Khái niệm công khai, minh bạch
Công khai
là để mọi người cùng biết
Minh bạch
là rõ ràng từng chi tiết.
Công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước được thực hiện ở tất cả các công việc quản lý, từ khâu quy hoạch, kế hoạch ngành, cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện thủ tục hành chính đến công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm. Mức độ công khai, minh bạch có thể khác nhau đối từng công việc, từng bước cụ thể.
Vai trò trong việc nâng cao hiệu quả quản lý NN:
- Đây là biện pháp thiết lập sự bình đẳng trong việc tiếp cận đất đai, thực hiện quyền và nghĩa vụ sử dụng đất giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Khi thông tin đất đai được công khai, không chỉ toàn bộ người dân trong nước mà cả những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài đều có thể tiếp cận đất đai dễ dàng hơn, bình đẳng hơn. Với việc công khai, minh bạch hoá hoạt động các CQNN, người dân sẽ dễ dàng biết được các quyền và nghĩa vụ của mình để chủ động thực hiện theo các quy định của pháp luật, từ đó giúp công tác quản lý đất đai của Nhà nước cũng được đảm bảo thực hiện hiệu quả hơn.
- Việc thực hiện công khai, minh bạch sẽ đảm bảo cho hoạt động quản lý nhà nước về đất đai được diễn ra trong đúng khuôn khổ pháp luật. Công khai, minh bạch sẽ giúp người dân giám sát được hoạt động của các cơ quan chức năng cũng như các tổ chức được dân cử, từ đó đòi hỏi CQNN thực hiện đúng đắn các quy định của pháp luật, làm cho các cán bộ, công chức có ý thức hơn trong việc thực hiện chức trách, công vụ của mình theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật quy định, tránh tình trạng lạm dụng quyền hạn để trục lợi hoặc làm việc qua loa, hình thức.
- Công khai, minh bạch là một trong những giải pháp quan trọng để phòng chống tham nhũng trong lĩnh vực đất đai. Công khai, minh bạch, dân chủ tạo điều kiện để người dân cũng như xã hội giám sát hoạt động của các CQNN. Thông qua việc công khai, minh bạch các quyết định của CQNN có thẩm quyền trong lĩnh vực đất đai, người dân có thể tham gia tích cực, phát huy tính dân chủ, giám sát hoạt động của các CQNN và tố cáo các hành vi tiêu cực, trái với quy định của pháp luật của những cán bộ, công chức trong quá trình thực thi quyền hạn của mình. Qua đó, mọi hành vi vi phạm, phiền hà, sách nhiễu hay lợi dụng chức trách với mục đích tư lợi có thể bị phát hiện và xử lý. Từ đó góp phần nâng cao trách nhiệm của các CQNN có thẩm quyền trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai.
- Công khai, minh bạch sẽ góp phần làm giảm những tranh chấp, khiếu kiện kéo dài của người dân về những vấn đề đất đai như vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất… Khi mà các vấn đề liên quan đến đất đai được công bố công khai cho toàn thể người dân được biết sẽ giúp cho người dân nắm rõ được đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, từ đó đánh giá tính đúng đắn, hợp lí trong các quyết định của CQNN có thẩm quyền. Các CQNN nắm được ý kiến, nguyện vọng của nhân dân để có thể xem xét, giải quyết kịp thời, không để nảy sinh những mâu thuẫn trong quá trình giải phóng mặt bằng. Điều này sẽ tạo tâm lí thoải mái, tạo lòng tin của người dân vào các quyết định của CQNN
Ưu điểm trong các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Nội dung các quy định về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước THĐ (sau đây gọi là các quy định về bồi thường, giải phóng mặt bằng - GPMB) nhìn dưới góc độ công khai, minh bạch cho thấy, lĩnh vực pháp luật này đang có những ưu điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, nội dung các quy định về bồi thường, GPMB đã thể hiện tương đối rõ nét tính cụ thể, rõ ràng, rành mạch:
- Luật Đất đai quy định cụ thể những trường hợp Nhà nước THĐ do lỗi của người SDĐ gây ra hoặc những trường hợp THĐ vì lý do đương nhiên như đất giao sử dụng có thời hạn mà không được Nhà nước gia hạn khi hết thời hạn SDĐ; người SDĐ chết mà không có người thừa kế tiếp tục SDĐ… tại Điều 38 và những trường hợp THĐ vì lý do khách quan, đó là trường hợp Nhà nước THĐ vì mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và mục đích phát triển kinh tế tại Điều 39. Trên cơ sở đó, Nhà nước thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC không giống nhau đối với các trường hợp THĐ: (i) trường hợp THĐ sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và mục đích phát triển kinh tế thì người bị THĐ được Nhà nước bồi thường về đất và bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi. Đối với trường hợp thu hồi đất ở (THĐƠ), người bị THĐ ngoài việc được Nhà nước bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất bị thu hồi còn được hưởng chính sách TĐC. Trường hợp THĐ nông nghiệp của người trực tiếp sản xuất nông nghiệp mà không có đất để giao cho họ tiếp tục sản xuất, người bị THĐ nông nghiệp ngoài việc được bồi thường về đất và tài sản trên đất còn được Nhà nước hỗ trợ trong việc ổn định cuộc sống, đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp; (ii) trường hợp THĐ do lỗi của người SDĐ gây ra thì người bị THĐ không được bồi thường về đất mà chỉ được bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi.
- LĐĐ quy định cụ thể thời hạn thông báo cho người bị THĐ biết về quyết định THĐ nhằm tạo điều kiện để họ chủ động trong việc thu hoạch mùa màng, thu dọn đồ đạc, di chuyển chỗ ở để sớm bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư “trước khi THĐ, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước (CQNN) có thẩm quyền phải thông báo cho người bị THĐ biết lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch di chuyển, phương án tổng thể về bồi thường, GPMB, TĐC” (khoản 2 Điều 39).
- LĐĐ 2003 quy định cụ thể các trường hợp Nhà nước THĐ để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế và các trường hợp SDĐ vào mục đích sản xuất - kinh doanh, chủ dự án phải thỏa thuận với người SDĐ về việc nhận chuyển nhượng quyền SDĐ: “1. Nhà nước thực hiện việc THĐ để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế trong trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ …; 2. Đối với dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch SDĐ đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền SDĐ, nhận góp vốn bằng quyền SDĐ của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục THĐ” (Điều 40).
- LĐĐ 2003 quy định cụ thể chức năng quản lý quỹ đất thu hồi đã thực hiện bồi thường, GPMB nhưng chưa có dự án đầu tư; cụ thể: “1. Nhà nước quyết định THĐ và giao đất cho tổ chức phát triển quỹ đất do Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập để thực hiện việc THĐ, bồi thường, GPMB và trực tiếp quản lý quỹ đất đã thu hồi sau khi quy hoạch, kế hoạch SDĐ được công bố mà chưa có dự án đầu tư” (Điều 41). Đối với đất đã thu hồi thuộc khu vực nông thôn được giao cho UBND xã quản lý. Việc quy định minh bạch vấn đề này góp phần vào việc tạo lập quỹ đất “sạch” nhằm đáp ứng nhu cầu SDĐ của các doanh nghiệp và nhà đầu tư.
- LĐĐ 2003 quy định cụ thể điều kiện được bồi thường khi Nhà nước THĐ tại khoản 1 Điều 42. Điều này góp phần làm giảm những tranh chấp, khiếu kiện không cần thiết xung quanh việc bồi thường khi Nhà nước THĐ.
- LĐĐ 2003 quy định rõ nguyên tắc: “Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền SDĐ tại thời điểm có quyết định thu hồi” (khoản 2 Điều 42). Quy định này nhằm ngăn ngừa tình trạng người bị THĐ đòi hỏi giá bồi thường quá cao do giá trị của đất đai tăng lên từ việc chuyển mục đích SDĐ hoặc do sự đầu tư của Nhà nước mang lại.
- Pháp luật đất đai hiện hành quy định rõ ràng trách nhiệm của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc lập và thực hiện các dự án TĐC trước khi THĐ để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị THĐƠ mà phải di chuyển chỗ ở. Khu TĐC được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ (khoản 3 Điều 42 LĐĐ).
Thứ hai, các quy định về bồi thường, GPMB của LĐĐ và các văn bản hướng dẫn thi hành đã dự liệu tương đối toàn diện các trường hợp phát sinh từ việc Nhà nước THĐ gây ra. Điều này thể hiện, pháp luật hiện hành đã quy định cụ thể các trường hợp bồi thường về đất và bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất; những trường hợp không được bồi thường về đất mà chỉ được bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất và các trường hợp THĐ không được bồi thường cũng như những quy định về TĐC, hỗ trợ ổn định cuộc sống và đào tạo chuyển đổi nghề cho người nông dân bị THĐ nông nghiệp không có đất để sản xuất, v.v..
Giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng quản lý đất đai
Thứ nhất, tăng cường năng lực cho hệ thống cơ quan thanh tra, kiểm tra chuyên ngành về đất đai. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành về đất đai nhằm đảm bảo xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức có đầy đủ chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm để đáp ứng yêu cầu ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các sai phạm trong quản lý và sử dụng đất đai trong tình hình hiện nay. Thường xuyên tổ chức các đợt tập huấn các nội dung đổi mới chính sách pháp luật đất đai; các quy định mới về nghiệp vụ thanh tra; các quy định mới về xử lý vi phạm pháp luật đất đai; nội dung thanh tra, kiểm tra diện rộng hoặc chuyên đề.
Thứ hai, chỉ đạo địa phương tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai, các trường hợp tham nhũng, tiêu cực trong quản lý đất đai, đồng thời làm tốt việc công khai các vi phạm pháp luật đất đai; tổ chức tốt việc tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh về vi phạm pháp luật đất đai của tổ chức, cá nhân.
Thứ ba, tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật đất đai theo chuyên đề hoặc diện rộng trên phạm vi cả nước.
Thứ tư, đổi mới nội dung, phương pháp chỉ đạo, điều hành, tác nghiệp, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra đất đai. Tổ chức thi hành các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau thanh tra có hiệu lực pháp luật và tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong công tác thanh tra.
Thứ năm, hoàn thiện thể chế về theo dõi, đánh giá việc thi hành Luật Đất đai, xây dựng hệ thống theo dõi, giám sát về đất đai từ Trung ương đến địa phương; xây dựng các tiêu chí theo dõi, giám sát và đánh giá việc quản lý và sử dụng đất, hàng năm có báo cáo đánh giá về tình hình thực hiện Luật Đất đai; đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai và tác động của chính sách, pháp luật về đất đai đến KT-XH và môi trường để có những định hướng sửa đổi, bổ sung chính sách cho phù hợp.