1. Khái niệm dịch vụ tư vấn pháp luật

Tư vấn pháp luật là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo môi trường pháp lý an toàn, tin cậy cho hoạt động của đời sống - xã hội. Khi xã hội càng phát triển thì đồng thời càng có nhiều các mối quan hệ được thiết lập, những vấn đề phát sinh trong mọi lĩnh vực xảy ra hàng ngày. Để thực hiện những việc làm đúng với quy định của pháp luật thì chúng ta cần phải tìm hiểu luật và có sự vận dụng linh hoạt. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể làm được điều này. Do vậy mà hoạt động tư vấn pháp luật có vai trò rất quan trọng và cần thiết đối với xã hội hiện nay.

Căn cứ tại Điều 4 Luật luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012 có quy định: “Dịch vụ pháp lý của luật sư bao gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác”. Tư vấn pháp luật là một trong các hình thức của dịch vụ pháp lý, giúp người dân hiểu rõ hoàn cảnh, vị thế của mình, từ đó lựa chọn cách xử sự phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội [10].

Theo Từ điển Luật học: “Tư vấn pháp luật là việc người có chuyên môn về pháp luật được hỏi ý kiến để tham khảo khi giải quyết, quyết định công việc.”

Căn cứ Điều 28 Luật luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012 đưa ra khái niệm: “Tư vấn pháp luật là việc đưa ra hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp khách hàng soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ”. Như vậy, tư vấn pháp luật là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn ứng xử đúng pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm giúp khách hàng thực hiện và bảo vệ quyền hợp pháp của họ.

Căn cứ Điều 32 Luật trợ giúp pháp lý 2017 định nghĩa như sau: “Tư vấn pháp luật là người thực hiện trợ giúp pháp lý tư vấn pháp luật cho người được trợ giúp pháp lý bằng việc hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến tranh chấp, khiếu nại, vướng mắc pháp luật; hướng dẫn giúp các bên hòa giải, thương lượng, thống nhất hướng giải quyết vụ việc”.

Như vậy, tư vấn pháp luật là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn ứng xử đúng pháp luật, cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật nhằm giúp khách hàng, tổ chức trong nước và quốc tế thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Tư vấn pháp luật không chỉ là cung cấp lý thuyết về các điều luật đã được quy định mà còn phải kèm theo lời khuyên, cách ứng dụng pháp luật vào trường hợp cụ thể của người cần tư vấn.

Các lĩnh vực tư vấn rất rộng, trải từ dân sự, hình sự, kinh tế - thương mại cho tới hành chính, lao động,... (khoản 1 điều 28 Luật luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012)

Tư vấn pháp luật nhằm nâng cao hiểu biết của người dân về quyền và nghĩa vụ của công dân cũng như ý thức chấp hành pháp luật cho người dân; Góp phần tuyên truyền, phổ biến, giải thích pháp luật; Giảm bớt thời gian khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đồng thời tăng cường đoàn kết trong cộng đồng; Đưa ra kiến nghị, đề xuất kịp thời để hoàn chỉnh, bổ sung hệ thống pháp luật trên cơ sở thông qua hoạt động tư vấn pháp luật đồng thời nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu và thực trạng vi phạm pháp luật, cũng như thực trạng áp dụng pháp luật trong địa phương hay toàn quốc; Nâng cao hiệu quả quản lý, tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước; Củng cố niềm tin của người dân đối với cơ quan nhà nước, cơ quan bảo vệ pháp luật; Hoạt động tư vấn pháp luật là cầu nối quan trọng giữa người xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật, thực thi pháp luật và người dân.

Dịch vụ là các sản phẩm vô hình. Tính vô hình và khó nắm bắt của dịch vụ, sự đa dạng, phức tạp của các loại hình dịch vụ làm cho việc nêu một định nghĩa rõ ràng về dịch vụ trở nên khó khăn. Hơn nữa các quốc gia khác nhau phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, có các cách hiểu về dịch vụ không giống nhau. Có thể thấy rằng, dù có nhiều cách tiếp cận nhưng cách định nghĩa kinh điển dựa trên tính chất của dịch vụ là định nghĩa chuyển tải được những nội dung cơ bản và đầy đủ nhất về dịch vụ: “Dịch vụ là các hoạt động của con người, được kết tinh thành các sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được”. Định nghĩa này nêu lên được hai đặc điểm cơ bản của dịch vụ.

>> Xem thêm:  Ms. Bùi Lệ Thương - Nhân viên hỗ trợ pháp lý công ty Luật TNHH Minh Khuê

Thứ nhất, dịch vụ là một “sản phẩm”, là kết quả của quá trình lao động và sản xuất nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người.

Thứ hai, khác với hàng hóa là cái hữu hình, dịch vụ là vô hình, phi vật chất không thể lưu trữ được.

Dịch vụ không phải là của cải vật chất dưới dạng những sản phẩm hữu hình nhưng chúng lại tạo ra giá trị thặng dư do có sự khai thác sức lao động, tri thức, chất xám con người. Dịch vụ kết tinh các hoạt động đa dạng trên các lĩnh vực như: tài chính, vận tải, bảo hiểm, kiểm toán, tư vấn pháp lý,…

Dưới góc độ pháp luật, dịch vụ chỉ được nêu khái quát chung ở một số văn bản pháp luật, chẳng hạn tại Khoản 9 Điều 3, quy định “Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận”.

Theo thì dịch vụ là: “Sản phẩm kinh tế gồm những công việc dưới dạng lao động thể lực, khả năng tổ chức, quản lí, kiến thức và kỹ năng chuyên môn nhằm phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh hay sinh hoạt tiêu dùng của tổ chức, cá nhân”.

Dù là sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ thì cũng phải có mục đích mà con người hướng tới một cách tích cực và phải đều có sự kết tinh về sức lao động vào sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ đó.

Để có một khái niệm ngắn gọn hơn, theo em thì “Dịch vụ là một dạng hàng hóa vô hình mà bên cung ứng hay bên tiếp nhận cũng đều nhằm hướng đến những lợi ích nhất định”.

Dịch vụ tư vấn pháp luật có đặc điểm khác biệt với các ngành dịch vụ thương mại khác đó là tính thương mại luôn gắn liền với pháp luật của một quốc gia hay thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân nào đó. Hiện nay, trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam chưa có một quy định nào thể hiện thế nào là dịch vụ tư vấn pháp luật. Cụm từ dịch vụ tư vấn pháp luật được gắn với các cụm từ khác và được nằm rải rác trong các văn bản quy phạm pháp luật. Dịch vụ tư vấn pháp luật được coi là một loại dịch vụ mang tính thương mại, người cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật nhằm mục đích thu lợi và được coi như một nghề. Người sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật được thỏa mãn những yêu cầu hiểu biết hay công việc cụ thể và phải trả phí (giá) dịch vụ cho người cung cấp.

Do vậy, dịch vụ tư vấn pháp luật là loại hình dịch vụ gắn liền với pháp luật do tổ chức, cá nhân đáp ứng điều kiện hành nghề thực hiện cung ứng dịch vu tư vấn, giải đáp pháp luật, nhằm đáp ứng nhu cầu về pháp lý của khách hàng mang tính chất lợi nhuận thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Ngoài ra, dịch vụ tư vấn pháp luật còn cung ứng những cách áp dụng pháp luật vào trường hợp cụ thể của khách hàng.

2. Đặc điểm của dịch vụ tư vấn pháp luật

>> Xem thêm:  Cảm nhận về buổi đào tạo Kỹ năng tư vấn pháp luật doanh nghiệp: Một buổi học thú vị

Thứ nhất, Dịch vụ tư vấn pháp luật là một loại dịch vụ pháp lý

Dịch vụ tư vấn pháp luật là một loại dịch vụ pháp lý với mục đích thu lợi nhuận hoặc không thu lợi nhuận. Khi có nhu cầu về giải đáp pháp luật, tháo gỡ vướng mắc pháp lý, người dân đã tin cậy và thường xuyên tìm đến các tổ chức giúp đỡ pháp lý sau đây: Trung tâm trợ giúp pháp ý của Nhà nước, Trung tâm tư vấn pháp luật, Văn phòng luật sư. Tư vấn pháp luật do các tổ chức đoàn thể xã hội thực hiện được điều chỉnh bởi t [12]. Hoạt động tư vấn pháp luật này mang tính chất xã hội, không nhằm mục đích thu lợi nhuận trong khi hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư là hoạt động có tính chất hoạt động nghề nghiệp độc lập, có thi phí dịch vụ.

Thứ hai, người thực hiện dịch vụ tư vấn pháp luật phải có kiến thức pháp luật và đạt trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định, có kinh nghiệm và kỹ năng chuyên sâu.

Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống. Kỹ năng của cá nhân gần như thuộc về cái gọi là phản xạ có điều kiện, nghĩa là kỹ năng được hình thành từ khi một cá nhân sinh ra, trưởng thành và tham gia hoạt động thực tế cuộc sống.

Đối với kỹ năng tư vấn pháp luật là một hoạt động phải có kỹ năng nghề nghiệp cao bởi ngoài có kiến thứ sâu rộng người tư vấn cần trang bị cho mình nhiều kỹ năng hành nghề, kỹ năng đó được hình thành thông qua việc tham gia một hệ thống đào tạo nghề nghiệp chuyên sâu và tu bổ qua quá trình rèn luyện trên thực tế. Đa số kỹ năng nghề nghiệp mà ta có được và hữu ích với cuộc sống của chúng ta là xuất phát từ việc chúng ta được đào tạo. Khi tham gia bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào cũng có kỹ năng nghề nghiệp cao đặc biệt là kỹ năng tư vấn nghề luật. Trong hoạt động tư vấn cần có rất nhiều kỹ năng nghề nghiệp cao: Kỹ năng soạn thảo văn bản, kỹ năng tiếp xúc khách hàng, kỹ năng tác nghiệp hành nghề luật, kỹ năng tìm hiểu yêu cầu tư vấn của khách hàng những kỹ năng này đóng vai trò quan trọng đối với người tư vấn pháp luật, đó là hoạt động không thể thiếu trong đời sống xã hội hiện đại. Vì vậy, đòi hỏi người thực hiện tư vấn phát luật phải có kỹ năng nghề nghiệp cao, phải hội tụ các tiêu chuẩn nhất định. Luật sư, tư vấn viên pháp luật và cộng tác viên pháp luật (gọi chung là người tư vấn) là những người có kiến thức pháp luật (Có trình độ cử nhân luật trở lên), kỹ năng và kinh nghiệm tư vấn, đồng thời phải tuân thủ quy tắc đạo đức và uwgs xử nghề nghiệp, có sụ tận tâm, nhiệt tình và chịu trách nhiệm cá nhân đối với hoạt động tư vấn pháp luật của mình, chỉ khi người tư vấn pháp luật đạt được kỹ năng nghề nghiệp cao như vậy mới có khả năng giải quyết tốt vụ việc khi khách hàng có yêu cầu.

Thứ ba, dịch vụ tư vấn pháp luật là nghề lấy pháp luật làm công cụ để giải quyết vấn đề pháp lý mà khách hàng yêu cầu. Bản thân người tư vấn hoạt động dựa trên pháp luật và tuân thủ pháp luật, quy chế, trách nhiệm nghề nghiệp.

Vai trò của pháp luật là hết sức quan trọng, cụ thể vai trò của pháp luật với nhà nước ở Việt Nam hiện nay được thế hiện như sau: Pháp luật là công cụ để nhà nước quản lý hiệu quả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Pháp luật được sử dụng để phối hợp, quy tụ những hoạt động của các cá nhân riêng rẽ trong xã hội nhằm đạt được những mục đích mong muốn, duy trì đời sống cộng đồng xã hội. Có thể nói hầu hết các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… đều được nhà nước quản lý bằng pháp luật. Chính vì vậy, khi khách hàng đến gặp người tư vấn cũng chính là khi khách hàng vướng phải những vấn đề liên quan đến pháp luật cần những người tư vấn dùng pháp luật để giải quyết những vấn đề khách hàng phải gặp

Nghề nghiệp đòi hỏi người thực hiện dịch vụ tư vấn phải triệt để tôn trọng và thực thi pháp luật, hoạt động dựa trên pháp luật. Nhưng pháp luật có hoàn thiên đến mấy, tự nó cũng không thể bao quát và điều chỉnh tất cả hành vi ứng xử của người tư vấn hành nghề. Bởi người tư vấn hành nghề với tư cách cá nhân và tự chịu trách nhiệm cá nhân về uy tín nghề nghiệp của mình. Tư cách cá nhân đó hàm chứa cả những nhận thức tư tưởng và tình trạng tâm lý, tình cảm “ hỷ, nộ, ái ố”, bao hàm cả những gì thuộc về đời tư của mỗi luật sư. Vì vậy, nghề nghiệp đòi hỏi mỗi người tư vấn phải tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với pháp luật, tuân thủ đúng pháp luật và đúng quy chế, trách nhiệm nghề nghiệp.

Thứ tư, dịch vụ tư vấn pháp luật là một hoạt động nghề nghiệp chuyên sâu, đòi hỏi lao động trí óc có tính độc lập phải chịu trách nhiệm cá nhân cao.

Dịch vụ tư vấn pháp luật là hoạt động chuyên môn đặc thù, do đó đòi hỏi người thực hiện tư vấn phải hội đủ các yếu tố nhất định. Các chủ thể thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật bao gồm: luật sư, tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên pháp luật và các chuyên gia luật (gọi chung là chuyên gia pháp luật) là những người có kiến thức pháp luật, có kỹ năng, kinh nghiệm tư vấn, đồng thời phải tuân thủ các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, có sự tận tâm, nhiệt tình và chịu trách nhiệm các nhân cao.

>> Xem thêm:  Công ty Luật TNHH Minh Khuê tổ chức tập huấn kỹ năng hổ trợ khách hàng định kỳ cho chuyên viên

Với những yêu cầu như vậy, hoạt động tư vấn pháp luật được thực hiện bởi các chuyên gia pháp luật là hoạt động đòi hỏi lao động trí óc ở cường độ cao. Câu trả lời hay ý kiến tư vấn của chuyên gia pháp luật phải bao hàm được hai yếu tố:

Một là, chuyên gia pháp luật phải cung cấp đầy đủ thông tin pháp luật cần thiết cho khách hàng. Với tình huống cụ thể mà khách hàng đưa ra, chuyên gia pháp luật phải giải đáp được các câu hỏi: luật pháp quy định như thế nào? Điều mà khách hàng mong muốn có hợp pháp hay không? Trình tự, thủ tục thực hiện như thế nào?

Hai là, chuyên gia pháp luật thực hiện dịch vụ tư vấn phải đưa ra được chính kiến của mình bằng việc đưa ra các chỉ dẫn và lời khuyên. Một cách cụ thể, chỉ dẫn của chuyên gia pháp luật phải chỉ ra được những điểm yếu, điểm mạnh của khách hàng; đánh giá được mức độ rủi ro, cách thức phòng, tránh, ngăn ngừa rủi ro để khuyên khách hàng nên hành động hay không hành động. Như vậy, chuyên gia pháp luật đóng vai trò định hướng cho khách hàng bằng việc chỉ dẫn cho họ cách thức hành động cụ thể.

Thứ năm, dịch vụ tư vấn pháp luật là tìm được giải pháp hợp lý và phù hợp pháp luật để giải quyết.

Khi tiến hành dịch vụ tư vấn pháp luật, đặc biệt trong quá trình tư vấn với khách hàng thì người thực hiện dịch vụ tư vấn cần phải thâu tóm được tất cả nội dung quan trọng, đồng thời tổng hợp sâu chuỗi lại một cách logic. Từ nội dung của vụ việc, phân tích các khía cạnh, các điểm cần lưu ý của vụ việc cần giải quyết. Quá trình phân tích đòi hỏi người tư vấn cần có chuyên môn nghiệp vụ, nắm bắt nhanh các thông tin mà khách hàng cung cấp để từ đó phân tích đi từ khái quát chung đến cụ thể. Cùng với phân tích thì việc đánh giá vụ việc cũng rất quan trọng trong hoạt động tư vấn, đánh giá trúng- đúng- đủ là cần thiết, khi đánh giá được nội dung của vụ việc thì hoạt động tư vấn sẽ trở nên dễ dàng hơn.

Từ phân tích đánh giá trên tìm ra được những giải pháp hợp lý và phù hợp để giải quyết vấn đề, thuận tiện trong suốt quá trình giải quyết vụ việc. Điều quan trọng hơn là khi áp dụng pháp luật người tư vấn cần cập nhật thông tin, văn bản pháp luật mới nhất, giải quyết vụ việc cần xem xét đối chiếu các điều luật, các quy định khác của pháp luật đối với từng vụ việc cụ thể, yêu cầu tính chính xác cao, bởi nó liên quan đến việc tuân thủ pháp luật cũng như đảm bảo tính hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật cho người được tư vấn. Các hoạt động này đều phải được tiến hành đổng thời và diễn ra cùng một thời điểm, nếu tách rời các hoạt động phân tích, đánh giá, áp dụng pháp luật sẽ không mang lại hiệu quả cao vì hoạt động này nó đã bao quát, tổng hợp nội dung của vụ việc cần giải quyết giúp người tư vấn có một hướng đi đúng.

Bên cạnh đó, trong hoạt động tư vấn, người tư vấn cần nắm bắt thông tin một cách nhanh nhạy, kết hợp với các hoạt động khác như nghe, nói, nhìn, kĩ năng soạn thảo,… Như vậy, với đặc điểm này thì người tư vấn cần hiểu rõ nội dung mà mình cần tư vấn để đáp ứng yêu cầu của người được tư vấn và từ đó mới có thể đi đến phân tích, đánh giá, áp dụng pháp luật một cách đúng và chính xác đáp ứng được yêu cầu của công việc cũng như nhu cầu của khách hàng.

Thứ sáu, dịch vụ tư vấn pháp luật là hoạt động đòi hỏi sử dụng kỹ năng nghề nghiệp thành thạo, chuẩn xác. Người tư vấn có sự mẫn cán nghề nghiệp và khả năng phán đoán.

Dịch vụ tư vấn pháp luật là hoạt động đa dạng có thể được thực hiện bằng miệng hoặc bằng văn bản; tư vấn trực tiếp, bằng thư tín, điện tín hoặc thông qua phương tiện thông tin khác; thông qua trợ giúp pháp luật lưu động, sinh hoạt chuyên đề pháp luật, câu lạc bộ trợ giúp pháp luật và các phương thức khác. Theo đó, tư vấn pháp luật đòi hỏi nhà tư vấn phải áp dụng nhiều kỹ năng như nghe, nói, soạn thảo văn bản và cuối cùng là đưa ra lời khuyên cho khách hàng. Với các vụ có tính chất đơn giản, các khách hàng thường gặp gỡ luật sư để tìm hiểu bản chất pháp lý của vụ việc trên cơ sở đó giúp cho họ tìm giải pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp một cách nhanh chóng có hiệu quả. Tuy vậy, hoạt động tư vấn pháp luật là một hoạt động đa dạng, phức tạp đòi hỏi một quá trình lao động trí óc. Vì vậy khi tư vấn khách hàng, quá trình tư vấn luật sư hoặc nhà tư vấn pháp luật cần phải áp dụng đa dạng các kỹ năng để đạt được hiệu quả tư vấn như:

Một là, luật sư cần phải lắng nghe khách hàng trình bày và ghi chép đầy đủ nội dung chính, ý chính, trên cơ sở đó đặt câu hỏi để làm rõ hơn nữa, khách hàng thường trình bày theo ý chí chủ quan và bỏ qua nhiều chi tiết mà họ cho là không cần thiết. Vì vậy, người tư vấn cần gợi ý những vấn đề để khách hàng trình bày đúng bản chất của sự việc.

>> Xem thêm:  Sở hữu trí tuệ - Dễ mà khó và sự cần thiết của đào tạo

Hai là, người tư vấn yêu cầu khách hàng cung cấp các tài liệu liên quan đến vấn đề cần tư vấn. Những giấy tờ tài liệu này phản ánh trực tiếp đến diễn biến của quá trình tranh chấp hoặc bản chất vụ việc mà khách hàng yêu cầu tư vấn. Khi khách hàng đã cung cấp đầy đủ những giấy tờ mà luật sư yêu cầu, thì luật sư cần phải tìm hiểu, nghiên cứu những tài liệu đó. Nếu vấn đề đơn giản, có thể giải quyết được ngay thì luật sư cần phải đưa ra được cái nhìn chung, sự đánh giá tổng thể về vấn đề mà khách hàng đang quan tâm, tránh kéo dài thời gian của khách hàng. Nếu vấn đề phức tạp, chưa thể giải quyết được ngay, chưa thể đưa ra câu trả lời thì cần hẹn khách hàng vào một ngày khác để trả lời sau khi đã nghiên cứu kỹ hơn.

Ba là, trong quá trình nghiên cứu những giấy tờ, tài liệu liên quan đến vụ việc đang giải quyết, thì luật sư cần lưu ý đến những quy định của pháp luật làm cơ sở pháp lý cho những lập luận, phương án tư vấn của mình. Việc tra cứu tài liệu tham khảo, tìm ra những quy định của pháp luật làm cơ sở là rất quan trọng, việc đó khẳng định với khách hàng mình tư vấn có cơ sở pháp lý, chứ không phải theo cảm tính chủ quan. Việc đó giúp tạo tâm lý an tâm cho khách hàng để giải quyết vụ việc hơn.

Bốn là, người tư vấn phải đưa ra được những giải pháp cho vấn đề mà khách hàng đang quan tâm. Phân tích, đánh giá những giải pháp đó để giúp cho khách hàng có thể lựa chọn được phương án giải quyết phù hợp nhất.

3. Vai trò của dịch vụ tư vấn pháp luật

Thứ nhất, dịch vụ tư vấn pháp luật đóng vai trò quan trọng vào việc phổ biến giáo dục pháp luật, giúp định hướng hành vi ứng xử cho các cá nhân, tổ chức theo khuôn khổ pháp luật.

Hoạt động tư vấn pháp luật có khả năng lan tỏa kiến thức pháp luật đến các tổ chức, cá nhân trong đời sống xã hội. Đối tượng mà hoạt động tư vấn pháp luật hướng tới rất nhiều, pháp luật không quy định hạn chế về những trường hợp không có quyền được tư vấn pháp luật. Không chỉ khách hàng có nhu cầu muốn được tư vấn, mà những đối tượng được ưu tiên theo quy định của pháp luật (những đối tượng mà Trung tâm trợ giúp pháp lý tư vấn) đều có quyền được tư vấn về những vấn đề mình đang gặp phải . Hoạt động tư vấn được diễn ra với rất nhiều hình thức khác nhau. Có thể tư vấn qua trực tiếp tại các Trung tâm Tư vấn pháp luật, các tổ chức hành nghề luật sư, Trung tâm Trợ giúp pháp lý. Ngoài ra, người dân có thể được tư vấn trên các trang web của các tổ chức này đăng tải công khai trên mạng internet, được tư vấn thông qua hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật.Chính vì hình thức tư vấn đa dạng, qua đó mà có nhiều giải đáp pháp luật cho cá nhân, tổ chức giúp cho đối tượng được tư vấn hiểu về quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong các quan hệ pháp luật trên cơ sở quy định của pháp luật.

Dịch vụ tư vấn pháp luật còn hướng dẫn cho các đối tượng ứng xử đúng pháp luật trong từng hoàn cảnh cụ thể để thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Có thể nhận thấy rằng, khi mà chưa được tư vấn cụ thể và kỹ lưỡng những vấn đề mình đang gặp phải thì nhận thức và cách cư xử của họ cũng sẽ bị lệch lạc, có thể sẽ không đúng với quy định của pháp luật, sau khi được tư vấn thì họ sẽ cư xử sao cho phù hợp, đúng với luật định.

Đây là hoạt động mang lại kết quả trực tiếp, dễ nhận thấy và đánh giá sau một quá trình tư vấn.Điều quan trọng nhất là giúp đối tượng được tư vấn pháp luật hiểu rõ hoàn cảnh, vị thế của mình, từ đó lựa chọn cách xử sự phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội.

Thứ hai, dịch vụ tư vấn pháp luật giúp nâng cao sự hiểu biết pháp luật của người được tư vấn.

Thông qua quá trình thực hiện các công việc cụ thể của hoạt động tư vấn pháp luật (cung cấp thông tin, giải đáp pháp luật cho cá nhân, tổ chức …) thì tư vấn pháp luật còn giúp nâng cao sự hiểu biết về pháp luật của người được tư vấn.

Thông qua vụ việc mà họ yêu cầu tư vấn, sẽ giúp họ có cái nhìn cụ thể và rõ hơn về vấn đề mình đang vướng mắc,để từ đó cho họ nâng cao hiểu biết pháp luật để có nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử đúng, hình thành và phát huy ý thức tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh pháp luật.

Thứ ba, dịch vụ tư vấn pháp luật giúp tổ chức, cá nhân hiểu được những quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình.

Tư vấn pháp luật cung cấp cho cá nhân, tổ chức những hiểu biết pháp luật ở mức cơ bản, phổ thông về một vấn đề nhất định, giúp họ hiểu rõ vị thế, quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình trong một quan hệ pháp luật cụ thể nảy sinh trong đời sống xã hội. Khi họ hiểu được những quyền và nghĩa vụ của mình thì sẽ cư xử đúng với pháp luật, hạn chế được sự xâm phạm về quyền và lợi ích của người khác.

Thứ tư, dịch vụ tư vấn pháp luật góp phần giảm nhẹ sự căng thẳng cho các cơ quan tố tụng, tránh được sự quá tải trong hoạt động xét xử.

Tư vấn pháp luật góp phần hòa giải hoặc giải quyết theo một trình tự phù hợp các mâu thuẫn, xung đột liên quan đến quyền, lợi ích, góp phần giảm thiểu các tranh chấp, giảm bớt tình trạng khiếu kiện tràn lan, kéo dài do người dân hiểu pháp luật không đúng hoặc không đầy đủ Khi mọi người đã hiểu những quyền và nghĩa vụ của mình thì cũng tránh được những hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xảy ra trong xã hội. Tỉ lệ phạm tội sẽ giảm xuống,những tranh cãi mâu thuẫn với nhau được hạn chế và cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn, đời sống được nâng cao, xã hội ổn định.

Thứ năm, dịch vụ tư vấn pháp luật còn góp phần hoàn thiện pháp luật, giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.

4. Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan dịch vụ tư vấn pháp luật

Trước hết, cần sửa đổi các quy định của pháp luật về cơ chế giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả và triệt để, tạo ra môi trường pháp lý ổn định để có thể thực hiện tốt hoạt động tư vấn pháp luật một cách nhanh chóng, thuận lợi, đạt kết quả cao.

Hoàn thiện môi trường pháp luật theo hướng minh bạch, thông thoáng, ổn định đảm bảo sự bình đẳng, an toàn cho các chủ thể tham gia hoạt động thương mại có hiệu quả. Chỉnh sửa kịp thời những bất cập trong các văn bản hiện hành. Tiếp tục xây dựng những văn bản pháp luật điều chỉnh các dịch vụ thương mại mới như: bảo lãnh ngân hàng, cho thuê tài chính, bao thanh toán… theo chuẩn mực quốc tế.

Xây dựng hành lang pháp lý cho các quan hệ dịch vụ tư vấn pháp luật, bảo đảm tính thống nhất phù hợp với hệ thống pháp luật nói chung

Hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ thương mại dịch vụ pháp lý hiện nay tuy đã tương đối đầy đủ, bước đầu đáp ứng được yêu cầu về việc tạo ra hành lang pháp lý cần thiết cho nghề dịch vụ pháp lý phát triển. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, vẫn còn nhiều quy định chưa phù hợp với thực tiễn (như quy định về thuế đối với xuất khẩu dịch vụ pháp lý, quy định cấm công chức, giảng viên tham gia hành nghề luật sư, ….); nhiều quy định còn mang tính "mập mờ", khó hiểu, thiếu minh bạch (như các quy định về tiêu chuẩn đạo đức luật sư,…). Bên cạnh đó, còn thiếu nhiều quy định cần thiết điều chỉnh hoạt động thương mại dịch vụ pháp lý.

Để khắc phục tình trạng đó, một mặt cần nghiên cứu, rà soát để phát hiện các quy định chưa phù hợp, từ đó có kế hoạch sửa đổi và xây dựng các quy định mới cho phù hợp. Pháp luật điều chỉnh hoạt động dịch vụ pháp lý cũng là một bộ phận trong hệ thống pháp luật nói chung, trong dịch vụ tư vấn pháp luật nói riêng. Đây chính là biểu hiện của mối quan hệ biện chứng giữa "cái riêng" và "cái chung" theo lý luận về triết học và logic. Do đó, việc xây dựng các quy định pháp lý điều chỉnh quan hệ dịch vụ pháp lý cần đảm bảo sự thống nhất, phù hợp với các quy địnhdịch vụ tư vấn pháp luật, pháp luật tố tụng và với hệ thống pháp luật nói chung. Có như vậy mới đảm bảo các quy định đó được áp dụng một cách hiệu quả trong đời sống và tạo điều kiện cho ngành dịch vụ pháp lý Việt Nam phát triển ngang tầm với khu vực và thế giới.

Xây dựng một hệ thống kiểm soát hoạt động tư vấn pháp luật

Luật luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung 2012 là một văn bản luật chuyên ngành điều chỉnh hoạt động của luật sư, ngoài ra còn có các văn bản dưới luật khác điều chỉnh các hoạt động của luật sư. Tuy nhiên, đến giai đoạn hiện nay, vẫn chưa có một văn bản Luật hay dưới luật điều chỉnh về hệ thống kiểm tra, thanh tra hoạt động dịch vụ tư vấn pháp luật. Đây là một vấn hết hết sức quan trọng. Bởi công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát là cần thiết đối với các tổ chức hành nghề luật sư, chất lượng tư vấn từ đó sẽ được cải thiện hơn bởi có một hành lang pháp lý an toàn để các khách hàng yên tâm sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật tại các tổ chức hành nghề luật sư hiện nay.

Dịch vụ pháp lý với khái niệm nội hàm của nó có thể hiểu là tổng thể các dịch vụ tư vấn pháp luật và dịch vụ đại diện pháp lý. Trong đó dịch vụ tư vấn pháp lý tại các tổ chức hành nghề luật và các trung tâm trợ giúp pháp lý vẫn chưa có chế tài để bảo đảm quyền và lợi ích của khách hàng. Do đó, cần có một hết thống từ các tổ chức hành nghề luật và trung tâm trợ giúp pháp lý tại các tỉnh thành phố, các địa phương.

5. Nâng cao hiệu quả dịch vụ tư vấn pháp luật

Thứ nhất, cần phải nâng cao năng lực tư vấn pháp luật của đội ngũ luật sư khi thực hiện dịch vụ tư vấn pháp luật

Sự phát triển kinh tế đầy vượt bậc của nước ta trong thời gian gần đây, và nhu cầu tìm đến các tổ chức, văn phòng luật sư hay các Công ty luật của người dân ngày càng nhiều. Điều đó dẫn đến việc các tổ chức, văn phòng luật sư, các Công ty Luật đã và đang ào ạt tuyển dụng các luật sư nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng mà không chú trọng đến năng lực của luật sư. Làm cho nội dung tư vấn cũng như kết quả đạt được chưa cao. Đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng tư vấn bị giảm sút, khiến cho một số khách hàng không hài lòng, chỉ chú trọng đến số lượng mà không chú trọng đến chất lượng. Bởi khi luật sư tư vấn có chất lượng thì khách hàng mới tin tưởng và sử dụng tiếp các dịch vụ tư vấn sau này, điều đó tạo sự tin tưởng cho khách hàng.

Một là, tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý nhằm đề cao vị thế, hình ảnh dấn thân bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp, góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội của đội ngũ luật sư. Có chính sách nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ luật sư đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, thu hút nguồn nhân lực tham gia hoạt động hành nghề luật sư, chú trọng những đối tượng được đào tạo cử nhân luật, đào tạo nghề luật sư hoặc đã được công nhận là luật sư ở nước ngoài.

Hai là , chú trọng tăng cường công tác bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, kiến thức pháp luật, kỹ năng hành nghề, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp. Chú trọng công tác hướng dẫn bồi dưỡng, giám sát tập sự hành nghề luật sư, quản lý chặt chẽ chất lượng tập sự hành nghề nhằm tăng cường chất lượng đầu vào của đội ngũ luật sư.

Ba là, đổi mới về nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo theo hướng chuyên sâu, phù hợp với định hướng chung. Xây dựng và hoàn thiện các tài liệu bồi dưỡng luật sư. Mở rộng sự giao lưu chuyên môn giữa các công ty luật với nhau nhằm trao đổi các kỹ năng chuyên môn cùng nâng cao chất lượng tư vấn pháp luật của các luật sư.

Thứ hai, luật sư cần tạo môi trường tư vấn pháp luật chuyên nghiệp

Khi tiếp xúc với khách hàng, người tư vấn phải có thái độ điềm tĩnh, cởi mở, chân tình và đặc biệt biết trấn an cho khách hàng trong trường hợp khách hàng có dấu hiệu mất bình tĩnh. Người tư vấn cần phải biết khách hàng của mình đến yêu cầu mình giúp đỡ vấn đề gì? nội dung vụ việc ra sao? các vấn đề vướng mắc.Qua giai đoạn này, người tư vấn có thể tìm hiều và sàng lọc các thông tin liên quan đến vụ việc một cách công bằng và khách quan, đồng thời loại bỏ các yếu tố chứa đựng sự đánh giá chủ quan của khách hàng. Hoạt động kế tiếp của người tư vấn là hướng dẫn, đề nghị khách hàng cung cấp các chứng cứ, hồ sơ, tài liệu về những vấn đề có liên quan đến vụ việc để tìm hiểu nghiên cứu. Trong giai đoạn này, điều mà người tư vấn nên tránh là đưa ngay ra giải pháp trả lời vì như vậy rất có thể sẽ làm sai lệch nội dung vụ việc theo chiều hướng khác.Trong hoạt động tư vấn pháp luật, ngoài kiến thức chuyên môn sâu rộng, người tư vấn cần phải trang bị cho mình nhiều kĩ năng hành nghề khác: kĩ năng soạn thảo văn bản, kĩ năng tiếp xúc khách hàng, kĩ năng tác nghiệp hành nghề của luật sư Trong số các kĩ năng này, kĩ năng tiếp xúc với khách hàng và tìm hiểu yêu cầu tư vấn của họ đối với người tư vấn chiếm một vai trò đặc biệt quan trọng, đòi hỏi người người tư vấn phải có kĩ năng giao tiếp tốt và có khả năng giải quyết công việc của khách hàng. Khách hàng liên lạc với luật sư và hai bên làm việc với nhau qua mạng và điện thoại ngày càng trở nên phổ biến. Khi sử dụng các phương tiện trên để trao đổi, vì không quan sát trực tiếp được những phản ứng của khách hàng nên người tư vấn phải hết sức tinh tế và nhanh nhạy trong việc nắm bắt yêu cầu và thái độ của khách hàng qua giọng nói hoặc ngôn từ sử dụng trong email. Trong trường hợp này, giao tiếp của người tư vấn và khách hàng thường xoay quanh vấn đề tư cách của luật sư, nhân thân của khách hàng và những nội dung chính trong yêu cầu của khách hàng. Tùy phương thức tiếp xúc mà người tư vấn cần đưa ra cách xử sự phù hợp, tạo cho khách hàng cảm giác yên tâm là đã tìm đúng người, từ đó thúc đẩy một cuộc gặp gỡ trực tiếp.

Thứ ba, Bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận, chính trị và chuyên môn nghiệp vụ cho luật sư.

Đây là giải pháp quan trọng và là cầu nối, là sợi dây liên lạc giữa giới luật sư và hệ thống chính trị ở nước ta. Với sự phát triển không ngừng của các quan hệ xã hội, ngày càng nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành. Bên cạnh việc cập nhật các văn bản pháp luật, luật sư cũng cần được trang bị kiến thức về đường lối, chủ chương, chính sách của Đảng thể hiện qua các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng. Hiện nay, việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ là một nghĩa vụ bắt buộc của luật sư được quy định trong Luật Luật sư và Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/ 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư. Thông tư số 10/2014/TT-BTP, ngày 07/4/2014 quy định nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư (Thông tư số 10/2014/TT-BTP). Tuy nhiên, những quy phạm pháp luật này chưa thực sự đi vào thực tiễn, còn mang nặng tính hình thức. Lý do là, quy định thời gian bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ khá ít (chỉ 02 ngày/năm), trách nhiệm của các tổ chức thực hiện lớp bồi dưỡng còn chưa rõ ràng, đối với việc cập nhật đường lối, chủ chương, chính sách của Đảng cho đội ngũ luật sư dường như đang bị bỏ ngỏ...

Vì vậy, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Thông tư số 10/2014/TT-BTP quy định nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư theo hướng: Luật sư phải có nghĩa vụ tham gia các lớp học tập, quán triệt Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và các lớp bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ. Giao trách nhiệm mở lớp, báo cáo viên cho Sở Tư pháp cấp tỉnh thực hiện. Thời gian mở các lớp định kỳ theo từng quý trong năm (một năm 4 lớp), thời gian tổ chức mỗi lớp học, bồi dưỡng ít nhất là 01 đến 02 ngày, thay cho quy định thời gian tham gia bồi dưỡng tối thiểu là 2 ngày một năm như hiện nay (Điều 8 Thông tư số 10/2014/TT-BTP). Về chất lượng các lớp học bồi dưỡng cũng cần được giám sát, bảo đảm.

Thứ tư, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng.

Trong thời gian vừa qua, thực tiễn cho thấy có đã có những trường hợp luật sư xa rời mục tiêu, lý tưởng, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với Đảng và Nhà nước, thậm chí cá biệt còn có những trường hợp vi phạm pháp luật ….Vì vậy, cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với đội ngũ luật sư Việt Nam. Thông qua các cấp chính quyền quản lý luật sư, quản lý Đoàn luật sư và nhất thiết phải được đưa vào Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về chiến lược phát triển đội ngũ luật sư Việt Nam trong thời kỷ mới, từ đó thể chế hóa về mặt pháp luật chủ trương hoàn thiện pháp luật về luật sư.

Thứ năm, tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với luật sư và hoạt động nghề nghiệp luật sư.

Nghề luật sư là nghề độc lập, mang tính chất tự quản rất cao. Một mặt, Nhà nước cần đảm bảo cho tính tự quản nghề nghiệp được phát huy cao độ, mặt khác, hoạt động nghề nghiệp của luật sư cũng cần phải có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước, nhằm tránh tình trạng vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp luật sư. Tuy nhiên, trong thời gian qua hiệu quả quản lý nhà nước đối với luật sư và hoạt động nghề nghiệp của luật sư ở một số địa phương chưa đảm bảo hiệu quả cao, còn để xảy ra nhiều sai phạm của luật sư cả về vi phạm pháp luật và đạo đức nghề nghiệp.

Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu và thể chế hóa bằng pháp luật, theo đó phải phân biệt rõ việc quản lý nhà nước với việc tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư. Nhà nước quản lý những nội dung gì? và tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư quản lý những nội dung gì? Trách nhiệm kiểm tra, giám sát như thế nào? Quy trình xử lý các sai phạm của luật sư, của Đoàn luật sư ra sao? [16].... Có như vậy, mới bảo đảm hành lang pháp lý vững chắc để luật sư tuân thủ các quy định của pháp luật, quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình, bảo đảm luật sư thượng tôn pháp luật, vì công lý, vì lợi ích tốt nhất của khách hàng và góp phần xây dựng Nhà nước Pháp quyền Xã hội chủ nghĩa.

Thứ sáu, tăng cường sự sự phối hợp, tham vấn giữa các Tổ chức hành nghề luật sư với các cơ quan nhà nước địa phương.

Thực tiễn hoạt động của luật sư còn nhiều khó khăn, trở ngại, trong đó có cả các trở ngại khách quan về cơ chế, về quản lý…Để đảm bảo cho hoạt động nghề nghiệp của luật sư được đảm bảo hiệu quả, chuyên nghiệp và đạt chất lượng cao thì cần thiết phải tăng cường sự phối hợp, trao đổi, tham vấn giữa các cơ quan nhà nước với Tổ chức hành nghề luật sư. Cần có cơ chế để định kỳ hàng quý Ban Nội chính và Sở Tư pháp chủ trì mời các cơ quan nhà nước có liên quan và Đoàn Luật sư cấp tỉnh, các Tổ chức hành nghề luật sư để thực hiện việc trao đổi về công tác phối hợp, thực thi pháp luật,… cũng như tham vấn các dự án, chính sách của địa phương. Qua đó, nâng cao được trách nhiệm của các Cơ quan nhà nước; trách nhiệm, vị trí, vai trò của Tổ chức hành nghề Luật, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và tạo thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp của luật sư.

3.3. Nâng cao thói quen tiếp cận các dịch vụ tư vấn pháp luật của người dân

Hiện nay, hầu hết các vụ việc hay mâu thuẫn xảy ra giữa các chủ thể đều xuất phát từ suy nghĩ chủ quan của khách hàng. Bởi khi họ tìm đến các tổ chức hành nghề luật thì sự việc đã xảy ra và yêu cầu tư vấn pháp luật. Tuy nhiên, khách hàng không biết được rằng hành động của mình đi ngược với quy định pháp luật hoặc hành động của họ khiến lợi ích của chính họ bị xâm hại hoặc gây bất lợi khi giải quyết tranh chấp. Điều này dễ hiểu khi người dân vẫn còn suy nghĩ “tiết kiệm đồng nào hay đồng ấy”, nhưng họ không biết được rằng nhận được sự tư vấn pháp luật kịp thời sẽ giảm được rủi ro khi ký kết hay đàm phán các giao dịch trong cuộc sống. Do đó, em xin đưa ra một vài giải pháp sau:

Thứ nhất, Đối với nhà nước: Cần khuyến khích người dân tiếp cận các kênh thông tin hay các tổ chức hành nghề luật để nhận được những lời khuyên cũng như giải đáp các thắc mắc một cách cụ thể nhất, trách trường hợp “sự việc đã rồi”

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dịch vụ tư vấn pháp luật