầy đủ, chưa đúng về  pháp luật, nhưng có thái độ tôn trọng pháp luật thì hành vi chấp hành pháp luật của chủ thể có thể bao gồm cả hành vi chấp hành đúng pháp luật hay vi phạm  pháp luật; điều này tuỳ thuộc vào mức độ nhận thức đúng đắn của cá nhân về từng nội dung cụ thể của pháp luật liên quan. Trong trường hợp này nếu xảy ra việc cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật thì thực sự cá nhân trở thành "nạn nhân" của chính sự thiếu hiểu biết về   pháp luật liên quan. Có thể có hành vi đúng luật nhưng chủ thể lại không hề có sự hiểu biết về những quy phạm pháp luật liên quan. Hành vi chấp hành đúng pháp luật trong tình trạng như vậy mang tính "ngẫu nhiên" đúng. Thông tin pháp luật nói chung và thông tin về pháp luật thông qua các kênh khác nhau đến với cá nhân giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi. Thiếu hiểu biết cần thiết về những quy định, có thể dẫn đến tình trạng nhiều cá nhân đứng trước tình huống, sự kiện liên quan tới pháp luật không biết giải quyết hành vi theo hướng nào cho đúng. Điều này, có thể dẫn tới hành vi vi phạm pháp luật do hiểu biết của mình hoặc có thái độ tưởng như "thờ ơ" đối với các sự kiện liên quan tới pháp luật.
Trường hợp thứ tư: Chủ thể nhận thức không đầy đủ, không đúng về  pháp luật và có thái độ không tôn trọng nó thì hành vi chấp hành pháp luật   của chủ thể có thể bao gồm hành vi chấp hành đúng hay không đúng pháp  luật hoàn toàn mang tính "ngẫu nhiên".
 Những trường hợp khác: Ngoài bốn trường hợp trên, có thể xẩy ra những trường hợp khác, nhưng không nhiều. Có thể xẩy ra tình trạng bản thân có nhận thức đúng về những quy định của pháp luật và có thái độ tôn trọng nó; nhưng vẫn có thể có hành vi vi phạm pháp luật do những nguyên nhân khác nhau: Khả năng chú ý, quan sát bị hạn chế; hiện tượng "mải vui" do nguyên nhân tâm sinh lý lứa tuổi; thiếu kỹ năng liên quan.

4.2 Dưới góc độ vai trò của định hướng giá trị đối với hành vi nói chung và hành vi phạm tội nói riêng

Kết quả nghiên cứu của Đề tài khoa học thuộc chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX - 07: “Con người Việt nam mục tiêu động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”, đã kết luận: Định hướng giá trị là thành phần quan trọng cơ bản của nhân cách. “Hoạt động thông qua thang giá trị, thước đo giá trị, định hướng giá trị là bản thể của nhân cách”. “Nhân cách là mối quan hệ - mức độ phù hợp giữa thang giá trị, thước đo giá trị của chủ thể với thang giá trị, thước đo giá trị của nhóm, cộng đồng xã hội, nhân loại. Mức độ phù hợp càng cao - nhân cách càng lớn. Vì vậy, khi nghiên cứu nguyên nhân tâm lý của hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, trong đó có hành vi phạm tội thì cần tập trung nghiên cứu sự sai lệch trong định hướng giá trị của cá nhân.
Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng có thể xem là có giá trị, dù đó là vật thể hay tư tưởng, miễn nó được chủ thể thừa nhận, cần đến nó để thoả mãn nhu cầu hoặc cấp cho nó có một vị trí quan trọng trong đời sống của họ. Chủ thể là con người - có thể đó là cá nhân, một nhóm người hay một xã hội. Một hòn đá khi không có quan hệ với con người thì nó chưa có giá trị, nhưng khi con người dùng để ngồi hoặc làm vật chặn giấy tờ thì hòn đá trở nên có giá trị. Tương tự như vậy một khổ giấy nhỏ, một mảnh vải cấu tạo thành lá cờ thì những người chiến sỹ lại dám hy sinh để bảo vệ nó vì đó là hồn nước, là biểu hiện giá trị tinh thần của cả dân tộc. Có những vật tưởng chừng như không có giá trị, nhưng khi con người đặt đức tin vào nó thì nó lại có giá trị. 
Cần phân biệt cái bản chất và quy luật của sự vật hiện tượng với cái gọi là giá trị của nó: bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng tồn tại một cách khách quan, còn giá trị của sự vật hiện tượng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với nhu cầu, tuỳ theo con người có hay không có nhu cầu về sự vật hiện tượng nào thì sự vật, hiện tượng đó có hay không có giá trị. Do vậy khi xem xét giá trị của sự vật hiện tượng nào đó thì điều cơ bản là xem nó trong mối quan hệ với nhu cầu của từng chủ thể. Trong mỗi giai đoạn của cuộc đời cá nhân có thể một đối tượng nào đó có giá trị đối với họ, nhưng trong một giai đoạn khác chính cái đó lại trở thành vô ích. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi thời đại, mỗi giai cấp mỗi dân tộc có thể có những cái trở thành giá trị chung, nhưng cũng có những giá trị khác nhau.
 Hệ giá trị: còn gọi là hệ thống giá trị là một tổ hợp các giá trị khác nhau muôn màu muôn vẻ được sắp xếp, hệ thống lại thành một tập hợp mang tính toàn vẹn. Hệ thống này mang tính lịch sử, bị chế ước bởi lịch sử; nó có thể chứa đựng cả các thành phần của quá khứ, hiện tại và cả những thành phần có thể có trong tương lai, các giá trị truyền thống, các giá trị thời đại, các giá trị có tính nhân loại, các giá trị có tính dân tộc, các giá trị có tính cộng đồng, tính giai cấp, các giá trị có tính lý tưởng và giá trị có tính hiện thực.
Thang giá trị: là các thành phần trong hệ thống giá trị được sắp xếp theo một trật tự ưu tiên - thứ bậc nhất định; do vậy có thể các cá nhân có thể giống nhau về hệ giá trị song lại khác nhau về thang giá trị. Ví như ba cá nhân có hệ giá trị giống nhau (tiền, gia đình, công danh, sức khoẻ), nhưng có thể có thang giá trị khác nhau (cá nhân A coi tiền là bậc thang quan trọng nhất, sau đó là gia đình xếp ở bậc thang thứ hai, công danh ở bậc thang thứ ba, sức khoẻ ở bậc thang cuối cùng; cá nhân B coi gia đình là bậc thang quan trọng nhất, sau đó là tiền xếp ở bậc thang thứ hai, công danh ở bậc thang thứ ba, sức khoẻ ở bậc thang cuối cùng, cá nhân C coi công danh là bậc thang quan trọng nhất, sau đó là tiền xếp ở bậc thang thứ hai, gia đình ở bậc thang thứ ba, sức khoẻ ở bậc thang cuối cùng). Thước đo giá trị: là thang giá trị được vận dụng để đánh giá và tự đánh giá một hiện tượng, một cử chỉ, một cách ứng xử hoặc được sử dụng để thực hiện một hành vi, một hoạt động. Do thước đo giá trị khác nhau này mà các cá nhân có đánh giá, nhìn nhận từ đó có quan hệ ứng xử, giao tiếp với các cá nhân khác nhau. 
Thang giá trị và thước đo giá trị cũng được hình thành và thay đổi theo sự phát triển và biến đổi của xã hội loài người, của dân tộc, của cộng đồng và của các nhân. Chúng là động lực thôi thúc con người hoạt động tạo ra những giá trị nhất định phục vụ cho nhu cầu và lợi ích của con người và cũng chính trong quá trình hoạt động tạo ra hoặc chiếm lĩnh các giá trị đó lại góp phần khẳng định, củng cố, phát huy bổ sung, hoàn thiện hoặc thay đổi hệ giá trị, thang và thước đo giá trị.
Định hướng giá trị: Có nhiều định nghĩa với những từ ngữ không giống nhau nhưng giữa các định nghĩa đó có những nội dung chung sau: Định hướng giá trị là việc chủ thể hướng vào các giá trị, thang và thước đo giá trị có ý nghĩa cơ bản đối với chủ thể, nó là cơ sở bên trong của hành vi, quyết định lối sống của chủ thể. Quá trình định hướng giá trị được hình thành trong quá trình chủ thể gia nhập vào các quan hệ xã hội và luôn chứa đựng các yếu tố nhận thức (đánh giá), ý chí và cảm xúc cũng như các khía cạnh của đạo đức, thẩm mỹ trong sự phát triển nhân cách. Trong nội dung của định hướng giá trị, các nhà nghiên cứu thường đề cập tới các định hướng giá trị sau: Định hướng giá trị chung của nhân loại, định hướng giá trị nhân cách, định hướng các giá trị nghề nghiệp. 
Khi xác định thái độ và hành vi ứng xử của mình đối với các chuẩn mực xã hội, con người (các cá nhân, các nhóm xã hội) thường dựa vào định hướng giá trị của mình và định hướng giá trị đó chi phối động cơ hành động, ảnh hưởng đến việc chọn lựa các mục tiêu ứng xử và các phương tiện đạt mục tiêu ấy; đặc biệt trong những tình huống phức tạp, xung đột thì chi phối trên càng thể hiện rõ.
Những công trình nghiên cứu khoa học chứng minh rằng: những hành vi sai lệch xã hội thường có quan hệ biện chứng với những sai lệch của định hướng giá trị của cá nhân
 Hành vi sai lệch về mặt xã hội vừa do các định hướng giá trị lệch lạc sinh ra vừa đi kèm theo những định hướng ấy và đến lượt nó, hành vi sai lệch lại góp phần làm tiếp tục biến dạng các định hướng giá trị ấy theo chiều hướng và mức độ ngày càng tiêu cực.
Khi có những lệch lạc trong định hướng giá trị thì sẽ xuất hiện hành vi không tuân theo chuẩn mực xã hội. Và như vậy, dần dần dẫn tới những chuẩn mực xã hội đó sẽ bị thay thế bằng các chuẩn mực khác hoặc chúng sẽ “chết” ngay lập tức, không còn tác dụng gì đối với cá nhân và dần dần có thể không còn tác dụng gì đối với xã hội.
 Sự biến dạng về định hướng giá trị dẫn đến biến dạng cả những thể chế xã hội có liên quan với chúng: Các thể chế này với những con người cụ thể không còn hoạt động đúng đắn để thực hiện những nhiệm vụ theo chức năng mà ở đó dần dần xuất hiện và phát triển những hành vi sai lệch. Và quá trình này dẫn đến sự sai lệch trong các quan hệ người - người và do đó, dẫn đến một loạt những biến dạng khác trong đời sống xã hội. Lý luận này được vận dụng để hiểu rõ tình trạng tham nhũng, nhũng nhiễu, suy thoái biến chất ở một bộ phận trong bộ máy công quyền và những biến dạng khác trong đời sống xã hội hiện nay ở nước ta.
Định hướng giá trị không giống nhau hoàn toàn giữa những tầng lớp xã hội khác nhau, nó có thể khác nhau tuỳ theo từng cá nhân.
 Ở nước ta những lệch lạc trong định hướng giá trị thể hiện dưới một số dạng chung nhất sau:
Những tham vọng quá đáng về vật chất đã làm tổn hại sự phát triển tinh thần, nhân cách của cá nhân.
Tham vọng muốn vượt trội lên trên - hơn hẳn với những người xung quanh bằng mọi giá kể cả sự lựa chọn phương thức phi pháp.
 Chỉ chú ý đòi hỏi xã hội và người khác quá nhiều không tương xứng với lao động và cống hiến; không chú ý đúng đến điều kiện của đất nước, của gia đình.
 Tâm lý nhỏ nhen, kèn cựa, chỉ chú ý vun vén cho quyền lợi ích kỷ trong khi đó lại rất thờ ơ đối với những vấn đề có liên quan tới các quyền chính đáng của người khác.
 Nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng: Trong quan niệm của những người phạm tội thì những nhân tố góp phần làm nên - “thành đạt” trong cuộc sống, họ cho vị trí đầu tiên là “biết lợi dụng bất kỳ thủ đoạn nào”, sau đó là “bạn bè có vai vế”, “dịp may". Họ thổi phồng “sức mạnh vạn năng" của đồng tiền, coi khinh những người lao động và những người trung thực.
Sự sai lệch trong hệ thống định hướng giá trị biểu hiện ở các mức độ khác nhau:
Trước hết đó là sự khiếm khuyết trong hệ thống giá trị: Hệ thống giá trị thường thiếu những “cái” tư tưởng và quan niệm có ý nghĩa xã hội. Ví dụ: Việc gạt bỏ khỏi hệ thống giá trị sự tôn trọng mọi người, biến hệ thống ấy thành thế giới quan của kẻ ích kỷ, chỉ biết có mình. Và lỗ hổng - mất tính đúng đắn trong hệ thống các giá trị đó, sẽ được bổ sung bằng những quan niệm ngược lại: chẳng hạn, trong nhóm phạm tội, sự “tôn trọng” biến thành sự phục tùng tên đầu sỏ, sự sợ hãi trước kẻ phạm tội mạnh hơn hoặc khôn ngoan hơn. 
Định hướng giá trị thể hiện tính mâu thuẫn, tính hay thay đổi thất thường do quá trình xã hội hoá có những chiều hướng, chuẩn mực mâu thuẫn nhau cùng tồn tại, chưa phân thắng thua rõ ràng. 
Cuối cùng, sự sai lệch các định hướng giá trị có thể liên quan đến sự hình thành những giá trị mới nhưng giá trị mới này vẫn chưa chiếm vị trí rõ ràng trong hệ thống giá trị. Loại này thường hay gặp ở một số người nhất là ở một số thanh niên trên đường đời của mình với nhiệt huyết muốn tìm và thử sức, khát khao những giá trị mới nhưng họ chưa lường hết mọi điều nên vấp phải những xung đột, khó khăn và có khi là thất vọng. Hiện tượng này thấy rất rõ trong một bộ phận giới trẻ hiên nay, ở những người này xảy ra tình trạng: họ chưa vươn tới được giá trị mới, nhưng trong tâm lý của họ lại “chán ngấy” hoặc không còn “mặn mà” với một số giá trị cũ, vì thế ở họ dễ bị dao động, khủng hoảng niềm tin về bản thân thậm chí về cả xã hội mà họ đang sống. Trong tình cảnh trên, con người dễ có những định hướng giá trị cực đoan xét từ góc độ cá nhân hay nhóm.
Tình trạng tách rời nhau giữa những giá trị được tuyên bố ủng hộ kiểu công khai với những giá trị đang vận hành thực sự trong thực tế ở nước ta. Nguyên nhân của sự tách rời này có thể là do bản thân những giá trị được tuyên bố ủng hộ công khai đã không phù hợp với đòi hỏi của thời kỳ đang sống; cũng có thể nó chỉ là sản phẩm của chủ nghĩa duy ý chí với những sai lầm, ấu trĩ vì vi phạm quy luật khách quan.    
 Như vậy, khi biết được định hướng giá trị của cá nhân sẽ biết được phương thức ứng xử của hành vi, dự đoán chiều hướng phát triển hay suy thoái của cá nhân.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê