CƠ SỞ PHÁP LÝ

Hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan 1997

Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993

Hiến pháp Italia 1947

Hiến pháp Nhật Bản 1946

hiến pháp cộng hòa Xéc năm 1992

Đạo luật Liên bang Áo năm 1970.

NỘI DUNG TƯ VẤN

Ta sẽ cùng tìm hiểu về: Mô hình Tòa án hiến pháp, Hội đồng bảo hiến ở những mục sau:

1. Mô hình Tòa án hiến pháp, Hội đồng bảo hiến

Mô hình Tòa án hiến pháp (Constitutional court) hoặc Hội đồng bảo hiến ( Constitutional counsil) - Mô hình lục địa Châu Âu

Khác với Mô hình Hoa Kỳ, các nước lục địa châu Âu không trao cho Toà án tư pháp thực hiện giám sát Hiến pháp mà thành lập một toà án đặc biệt để thực hiện chức năng này. Toà án này được gọi là Toà án Hiến pháp hoặc Hội đồng bảo hiến, Viện bảo hiến. Đây là mô hình giám sát tập trung (Concentrated system). Toà án Hiến pháp được thành lập ở Áo năm 1920, Italia năm 1947, Đức năm 1949, Miền Nam Việt Nam năm 1956, Pháp năm 1958, Thổ Nhĩ Kỳ năm 1961, Nam Tư nãm 1963, Bồ Đào Nha năm 1976, Tây Ban Nha năm 1978, Hy Lạp năm 1979, Ba Lan năm 1982, Hungari năm 1983, Liên Xô cũ năm 1988, Nga năm 1993, Cambodia nãm 1993, Belarus năm 1994, Ưkrain năm 1996, Thai Lan năm 1997, Czech năm 1997. Mô hình này có thể gọi là mô hình của Áo vì Áo là nơi thành lập sớm nhất, nhưng thường gọi là mô hình lục địa châu Âu vì khu vực này là phổ biến nhất.

2. Cơ cấu, cách thức thành lập, và thẩm quyền của Toà án hiến pháp

+ Về cơ cấu: Toà án hiến pháp thông thường có từ 9 đến 15 thẩm phán. Những nước có 9 thẩm phán là Pháp, Italia, Campuchia, 11 thẩm phán như Belarus, 12 thẩm phán như Tây Ban Nha, 15 thẩm phán như Ba Lan, Séc, Thái Lan, 18 thẩm phán như Ukraina. Toà án hiến pháp có nhiều thẩm phán nhất là cộng hoà liên bang Nga - 19 thẩm phán. Nhiệm kỳ của thẩm phán toà hiến pháp thông thường là 9 năm như Pháp, Italia, Tây Ban Nha, Ukraina, Ba Lan, Campuchia...

+ Về cách thức thành lập: Thông thường 1/3 số lượng thẩm phán Toà án hiến pháp do Tổng thống bổ nhiệm, 1/3 khác do Hạ viện bầu (hoặc Chủ tịch hạ viện bổ nhiệm), 1/3 còn lại do Thượng viện bầu (hoặc Chủ tịch thượng viện bổ nhiệm). Các thành viên của Toà án hiến pháp không thể đồng thời là thành viên của Chính phủ, Nghị viện hoặc là thẩm phán của Toà án tư pháp hay Toà án hành chính, cũng không thể đảm nhiệm bất cứ chức vụ gì của các cơ quan công quyền, hay thực hiện các hoạt động kinh doanh. Các thẩm phán Toà án hiến pháp thông thường được lựa chọn từ các thẩm phán, các công tố viên, các luật sự, các giáo sư đại học có danh tiếng, các chính khách, các quan chức hành chính có uy tín. Một số nước như Pháp quy định các cựu Tổng thống là thành viên đương nhiên của Toà án Hiến pháp.

+ Về thẩm quyền:

  • Toà án hiến pháp có thẩm quyền xem xét tính hợp hiến của các văn bản luật, các điềụ ước quốc tế mà Tổng thống hoặc Chính phủ đã hoặc sẽ tham gia ký kết, các sắc lệnh của Tổng thống, các Nghị định của Chính phủ, có thể tuyên bố một văn bản luật, dưới luật là vi hiến và làm vô hiệu hoá văn bản đó;
  • Thẩm quyền xem xét tính hợp hiến của các cuộc bầu cử Tổng thống, bầu cử Nghị viện và trưng cầu dân ý;
  • Thẩm quyền tư vấn về tổ chức bộ máy nhà nước, về các vấn đề chính trị đối nội cũng như đối ngoại;
  • Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền giữa các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp, giữa chính quyền trung ương và địa phương;
  • Giám sát hiến pháp về quyền con người và quyền công dân.

Ngoài ra, một số Toà án Hiến pháp (như Italia) có quyền xét xử Tổng thống khi Tổng thống vi phạm pháp luật.

3. Về cách thức thực hiện quyền giám sát tính hợp hiến của các văn bản luật

+ Giám sát các văn bản luật trước khi công bố (Preventive review):

Thông thường theo yêu cầu Tổng thống (Nhà vua các nước quân chủ lập hiến), Thủ tướng, Chính phủ, Chủ tịch thượng viện, Chủ tịch hạ viện, 1/10 số nghị sĩ của Nghị viện (hoặc 1/5 số Nghị sĩ của một trong hai viện), Toà án tối cao, Toà án hiến pháp sẽ xem xét tính hợp hiến của các dự luật đã được hai viện thông qua nhưng chưa công bố. Các nước thường quy định thời hạn này là 30 ngày, trường hợp khẩn cấp theo yêu cầu của Chính phủ thời hạn này có thể ngắn hơn (Ví dụ như Pháp thì thời hạn này là 8 ngày). Trong trường hợp Hội đồng bảo hiến tuyên bố văn bản đó không trái với Hiến pháp thì quá trình công bố sẽ tiếp tục tiến hành. Ngược lại, nếu Toà án Hiến pháp tuyên bố văn bản vi hiến thì văn bản đó không thể được công bố hay có hiệu lực. Khi một hiệp ước có một hay nhiều điều khoản bị tuyên bố là vi hiến, việc ký kết và ban hành hiệp ước đó lập tức bị đình chỉ cho tới khi Hiến pháp được sửa đổi hoặc hiệp ước đó được các bên thỏa thuận sửa đổi. Các quyết định của Toà án Hiến pháp là quyết định có hiệu lực cuối cùng và không thể bị kháng nghị hay kháng cáo, các cơ quan công quyền lập pháp, hành chính hay tư pháp đều phải tôn trọng.

Ở Pháp theo Hiến pháp năm 1958, Hội đồng bảo hiến được trao thẩm quyền xem xét các đạo luật trước khi công bố. Điều 61 Hiến pháp 1958 quy định: “Những đạo luật về tổ chức, các quy tắc của hai viện, trước khi ban hành đều phải đệ trình lên Hội đồng bảo hiến xem xét các văn kiện đó có phù hợp với Hiến pháp hay không. Để phù hợp với Hiến pháp, các đao luật khác trước khi thi hành cũng phải đệ trình Hội đổng bảo hiến bởi Tổng thống, Thủ tướng hay Chủ tịch của hai viện”.

+ Giám sát các văn bản luật đã có hiệu lực pháp luật (Repressive review)

Hội đồng bảo hiến (hay Toà án hiến pháp) có thể đưa ra xem xét tính hợp hiến của các đạo luật đã có hiệu lực. Ví dụ, ở Pháp một số đạo luật được thông qua trước Hiến pháp 1958 nhưng theo quy định của • Hiến pháp 1958 thì những quan hệ xã hội do các đạo luật đó điều chỉnh nay thuộc lĩnh vực điều chỉnh của hành pháp. Trong trường hợp này, Chính phủ có quyền tự do sửa đổi các đạo luật đó bằng cách thông qua các sắc lệnh tương đương sau khi đã tham khảo ý kiến của Hội đồng nhà nước (Conseil d’ Etat). Tuy nhiên, những đạo luật được ban hành sau năm 1958 có những quy định không thuộc phạm vi của lập pháp thì Chính phủ chỉ có thể sửa đổi đạo luật đã ban hành bằng một sắc lệnh tương đương nếu Hội đổng bảo hiến (Conseil constitutionel) tuyên bố đạo luật đó có tính cách lập quy (Điều 37 Hiến pháp). Thực hiện quyền bảo hiến, Hội đồng bảo hiến của Pháp ngày 16/7/1971 đã tuyên bố một đạo luật đã được Nghị viện thông qua là vi hiến vì nó trái với quyền hội họp đã được quy định trong Hiến pháp năm 1958.

4. Đặc điểm của giám sát hiến pháp theo mô hình lục địa châu Âu

- Giám sát hiến pháp theo mô hình lục địa châu Âu là mô hình giám sát chủ yếu là tập trung thông qua thiết chế Toà án hiến pháp hoặc Hội đồng bảo hiến.

- Giám sát bảo hiến theo mô hình lục địa châu Âu không những là giám sát tư pháp cụ thể (Concrete judicial review) mà còn là giám sát trừu tượng (Abstract judicial review) vì vấn đề xem xét tính hợp hiến của một quy định nào đó không nhất thiết phải gắn liền với một vụ việc nào đó, mà nó có thể được đưa ra theo đề nghị của một cá nhân, tổ chức có thẩm quyền, bao gồm Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch thượng viện hoặc hạ viện, Thanh tra Nghị viện (Ombudsman), Chánh án Toà án tối cao hoặc 1/10 số đại biểu Nghị viện. Ngoài ra, Hội đồng địa phương, Tỉnh trưởng cũng có quyền đề nghị xem xét tính hợp hiến của đạo luật vì lý do các quyền của địa phương bị vi phạm. Đối với các đạo luật do Hội đồng địa phương ban hành vi hiến, Bộ trưởng có qùyền đề nghị xem xét tính hợp hiến của các đạo luật đó.

- Một số nước ở lục địa châu Âu như Bồ Đào Nha, Switzerland tồn tại hệ thống giám sát hiến pháp hỗn họp vừa tập trung vừa phi tập trung. Ở Bồ Đào Nha vừa có Toà án hiến pháp là cơ quan bảo hiến, mặt khác Hiến pháp năm 1982 của Bổ Đào Nha tại Điều 207 còn có quy định “ các toà án các cấp không được áp dụng các quy định và các nguyên tắc bất hợp hiến trong khi xem xét các vấn đề đưa ra trước toà”. Các quy định của Hiến pháp trao cho toà án các cấp quyền không áp dụng các quy định và các nguyên tắc bất họp hiến. Vấn đề xem xét tính hợp hiến có thể do một bên trong đương sự hoặc do công tố viên đưa ra.

- Hiệu lực của các quyết định của Toà hiến pháp theo quy định của Hiến pháp có giá trị bắt buộc thực hiện đối với tất cả các chủ thể pháp luật kể từ khi một quy phạm, một chế định hoặc một văn bản nào đó bị Toà hiến pháp tuyên bố là vi hiến.

5. Mô hình cơ quan lập hiến đồng thời là cơ quan bảo hiến:

Ở Việt Nam, Trung Quốc, Cu Ba và một số nước khác không có cơ quan bảo hiến chuyên biệt. Các nước này đều có quan điểm chung là Quốc hội (Nghị viện) là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, không những là cơ quan lập hiến, lập pháp duy nhất mà còn là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Quốc hội phải tự quyết định tính hợp hiến của một đạo luật. Nếu Quốc hội trao quyền này cho một cơ quan khác phán quyết thì Quốc hội không còn là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nữa. Quan điểm trên đáy có hạt nhân hợp lý của nó, tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng nếu một cơ quan vừa lập pháp vừa tự mình phán quyết đạo luật do mình làm ra có vi hiến hay không thì cũng chẳng khác gì tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”.

Ngay từ thời kỳ La Mã người ta đã khẳng định rằng “Nemo jus sibi dicere potest” nghĩa là không ai có thể tự mình phán xét mình được. Không phải chỉ riêng ở nước ta, mà ở bất kỳ nước nào cũng vậy, mỗi đạo luật được ra đời là một đứa con tinh thần của cơ quan lập pháp. Cơ quan lập pháp phải ấp ủ bởi phải mang nặng, đẻ đau những đứa con tĩnh thần của mình. Người mẹ do quá yêu quý đứa con của mình nên dễ bỏ qua những khuyết tật của nó. Thiết nghĩ rằng, việc thiết lập một cơ quan bảo hiến độc lập với Quốc hội để xem xét tính hợp hiến của các đạo luật và một số văn bản dưới luật là rất cần thiết cho Việt Nam ưong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê