1. Quy định pháp luật về cán bộ cấp xã

Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức 2008, cán bộ cấp xã được xác định như sau: Cán bộ xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội theo nhiệm kỳ. Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Do đó, theo quy định trên đây, cán bộ cấp xã được xác định là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ trong các cơ quan và tổ chức cấp xã.

Theo Điều 62 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008, cán bộ cấp xã có các quyền và nghĩa vụ sau:

- Thực hiện các nghĩa vụ và quyền được quy định trong Luật này, các quy định khác của pháp luật có liên quan và điều lệ của tổ chức mà họ là thành viên.

- Khi đảm nhiệm chức vụ, cán bộ cấp xã được hưởng lương và các chế độ bảo hiểm. Khi không còn giữ chức vụ, nếu đủ điều kiện và tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, họ có thể được xem xét chuyển thành công chức. Trong trường hợp này, họ được miễn chế độ tập sự và tiếp tục hưởng các chế độ và chính sách.

- Trong trường hợp không đủ điều kiện để chuyển thành công chức mà chưa đủ điều kiện nghỉ hưu, cán bộ cấp xã sẽ dừng hưởng lương và thực hiện đóng bảo hiểm tự nguyện theo quy định của pháp luật. Nếu họ được điều động, luân chuyển, hoặc biệt phái, cơ quan có thẩm quyền sẽ bố trí công việc phù hợp hoặc giải quyết các chế độ theo quy định của pháp luật.

2. Chế độ thôi việc đối với cán bộ cấp xã hiện nay

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Nghị định 33/2023/NĐ-CP thì thôi giữ chức vụ đối với cán bộ cấp xã và dừng việc làm đối với công chức cấp xã (trừ trường hợp chuyển công tác và trường hợp bị kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức) sẽ được hưởng chế độ trợ cấp dừng giữ chức vụ đối với cán bộ cấp xã và trợ cấp dừng việc đối với công chức cấp xã, theo quy định của Chính phủ về chế độ trợ cấp dừng việc đối với công chức.

Trong trường hợp chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cách chức mà không được sắp xếp, bố trí chức danh công chức khác ở cấp xã, thì sẽ được giải quyết chế độ dừng việc trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực. Ngoài chế độ dừng việc được hưởng theo quy định tại khoản 1 của Điều này, chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã còn được hưởng các chế độ dừng việc khác theo quy định của pháp luật về dân quân tự vệ.

Nguồn kinh phí chi trả trợ cấp dừng giữ chức vụ đối với cán bộ cấp xã và trợ cấp dừng việc đối với công chức cấp xã sẽ được bố trí trong dự toán chi hoạt động thường xuyên của Ủy ban nhân dân cấp xã được cấp có thẩm quyền giao hàng năm.

Theo quy định tại Điều 5 của Nghị định 46/2010/NĐ-CP, công chức khi thôi việc sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc theo các điều kiện sau: Mỗi năm làm việc được tính bằng 1/2 tháng lương hiện hưởng, bao gồm: Mức lương theo ngạch và bậc; Phụ cấp chức vụ lãnh đạo; Phụ cấp thâm niên vượt khung; Phụ cấp thâm niên nghề; Hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có). Lưu ý rằng mức trợ cấp tối thiểu được hưởng không dưới 01 tháng lương hiện hưởng.

3. Thủ tục giải quyết thôi việc với cán bộ cấp xã

Quy trình giải quyết thôi việc, cũng như các chính sách về trợ cấp thôi việc và thời gian làm việc tính trợ cấp thôi việc, cũng như chế độ bảo hiểm xã hội khi thôi việc đối với công chức cấp xã, được áp dụng theo quy định tại các Điều 4 của Nghị định 46/2010/NĐ-CP, chi tiết như sau:

- Trường hợp thôi việc theo nguyện vọng:

+ Bước 1: Công chức phải viết đơn và gửi đến cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền.

+ Bước 2: Trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận đơn: Nếu đồng ý cho công chức thôi việc, cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền sẽ ban hành quyết định thôi việc bằng văn bản. Nếu không đồng ý, cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền sẽ trả lời công chức bằng văn bản và nêu rõ lý do theo quy định tại điểm c của khoản 1 của Điều 4 trong Nghị định 46/2010/NĐ-CP.

Lưu ý: Các lý do không giải quyết thôi việc bao gồm: Công chức đang trong quá trình luân chuyển, biệt phái, đang bị xem xét kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Công chức chưa hoàn thành thời gian phục vụ theo cam kết với cơ quan, tổ chức, đơn vị khi được tuyển dụng. Công chức chưa thanh toán các khoản tiền, tài sản thuộc trách nhiệm của mình đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị. Do yêu cầu công tác của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc chưa có người thay thế.

- Trường hợp thôi việc do không hoàn thành nhiệm vụ trong 02 năm liên tiếp:

+ Giai đoạn 1: Trong vòng 30 ngày kể từ ngày có kết quả phân loại và đánh giá công chức, cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền thông báo bằng văn bản đến công chức về quyết định thôi việc, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 của Điều 59 Luật Cán bộ, công chức.

+ Giai đoạn 2: Trong vòng 30 ngày kể từ ngày có thông báo bằng văn bản, cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền sẽ ban hành quyết định thôi việc.

+ Giai đoạn 3: Trong vòng 30 ngày kể từ ngày quyết định thôi việc được ban hành, cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền phải thanh toán trợ cấp thôi việc đối với công chức. Những quy định này sẽ giúp quản lý và thực thi quy trình giải quyết thôi việc một cách rõ ràng và minh bạch.

4. Chế độ bảo hiểm xã hội một lần với công chức cấp xã thôi việc

Quy định về hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần đối với công chức cấp xã khi thôi việc, theo Điều 8 của Nghị định 46/2010/NĐ-CP, được thể hiện như sau:

- Người lao động, trong phạm vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 của Điều 2 trong Nghị định 115/2015/NĐ-CP, có yêu cầu sẽ được hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại các Khoản 1, 2 và 4 của Điều 54 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014, nhưng chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội hoặc theo quy định tại Khoản 3 của Điều 54 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014, nhưng chưa đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội và không tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện; Sau một năm nghỉ việc mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội; Ra nước ngoài để định cư; Bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và các bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế.

- Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính dựa trên số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cụ thể như sau: 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng trước năm 2014; 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng từ năm 2014 trở đi; Trong trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ một năm, mức hưởng bảo hiểm xã hội sẽ bằng số tiền đã đóng, với mức tối đa không vượt quá 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

- Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần không bao gồm số tiền Nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện, trừ trường hợp có quy định khác tại Điểm d của Khoản 1 Điều 8 của Nghị định 46/2010/NĐ-CP. Thời điểm tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần được xác định theo thông báo trong quyết định của cơ quan bảo hiểm xã hội.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với công chức cấp xã? 

Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tới địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!