- 1. Cơ sở pháp lý:
- 2. Luật sư tư vấn:
- 1. Đồng phạm là gì? Quy định pháp luật hiện hành về đồng phạm
- 2. A, B, C, D có được coi là đồng phạm không ?
- 3. Tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội là gì ?
- 4. A có được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội không ?
- 5. D có phải chịu Trách nhiệm hình sự về tội Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có?
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162
sẽ gặp nhau tại cổng phụ nhà văn hoá cũ, cách nhà ông X 200m. Bốn người phân công nhau A mang dây thừng và bao tải. B mang dây thép và kìm. C mang thanh sắt cậy cửa và đèn pin. Đến thời gian hẹn, A đến trước nhưng bị đau bụng nên phải quay về nhà. B và C đến nhưng không thấy A nên đứng đợi 15 phút. Không thấy A đến nên B và C đã cậy cửa lẻn vào nhà ông X trước và trộm được 3 triệu đồng tiền mặt và một số trang sức trị giá 4 triệu đồng. Khi quay về, B,C gặp A đang trên đường đến nên đưa A cầm 1 triệu tiền mặt và bảo mai bán trang sức đi sẽ chia tiếp. B mang trang sức đến nhà tôi (D) bán. Tôi không nghi ngờ gì nên đồng ý mua lại số trang sức đó với giá 4 triệu đồng. Khi A, B bị công an bắt quả tang lúc đang trộm tài sản của nhà khác, A B đã khai ra vụ bán vàng trộm cắp cho tôi và nói tôi cũng là đồng phạm tiêu thụ tài sản. Nhưng tôi thực sự không biết đó là tài sản ăn trộm. Mong luật sư tư vấn giúp tôi! Tôi xin cảm ơn~ (Người hỏi: Thu Vân - Hưng Yên)
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý:
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017;
Văn bản hợp nhất Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật sửa đổi Bộ luật hình sự năm 2017;
Thông tư liên tịch 09/2011/TTLT-BCA-BQP BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và tội rửa tiền do Bộ Công an - Bộ Quốc phòng - Bộ Tư pháp - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao ban hành.
2. Luật sư tư vấn:
1. Đồng phạm là gì? Quy định pháp luật hiện hành về đồng phạm
Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 (sau đây BLHS 2015) quy định về tội trộm cắp tài sản như sau:
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
Căn cứ theo quy định trên, tổng giá trị tài sản do A, B, C trộm cắp được ước tính có giá trị khoảng 7 triệu đồng. Thoả mãn cấu thành tội phạm cơ bản của tội trộm cắp tài sản tại Điều 173 nêu trên.
Về vấn đề đồng phạm, Điều 17 BLHS quy định về đồng phạm như sau:
Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
Như vậy, về mặt khách quan đồng phạm đòi hỏi có hai dấu hiệu:
Thứ nhất, có từ hai người trở lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm. Từ tình tiết đã nêu: “A, B và C bàn nhau trộm cắp tài sản của nhà ông X”, ta thấy có sự tham gia của 3 người: A, B và C. Thoả mãn yếu tố về số lượng người tham gia.
Thứ hai, những người này phải cùng thực hiện tội phạm một cách cố ý cùng nhau. Những người đồng phạm bằng hành vi của mình hỗ trợ cho việc thực hiện tội phạm. Những hành vi này đều gây nguy hiểm cho xã hội và được thực hiện trong mối liên kết thống nhất với nhau.
Về mặt chủ quan, đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm đều có lỗi cố ý. Lỗi cố ý của những người đồng phạm thể hiện trên hai mặt sau:
Về lí trí, mỗi người đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và đều biết hành vi của người khác cũng có nguy hiểm của xã hội cùng với mình.
Về ý chí, những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh.
2. A, B, C, D có được coi là đồng phạm không ?
Trong tình huống bạn nêu trên: “A, B và C bàn nhau trộm cắp tài sản của nhà ông X”, chính việc “bàn nhau” của A,B,C chứng tỏ đã có sự "Cố ý muôn cùng phối hợp, liên kết với nhau để lên kế hoạch trộm tài sản" nhà ông X. Chúng bàn bạc về thời gian (11h đêm), địa điểm (cổng nhà văn hoá cũ cách nhà ông X 200m) và có sự phân công thực hiện hành vi rõ ràng: “theo sự phân công của nhóm, A mang dây thừng và bao tải, B mang dây thép và kìm, C mang theo một thanh sắt để cạy phá cửa” . Dù không gặp được A, B và C vẫn tiến hành đi lấy tài sản và đã lấy được tài sản gần 7 triệu đồng. Vậy B và C là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, được quy định tại Điều 171 BLHS năm 2015. Mặc dù trên thực tế A đã không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp nhưng việc A tới đúng giờ hẹn, đúng điểm hẹn dù quay về nhưng một lúc sau lại quay lại giúp đồng bọn đã thể hiện mục đích mong muốn thực hiện tội phạm của A.
Do đã có sự bàn bạc và phân công trước, nên A,B và C hoàn toàn biết được hành vi mà mình và đồng bọn sắp thực hiện đều gây nguy hiểm cho xã hội. Sau khi trộm cắp tài sản, A, B, C chia tiền cho nhau chứng tỏ A, B, C đều công nhận đối phương là đồng phạm với mình trong vụ trộm tài sản. Tuy A không trực tiếp thực hiện tội phạm, nhưng việc mang công cụ phạm tội đến theo lời hẹn và quay lại giúp đồng bọn cho thấy A mong muốn cùng C, B tiến hành vụ trộm tài sản. A, B, C đều nhận thức được hậu quả do hành vi của mình gây ra, xâm hại đến quan hệ sở hữu được Luật hình sự bảo vệ nhưng vẫn tiến hành tội phạm và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra.
Từ những phân tích trên có thể thấy rằng: A, B và C đều là đồng phạm trong vụ trộm cắp tài sản nói trên.
3. Tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội là gì ?
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” được quy định tại Điều 16-BLHS năm 2015 như sau:
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.
Theo luật hình sự Việt Nam, hành vi chỉ được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau:
Thứ nhất, việc chấm dứt không thực hiện tiếp tội phạm phải xảy ra khi tội phạm đang ở giai đoạn chuẩn bị hoặc ở giai đoạn chưa đạt chưa hoàn thành. Ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội người phạm mới chỉ có hành vi tạo ra những cơ sở vật chất và tinh thần cho việc thực hiện tội phạm, nó chỉ là tiền đề cho việc xâm hại đến những quan hệ xã hội, nó là sự bắt đầu thực hiện tội phạm và chưa thực hiện hành vi khách quan (hành vi ăn trộm). Giai đoạn phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành là người phạm tội vì những nguyên nhân khách quan mà chưa thực hiện hết các hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu quả của tội phạm.
Thứ hai, việc chấm dứt không thực hiện tiếp tội phạm phải là tự nguyện và dứt khoát, không do sự cản trở của ngoại cảnh.
Sự tự nguyện, dứt khoát trong tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được thể hiện ở việc chủ thể dừng lại không thực hiện tiếp tội phạm phải hoàn toàn do động lực bên trong chứ không phải do trở ngại khách quan chi phối. Việc dừng lại không thực hiện tiếp tội phạm trường hợp này phải là sự thể hiện của việc từ bỏ hẳn ý định phạm tội chứ không phải là thủ đoạn để tiếp tục thực hiện tội phạm.
Ngoài những dấu hiệu chung, để được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạmcần thỏa mãn những điều kiện sau: Thứ nhất, người phạm tội phải dừng hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm diễn ra. Thứ 2, người phạm tội phải có hành vi ngăn chặn hậu quả làm giảm tác dụng hoặc vô hiệu hành vi giúp sức cho tội phạm xảy ra.
Tổng hợp các dấu hiệu nêu trên mới được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội. Trường hợp này, người tự ý nửa chừng chấm dứt sẽ được miễn trách nhiệm hình sự đối với tội định phạm.
4. A có được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội không ?
Với trường hợp của A, A có đến hiện trường xảy ra vụ án với công cụ gây án trong tay. Xong vi lý do cá nhân, A quay về nhà. Sau khi B và C thực hiện xong hành vi phạm tội, A mới quay lại cùng đồng bọn. Đối chiếu với nội dung đã được phân tích tại mục 3. A không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội. Cụ thể phân tích như sau:
Thứ nhất, hành vi của A có chấm dứt tại giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tôi chưa đạt chưa hoàn thành không? Xin trả lời là không. Tính huống của A khá đặc biệt ở chỗ. A đến và bỏ về ở giai đoạn tội phạm còn chưa bắt đầu. Nhưng A lại xuất hiện khi tội phạm đã hoàn thành để ăn chia "chiến lợi phẩm".
Thứ hai, A có tự nguyện chấm dứt hành vi phạm tội không? Xin trả lời là không. Việc A quay về nhà không phải là ý muốn thôi không thực hiện hành vi phạm tội nữa mà A quay về vì lý do cá nhân. Việc A quay trở lại địa điểm với đồng bọn đã thể hiện ý chí muốn thực hiện tội phạm của A. A chỉ là không thực hiện hành vi vi phạm chính là trộm cắp thôi.
Ngoài ra, A cũng không có bất kỳ hành động nào nhằm ngăn chặn hậu quả hay giảm tác dụng hoặc vô hiệu hành vi giúp sức của mình. Công cụ A vẫn để lại hiện trường cho đồng bọn đã chứng minh điều này.
Nên suy cho cùng, việc A không có mặt tại hiện trường trong lúc B, C đang trộm không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội
5. D có phải chịu Trách nhiệm hình sự về tội Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có?
Điều BLHS năm 2015 quy định về Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như sau:
Điều 323. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Về chủ thể: Chủ thể thực hiện hành vi phạm tội là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.
Về khách thể: hành vi phạm tội này xâm phạm chính là an toàn công cộng, trật tự công cộng. Đối tượng tác động là tài sản A, B, C có được do trộm cắp.
Về mặt khách quan: hành vi khách quan của tội phạm này là hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có tức tài sản do người phạm tội có được trực tiếp từ việc thực hiện hành vi phạm tội (Điều 1, thông tư liên tịch 09/2011/TTLT-BCA-BQP BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC ). Hành vi tiêu thụ được hiểu là những hành vi có tính chất dịch chuyển tài sản từ người có tài sản do phạm tội sang người khác mà cụ thể trong trường hợp này, hành vi của D là hành thu mua tài sản do A, B, C trộm từ nhà ông X.
Về mặt chủ quan: “Biết rõ tài sản là do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ chứng minh biết được tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội hoặc có được từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội (Điều 1, thông tư liên tịch 09/2011/TTLT-BCA-BQP BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC ). Do đó, người phạm tội phải là người theo ý chí chủ quan, nhận thức rõ được đây là tài sản phạm tội nhưng vẫn cố tình muốn tiêu thụ tài sản đó.
Trong trường hợp của bạn, bạn chính là người D đó. Tuy nhiên, bạn không hề biết đây là những tài sản do phạm tội mà có. Đối chiếu với phân tích nêu trên, việc người tiêu thụ số tài sản phi pháp nêu trên có biết hay không biết tài sản mình mua do phạm tội mà có sẽ quyết định việc người đó phạm tội hay không phạm tội.
Về mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện tâm lí bên trong của tội phạm bao gồm: lỗi, mục đích và động cơ phạm tội. Như vậy trong tình huống trên K không có lỗi, không có động cơ và mục đích phạm tội vì K không biết tài sản mà A, B và C bán lại cho mình do họ trộm cắp mà có.
Tức là D không có lỗi. Theo nguyên tắc có lỗi thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự một người về hành vi gây thiệt hại cho xã hội khi người đó có lỗi. Hành vi gây thiệt hại cho xã hội nhưng chủ thể không có lỗi đối với việc đó thì không bị coi là tội phạm và chủ thể không phải chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, D không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này. Tuy nhiên, D cần phối hợp tích cựu với các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm làm sáng tỏ những tình tiết khác
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê