1. Một số vấn đề về thi hành án hình sự của Tòa án

Thi hành án hình sự là một giai đoạn trong tố tụng hình sự và có thể coi đó là giai đoạn cuối cùng của một vụ án hình sự. Công tác điều tra, truy tố và xét xử là rất quan trọng. Quyết định hình phạt của Toà án chính là sự đánh giá, sự lên án của Nhà nước đối với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Nếu chỉ dừng ở mức đánh giá, lên án mà không thực hiện bằng các biện pháp mang tính cưỡng chế đặc trưng của quyền lực nhà nước thì tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa và tính chịu hình phạt hạn chế, thậm chí là không có tác dụng. Chính vì vậy, pháp luật hình sự đã có những quy định cụ thể về thi hành án hình sự, các ngành tư pháp trung ương nói chung và Toà án nhân dân tối cao nói riêng cũng đã ban hành một số Thông tư liên tịch, Nghị quyết để hướng dẫn một số quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự về thi hành án hình sự nhằm đảm bảo việc thi hành nghiêm túc các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay.

I. Thẩm quyền của Toà án trong thi hành án hình sự

1. Thẩm quyền của Tòa án

Cũng có một số quan điểm khác nhau về thẩm quyền của Toà án trong thi hành án hình sự. Có quan điểm cho rằng thi hành án hình sự không phải là một công tác chủ yếu của Toà án mà đó chỉ là những việc liên quan đến Toà án; có quan điểm cho rằng thi hành án hình sự là việc chung của nhiều cơ quan tư pháp chứ không phải của riêng Toà án; có quan điểm cho rằng thi hành án hình sự là một trong những công tác chủ yếu của Toà án. Thực tế thì các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay cũng không phân định rõ rệt cơ quan tư pháp nào có chức năng "chủ trì" trong thi hành án, do đó mỗi quan điểm trên đều đưa ra những lập luận riêng để bảo vệ quan điểm của mình. Xét về góc độ thực tiễn thì hiện nay một bản án, quyết định về hình sự có thể do nhiều cơ quan thi hành, nhất là trong trường hợp bản án, quyết định đó có nhiều bị cáo, có nhiều loại hình phạt được áp dụng hoặc có nhiều quyết định về dân sự, về hình phạt bổ sung.

Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ đề cập đến vấn đề thẩm quyền của Tòa án trong công tác thi hành án mà không đi sâu về việc phân tích xem các quan điểm nào về việc "chủ trì" thi hành án hình sự là của cơ quan tư pháp nào.

Theo quy định của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây xin viết tắt là BLHS và BLTTHS) thì Toà án có thẩm quyền thực hiện các việc về thi hành án hình sự, đó là:

- Ra quyết định thi hành án hình sự hoặc quyết định uỷ thác thi hành án hình sự.

- Ra quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành án phạt tù;

- Quyết định giảm thời gian chấp hành hình phạt tù hoặc miễn chấp hành hình phạt tù;

- Quyết định việc giảm thời gian thử thách của án treo;

- Quyết định xoá án tích hoặc cấp giấy chứng nhận xoá án tích;

- Theo dõi việc đưa người bị phạt tù giam vào trại giam để thi hành án hoặc theo dõi việc thi hành án của những người bị kết án mà Toà án đã giao cho chính quyền địa phương nơi người bị kết án cư trú hoặc cơ quan tổ chức nơi người bị kết án làm việc.

- Xem xét việc miễn, giảm thi hành án đói với khoản tiền phạt, án phí;

- Tổ chức việc thi hành hình phạt tử hình;

- Tham gia giúp Hội đồng đặc xá trung ương thực hiện việc đặc xá.

Như vậy, từ khi bản án, quyết định hoặc những phần của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành án cho đến khi bản án, quyết định đó được thi hành xong đều là công việc của Toà án, tức là căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự, Toà án phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc và chính xác nhằm đảm bảo các bản án, quyết định phải đưa ra thi hành được thực hiện nghiêm chỉnh.

2. Thời hiệu thi hành bản án

- Thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do Bộ luật hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó, người bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên.

- Thời hiệu thi hành bản án hình sự được quy định như sau:

a. Năm năm đối với các trường hợp xử phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử phạt tù từ ba năm trở xuống;

b. Mười năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm;

c. Mười lăm năm đối với các trường hợp xử phạt tù trên mười lăm năm đến ba mươi năm.

- Thời hiệu thi hành bản án quy định tại Điều 55 BLHS là thời hiệu thi hành bản án hình sự về quyết định hình phạt. Đối với các quyết định về bồi thường thiệt hại, án phí và các quyết định khác về tài sản thì việc xác định thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự.

- Thời hiệu thi hành bản án hình sự tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp người bị kết án lại phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 55 BLHS thì thời hiệu được tính lại kể từ ngày họ phạm tội mới.

Ví dụ: Nguyễn Văn A bị Toà án phúc thẩm phạt 2 năm tù về tội "Cố ý gây thương tích" theo bản án số 50/HSPT ngày 10/5/2006 và chưa bị bắt thi hành hình phạt. Ngày 20/3/2007, Nguyễn Văn A phạm tội trộm cắp tài sản. Như vậy, thời hiệu thi hành bản án số 50/HSPT ngày 10/5/2006 là năm năm tính từ ngày 21/3/2007. Thời hiệu thi hành bản án đối với tội trộm cắp tài sản tính từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật (nếu như bị cáo không tiếp tục phạm tội mới).

- Trường hợp trong bản án có tổng hợp hình phạt của nhiều tội thì căn cứ mức hình phạt để tính thời hiệu thi hành bản án hình sự là hình phạt chung của hình phạt chính nặng nhất.

Ví dụ: Bị cáo A bị Toà án phúc thẩm tuyên phạt về ba tội: giết người, cướp giật tài sản và cho vay nặng lãi và xử phạt 15 năm tù về tội giết người, 3 năm tù về tội cướp giật và 20 triệu đồng về tội cho vay nặng lãi. Tổng hợp hình phạt chung là 18 năm tù và 20 triệu đồng. Thời hiệu thi hành bản án này mười năm (điểm b khoản 2 Điều 55 BLHS).

- Trường hợp trong bản án có nhiều người bị kết án thì căn cứ vào mức hình phạt đối với từng người cụ thể để tính thời hiệu thi hành bản án hình sự.

- Trong trường hợp bản án có tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, thì căn cứ vào mức hình phạt trong mỗi bản án cụ thể để tính thời hiệu thi hành của từng bản án hình sự cụ thể đó mà không phải căn cứ vào mức tổng hợp hình phạt chung.

- Trường hợp người bị kết án cố tình trốn tránh và cơ quan Công an đã cơ quyết định truy nã theo đúng quy định tại Điều 161 BLTTHS, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu thi hành bản án hình sự tính lại kể từ ngày người đó ra trình diện hoặc bị bắt giữ.

"Cố tình trốn tránh" là cố tình giấu địa chỉ, ẩn náu, thay đổi họ tên, hình dạng… làm cho cơ quan có thẩm quyền thi hành án không biết họ ở đâu hoặc không phát hiện được.

Trường hợp người bị kết án cố tình trốn tránh, nhưng cơ quan công an không ra quyết định truy nã hoặc có ra quyết định truy nã, nhưng không đúng quy định tại Điều 161 BLTTHS (Trừ những việc không thể thực hiện được, như phải dán ảnh kèm theo nhưng không có ảnh), thì thời gian trốn tránh vẫn được tính để xác định thời hiệu thi hành bản án hình sự.

- Trường hợp người bị kết án phạt tù được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và khi hết thời hạn được hoãn hoặc tạm đình chỉ mà Chánh án Toà án đã ra các quyết định này không ra quyết định thi hành án theo khoản 2 Điều 261 hoặc điểm b khoản 1 Điều 262 BLTTHS hoặc có ra quyết định thi hành hình phạt tù, nhưng người bị kết án không trốn tránh, thì cũng được hưởng thời hiệu thi hành bản án. Thời hiệu thi hành bản án hình sự được tính kể từ ngày hết thời hạn hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và căn cứ vào mức hình phạt tù còn lại mà người bị kết án chưa chấp hành.

III. Một số vấn đề về công tác thi hành án hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án

1. Ra quyết định thi hành án hình sự

- Về Điều 255 Bộ luật tố tụng hình sự: Những bản án, quyết định được thi hành gồm:

+ Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị tức là kể từ ngày tiếp theo sau thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; (Thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã được hướng dẫn tại tiểu mục 4.1, mục 4, phần I Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 8/12/2005).

+ Những bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm;

+ Những quyết định của Toà án giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Toà án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, không kết tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là tù giam hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án, quyết định của Toà án được thi hành ngay mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị.

Mặc dù Điều 255 Bộ luật tố tụng hình sự chỉ quy định những bản án và quyết định nêu trên được thi hành, nhưng theo quy định tại Điều 240 Bộ luật tố tụng hình sự thì những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Khoản 1 Điều 237 BLTTHS quy định "những phần của bản án bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật này… Điều này phù hợp với quy định tại Điều 240 BLTTHS. Lẽ ra, Điều 255 BLTTHS phải quy định thêm trường hợp những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi hành mới phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 237 và Điều 240 BLTTHS.

Trong thực tiễn thi hành án hình sự, các Toà án thường chưa ra quyết định thi hành án đối với những phần bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị vì theo quy định tại khoản 2 Điều 249 BLTTHS thì "Nếu có căn cứ, Toà án cấp phúc thẩm có thể giảm hình phạt hoặc áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình sự tù và cho hưởng án treo cho tất cả những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị".

Như vậy, nếu Toà án căn cứ vào quy định tại Điều 240 BLTTHS để ra quyết định thi hành án hình sự đối với các bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị và quyết định đó được thi hành trước khi có bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm (đã bắt thi hành án, đã thi hành phần dân sự trong vụ án hình sự, đã thi hành các hình phạt bổ sung…) mà sau đó bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm lại sửa án sơ thẩm theo hướng có lợi cho những bị cáo này thì rõ ràng quyết định thi hành án phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án sơ thẩm phải được huỷ bỏ. Vấn đề là ai có quyền ra quyết định huỷ bỏ hoặc thay thế quyết định thi hành án trước đây. Hiện nay TANDTC chưa có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, nhưng theo chúng tôi thì Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án có quyền ra quyết định khác để thi hành bản án, quyết định phúc thẩm (nếu bản án, quyết định đó phải đưa ra thi hành).

Về nguyên tắc thì mọi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đều phải được thi hành nghiêm chỉnh và phải được các cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan trong phạm vi trách nhiệm của mình phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc chấp hành đó. (Điều 22 BLTTHS). Tuy nhiên, không phải mọi bản án quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật thì Toà án đều phải ra quyết định thi hành án hình sự bởi vì có những bản án, quyết định không phải ra quyết định thi hành. Ví dụ những bản án, quyết định mà Toà án tuyên bố bị cáo không phạm tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, áp dụng hình phạt tù khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam, quyết định đình chỉ vụ án của Toà án cấp sơ thẩm hoặc quyết định đình chỉ, huỷ bản án sơ thẩm trong trường hợp bị cáo đã chết, cảnh cáo tại phiên toà, buộc xin lỗi công khai….

Như vậy, Toà án chỉ ra quyết định thi hành án hình sự đối với những trường hợp bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mà bản án, quyết định đó đã áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình, hình phạt trục xuất, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng cho hưởng án treo.

Đối với các bản án, quyết định của Toà án có phần dân sự trong vụ án hình sự thì kể cả trường hợp Toà án phải ra quyết định hoặc không phải ra quyết định thi hành án hình sự đều do cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành.

Đối với các bản án, quyết định có áp dụng các hình phạt bổ sung như quản chế, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, tước một số quyền công dân… đã nằm trong các bản án, quyết định, là một phần của bản án, quyết định đó nên khi Toà án ra quyết định thi hành bản án, quyết định số … ngày … tháng … năm … của Toà án … thì đồng thời cũng là quyết định thi hành các hình phạt bổ sung (nếu có). Việc thi hành các hình phạt bổ sung nói trên thuộc trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân địa phương hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc.

Riêng đối với hình phạt trục xuất (dù là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung) do cơ quan Công an thực hiện, căn cứ vào quyết định thi hành án hình sự của Toà án.

Riêng đối với hình phạt tiền (dù là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung) do cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành.

- Về Điều 256 BLTTHS "Thủ tục đưa ra thi hành bản án và quyết định của Toà án".

+ Thời hạn ra quyết định thi hành án là bảy ngày bao gồm cả ngày làm việc và ngày nghỉ. Trường hợp ngày cuối cùng là ngày nghỉ cuối tuần hoặc nghỉ lễ thì ngày làm việc tiếp theo của ngày đó là thời hạn cuối cùng của thời hạn bảy ngày.

Ví dụ: Ngày cuối cùng của thời hạn là thứ bảy thì ngày làm việc tiếp theo của ngày thứ bảy là thứ hai và thứ hai là thời hạn cuối của thời hạn bảy ngày.

+ Thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật là thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị là ngày tiếp theo của ngày xác định. Ngày xác định là ngày Toà án tuyên án hoặc ra quyết định trong trường hợp Viện kiểm sát, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên toà hoặc là ngày bản án, quyết định được giao hoặc được niêm yết nếu xử vắng mặt.

Nếu tại phiên toà, sau khi Toà án tuyên án, bị cáo, đương sự kháng cáo ngay thì Toà án cấp sơ thẩm phải chấp nhận đơn kháng cáo đó.

Thời điểm két thúc kháng cáo, kháng nghị là thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Nếu ngày cuối cùng của thời hạn này là ngày nghỉ (thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ thì thời hạn kết thúc kháng cáo, kháng nghị là ngày làm việc đầu tiên tiếp theo của ngày nghỉ đó và thời điểm kết thúc kháng cáo, kháng nghị lúc hai mươi tư giờ của ngày kết thúc.

+ Ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm:

Theo quy định tại các Điều 254 BLTTHS "Việc giao bản án và quyết định phúc thẩm" thì trong thời hạn mười ngày kể từ ngày tuyên án hoặc ngày ra quyết định thì Toà án cấp phúc thẩm phải gửi bản án hoặc quyết định phúc thẩm cho người kháng nghị, Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan công an nơi đã xử sơ thẩm, người đã kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong trường hợp bản án phúc thẩm có tuyên hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự… Trong trường hợp Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao xử phúc thẩm thì thời hạn này có thể dài hơn nhưng không quá 25 ngày".

Điều 288 BLTTHS "Hiệu lực của quyết định giám đốc thẩm và việc giao quyết định giám đốc thẩm" và Điều 299 BLTTHS "Hiệu lực của quyết định tái thẩm và việc giao quyết định tái thẩm". Hai điều luật này đều quy định trong thời hạn mười ngày kể từ ngày ra quyết định Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm phải gửi quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm cho người bị kết án, người kháng nghị, Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan Công an nơi đã xử sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền; thông báo bằng văn bản cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc.

Trong thực tiễn, các bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm hoặc quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm thường gửi (giao) không đáp ứng được quy định của pháp luật. Việc giao nhận bản án, quyết định thường rất chậm do sau khi xét xử, việc đánh máy bản án, quyết định chậm, việc rà soát, xin chữ ký trong bản án, quyết định cũng chậm và việc chuyển giao bản án, quyết định (thường là thông qua bưu điện và gửi bình thường)… những việc phải làm sau khi xét xử mỗi khâu chậm một ít cũng khiến cho hầu hết Toà án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm không đảm bảo thời hạn giao bản án, quyết định trong thời hạn mười ngày đối với Toà án cấp phúc thẩm giám đốc thẩm cấp tỉnh, giám đốc thẩm, tái thẩm ở TANDTC và 25 ngày đối với Toà án cấp phúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao.

Những sự chậm trễ nêu trên đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc ra quyết định thi hành án hình sự của Toà án cấp sơ thẩm. Nếu đúng quy định của pháp luật thì từ khi bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm tuyên án hoặc ra quyết định thì chậm nhất là trong 17 ngày (10 ngày giao bản án, quyết định và 7 ngày ra quyết định thi hành án) và đối với các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao là 32 ngày (25 ngày giao bản án, quyết định và 7 ngày ra quyết định thi hành án); 17 ngày (10 ngày giao quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm và 7 ngày ra quyết định thi hành án) thì các bản án, quyết định phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm phải được đưa ra thi hành. Trong thực tiễn, thời hạn trên không thực hiện được vì các lý do chậm trễ nên có thể Toà án cấp sơ thẩm ra quyết định thi hành án không đúng với thời hạn nêu trên. Trong trường hợp kéo dài thời hạn ra quyết định thi hành án, dù bất cứ lý do nào thì đó cũng là lỗi của Toà án và người bị kết án sẽ phải chịu thiệt thòi về "khoảng trống" mà Toà án đã tạo ra. Khi chưa có quyết định thi hành án thì người bị kết án chưa được chuyển sang trại cải tạo, trại giam.

+ Cần lưu ý là Toà án chỉ được ra quyết định thi hành án khi có các căn cứ quy định tại Điều 255, 240 và 237 BLTTHS. Trong thực tiễn đã xảy ra một số trường hợp Toà án cấp sơ thẩm ra quyết định thi hành án khi bản án, quyết định đang bị kháng cáo, kháng nghị. Do vậy, khi ra quyết định thi hành án, cần kiểm tra kỹ bản án, quyết định đó có bị kháng cáo, kháng nghị không hoặc có thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 255 BLTTHS không. Trong trường hợp kháng cáo, kháng nghị quá thời hạn thì phải chờ quyết định của Toà án cấp phúc thẩm về việc có chấp nhận hay không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị quá hạn.

+ Về việc uỷ thác cho Toà án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án. Toà án khác cùng cấp là cùng cấp huyện (Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; Toà án quân sự khu vực ) hoặc Toà án nhân dân cấp tỉnh (Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Toà án quân sự quân khu và tương đương). Hiện nay tất cả các Toà án nhân dân cấp huyện, Toà án quân sự cấp khu vực đều đã thực hiện thẩm quyền xét xử theo khoản 1 Điều 170 BLTTHS.

Việc uỷ thác cho Toà án cùng cấp ra quyết định thi hành án hình sự chỉ được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp:

Trường hợp thứ nhất: Sau khi Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án ra quyết định thi hành án và đã gửi cho cơ quan Công an cùng cấp để thi hành, nhưng cơ quan Công an cùng cấp thông báo bằng văn bản cho Toà án cùng cấp biết là người bị kết án đã chuyển đi nơi khác và có địa chỉ cụ thể;

Trường hợp thứ hai: Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án có căn cứ về việc người bị kết án đang cư trú trên địa bàn hành chính khác.

Như vậy ở trường hợp thứ nhất thì Toà án sẽ phải ra hai quyết định, một là quyết định thi hành án và hai là quyết định uỷ thác thi hành án. Vấn đề là khi Toà án ra quyết định uỷ thác thi hành án và quyết định này chỉ ban hành sau khi Toà án đã ra quyết định thi hành án, đã gửi cho cơ quan Công an cùng cấp và nhận được thông báo bằng văn bản của cơ quan Công an cùng cấp cho Toà án biết là người bị kết án đã chuyển đi nơi khác và có địa chỉ cụ thể. Trường hợp này sẽ phát sinh vấn đề là quyết định thi hành án của Toà án cấp sơ thẩm đã ban hành nhưng không được thực hiện bởi Toà án sẽ phải ra quyết định uỷ thác thi hành án và có thể hiểu là quyết định uỷ thác thi hành án đã phủ định quyết định thi hành án trước đó, tức là quyết định thi hành án này không còn hiệu lực thi hành. Cũng có quan điểm cho rằng trường hợp này Toà án đã ra quyết định uỷ thác thi hành án gửi quyết định uỷ thác và gửi cả quyết định thi hành án. Theo chúng tôi, Toà án ra quyết định uỷ thác chỉ cần gửi quyết định uỷ thác thi hành án cùng với hai bản sao bản án, quyết định phạt tù đã có hiệu lực pháp luật là đủ và đúng với hướng dẫn tại mục 1 Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 30/6/1993 của Toà án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn thực hiện một số quy định của Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993".

Trường hợp thứ hai: Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án có căn cứ về việc người bị kết án đang cư trú trên địa bàn hành chính khác.

Vấn đề đặt ra là: Căn cứ về việc người bị kết án đang cư trú trên địa bàn hành chính khác xuất hiện vào thời điểm nào, trước hay sau khi Toà án ra quyết định thi hành án hình sự? Về vấn đề này, trong điểm 2 mục I Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 cũng không hướng dẫn cụ thể phải giải quyết thế nào. Theo chúng tôi cũng có thể giải quyết như sau:

- Nếu Toà án chưa ra quyết định thi hành án mà có căn cứ người bị kết án đang cư trú trên địa bàn hành chính khác thì ra quyết định uỷ thác thi hành án, gửi cho Toà án được uỷ thác các tài liệu kèm theo, trong đó có tài liệu mà căn cứ vào tài liệu này, Toà án biết rõ người bị kết án đang cư trú trên địa bàn của Toà án được uỷ thác thi hành án. Tài liệu này giúp cho Toà án được uỷ thác thi hành án ra quyết định thi hành án và tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan Công an thi hành quyết định của Toà án.

- Nếu sau khi Toà án đã ra quyết định thi hành án mới biết là có căn cứ người bị kết án đang cư trú trên địa bàn hành chính khác, có thể thông tin (căn cứ) này không phải do cơ quan Công an cung cấp hoặc thông báo bằng văn bản mà do từ các nguồn thông tin khác thì Toà án sơ thẩm thực hiện việc uỷ thác thi hành án như hướng dẫn ở trường hợp thứ nhất (như việc nhận được thông báo bằng văn bản của cơ quan Công an về việc người bị kết án đã chuyển đi nơi khác và có địa chỉ cụ thể).

+ Về việc Toà án được uỷ thác

Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận được quyết định uỷ thác thi hành án, Chánh án Toà án được uỷ thác phải ra quyết định thi hành án.

- Nếu cơ quan Công an thông báo là người bị kết án đã chuyển đi cư trú tại địa bàn khác thì trả hồ sơ uỷ thác thi hành án cho Toà án đã uỷ thác và giải quyết:

+ Nếu Toà án được uỷ thác thi hành án biết địa chỉ của người bị kết án thì thông báo cho Toà án đã uỷ thác để Toà án này tiếp tục thực hiện việc uỷ thác cho Toà án nơi người bị kết án đang cư trú;

+ Nếu Toà án được uỷ thác không biết địa chỉ mới của người bị kết án thì cũng thông báo cho Toà án đã uỷ thác để Toà án này ra quyết định thi hành án và yêu cầu cơ quan Công an ra quyết định truy nã.

+ Nếu Toà án được uỷ thác thi hành án thấy việc uỷ thác là không có căn cứ, không đúng thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do để Toà án đã uỷ thác biết. Toà án đã uỷ thác nếu thấy việc từ chối uỷ thác là có căn cứ thì Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định hủy quyết định uỷ thác không có căn cứ. Việc ra quyết định thi hành án hay tiếp tục ra quyết định uỷ thác cho Toà án khác tuỳ thuộc vào việc có căn cứ để ra một trong hai quyết định này không.

Để đảm bảo theo dõi, quản lý tốt việc uỷ thác, nhận uỷ thác thi hành án, tránh tình trạng Toà án đã uỷ thác thi hành án cho rằng sau khi đã gửi các tài liệu về uỷ thác thi hành án là đã hoàn thành nhiệm vụ, không còn thẩm quyền, không còn trách nhiệm và Toà án được uỷ thác có nhận được quyết định, tài liệu kèm theo việc uỷ thác thi hành án không, có ra quyết định thi hành án không, đồng thời tránh tình trạng Toà án được uỷ thác tuy nhận được là hồ sơ uỷ thác thi hành án nhưng không thực hiện việc ra quyết định thi hành án. Như vậy, có thể xảy ra (và trong thực tiễn đã xảy ra) trường hợp quyết định thi hành án được ban hành nhưng không gửi hoặc đã nhận hồ sơ thi hành án nhưng không thực hiện. Cả hai trường hợp này đều dẫn tới người bị kết án vẫn không có quyết định thi hành án và nếu không bị phát hiện thì họ đương nhiên được hưởng thời hiệu thi hành án. Điều này có nghĩa là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không còn được thi hành.

Chúng tôi cho rằng, Toà án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn, quy định cụ thể về vấn đề này. Theo chúng tôi, nên có quy định cụ thể về việc giao nhận hồ sơ uỷ thác thi hành án. Chẳng hạn Toà án đã uỷ thác phải gửi cùng hồ sơ uỷ thác phiếu gửi, Toà án được uỷ thác phải ký, đóng dấu vào phiếu gửi và gửi trả lại Toà án đã uỷ thác như một xác nhận đã nhận được hồ sơ uỷ thác thi hành án, phiếu gửi này được lưu tại Toà án đã uỷ thác để xác định đã gửi hồ sơ uỷ thác và Toà án đã nhận uỷ thác thi hành án. Cũng có thể quy định Toà án được uỷ thác phải gửi cho Toà án đã uỷ thác quyết định thi hành án hoặc thông báo bằng văn bản cho Toà án đã uỷ thác và các tài liệu này được lưu tại Toà án đã uỷ thác để quản lý, theo dõi chặt chẽ việc uỷ thác thi hành án hình sự.

2. Ra quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù

2.1. Về Điều 261 của BLTTHS: "Hoãn chấp hành hình phạt tù"

Hoãn chấp hành hình phạt tù là việc Toà án đã ra quyết định thi hành án đối với người bị xử phạt tù đang được tại ngoại, nhưng xét thấy có những căn cứ quy định tại Điều 61 BLHS hoặc xét thấy có căn cứ khác để chưa buộc họ phải chấp hành hình phạt ngay.

a. Thẩm quyền và thủ tục hoãn chấp hành hình phạt tù

+ Thẩm quyền ban hành quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù thuộc Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phạt tù.

Ví dụ: Chánh án TAND quận A đã ra quyết định thi hành án phạt tù có quyền ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù.

b. Thủ tục để hoãn chấp hành hình phạt tù: Viện kiểm sát và cơ quan Công an cùng cấp có văn bản đề nghị hoặc người bị kết án có đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù. Trường hợp không có đề nghị hoặc có đơn xin hoãn chấp hành hình phạt tù, Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phạt tù có thể tự mình xét và ra quyết định cho người bị kết án được hoãn chấp hành hình phạt tù nếu người thân thích của người bị kết án (cha, mẹ, vợ, chồng, anh chị em…) hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người bị kết án thường trú có đề nghị bằng văn bản.

+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù phải có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị hoãn; Hồ sơ xin hoãn chấp hành hình phạt tù bao gồm các tài liệu:

- Bản sao bản án hoặc trích lục bản án hình sự

- Văn bản đề nghị của những cơ quan, tổ chức, cá nhân, Viện kiểm sát, Công an cùng cấp… (những người được đề nghị hoặc xin hoãn).

Thực tiễn cũng có thể một người bị kết án nhưng có nhiều nơi đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù. Ví dụ: người bị kết án xin hoãn, Viện kiểm sát cùng cấp đề nghị, cơ quan nơi người bị kết án làm việc hoặc chính quyền nơi người bị kêt án cư trú có văn bản đề nghị… Trường hợp này chưa có hướng dẫn là Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án xem xét đơn xin hoãn của người bị kết án hay xem xét các đề nghị của Viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức…

Trường hợp này, theo chúng tôi, Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát để xem xét và nếu như có đủ căn cứ để hoãn chấp hành hình phạt tù thì Quyết định hoãn của Chánh án đương nhiên không bị Viện kiểm sát kháng nghị.

- Kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về tình trạng bệnh tật của người bị kết án. Đối với trường hợp người bị kết án bị HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS thì chỉ cần kết quả xét nghiệm HIV và phải xác định rõ là đang có các nhiễm trùng cơ hội và tiên lượng xấu. Trường hợp này được coi là người bị kết án bị bệnh nặng và được hoãn chấp hành hình phạt tù.

- Kết luận của bệnh viện cấp huyện trở lên về việc người bị kết án là phụ nữ đang có thai hoặc bản sao giấy khai sinh, giấy chứng sinh và xác nhận của chính quyền địa phương nơi họ thường trú về việc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

- Xác nhận của chính quyền địa phương nơi người bị kết án thường trú về việc họ là lao động duy nhất trong gia đình, nếu họ đi chấp hành hình phạt tù thì gia đình gặp khó khăn đặc biệt.

- Văn bản của cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án làm việc hoặc chính quyền nơi người đó thường trú xác nhận cần có sự có mặt của họ vì nhu cầu công vụ.

Chú ý: Trong các hồ sơ xin hoãn chấp hành hình phạt tù phải có các tài liệu nêu trên, nhưng không phải là tất cả các tài liệu mà chỉ cần tài liệu để chứng minh lý do xin hoãn chấp hành hình phạt tù. Các tài liệu trên tập hợp thành hồ sơ xin hoãn chấp hành hình phạt tù và được gửi Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phạt tù.

c. Các căn cứ và thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù:

- Có đầy đủ hồ sơ đề nghị hoặc xin hoãn chấp hành hình phạt tù.

- Có một trong các điều kiện hoãn chấp hành hình phạt tù quy điịnh tại khoản 1 Điều 61 BLHS và thoả mãn các điều kiện theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC tại mục 7 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 cụ thể là:

- Bị bệnh nặng được hoãn cho đến khi sức khoẻ được khôi phục.

Người bị kết án bị bệnh nặng tức là bị bệnh đến mức không thể đi chấp hành hình phạt tù được và nếu họ phải chấp hành hình phạt tù thì có thể nguy hiểm đến tính mạng. Các bệnh được coi là nặng như: ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ trướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3 trở lên, suy thận độ 4 trở lên, HIV chuyển giai đoạn AIDS (bệnh viện cấp tỉnh xác nhận).

- Là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì được hoãn đến khi con đủ 36 tháng tuổi. Không phân biệt người con đó là con đẻ hay con nuôi và nếu họ bị xử phạt tù lần đầu.

- Là người không bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và họ là người lao động có thu nhập duy nhất trong gia đình. Thời hạn hoãn là một năm.

- Là người bị kết án về tội ít nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt với tội ấy là 3 năm tù) và do nhu cầu công vụ thì được hoãn đến một năm.

Chú ý: Trường hợp phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ hơn dưới 36 tháng tuổi đang được hoãn chấp hành hình phạt tù mà lại có thai hoặc phải tiếp tục nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì Toà án vẫn cho hoãn tiếp đến khi con đủ 36 tháng tuổi. Điều này có nghĩa là có thể cho hoãn nhiều lần.

- Người lao động duy nhất trong gia đình hoặc do nhu cầu công vụ có thể được hoãn một lần hoặc nhiều lần nhưng tổng thời gian hoãn không quá một năm. Do đó, nếu đã hoãn một lần hoặc nhiều lần mà thời gian hoãn đã được một năm thì người bị kết án không được xét hoãn nữa nếu họ xin hoãn hoặc đề nghị hoãn của cơ quan, chính quyền vẫn vì lý do công vụ hoặc vì lý do là người lao động duy nhất trong gia đình.

- Ngoài các trường hợp được hoãn chấp hành hình phạt tù quy định tại khoản 1 Điều 61 BLHS và hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC tại tiểu mục 7.1 mục 7 Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 thì Toà án cũng có thể cho người bị kết án phạt tù được hoãn chấp hành hình phạt tù nhưng phải xem xét thận trọng, chặt chẽ. (xem ví dụ tại tiểu mục 7.2 mục 7 Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 01/2007 ngày 2/10/2007).

d. Thời hạn ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù

Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị hoặc xin hoãn chấp hành hình phạt tù, Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phải nghiên cứu hồ sơ, nếu thấy có tài lieụe nào chưa đủ hoặc cần làm rõ hơn thì yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù bổ sung, làm rõ thêm (kể cả cơ quan Công an hoặc Viện kiểm sát đề nghị). Trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu bổ sung, làm rõ, Chánh án Toà án phải quyết định cho hoãn hoặc không cho hoãn chấp hành hình phạt tù.

Nếu không chấp nhận thì Chánh án phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đề nghị hoãn biết, trong đó phải nêu rõ lý do về việc không chấp nhận đề nghị hoãn.

Nếu chấp nhận thì Chánh án ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù và quyết định này được gửi cho người được hoãn chấp hành hình phạt tù; Viện kiểm sát, cơ quan Công an cùng cấp (hoặc cơ quan thi hành án của Quân đội cùng cấp); chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người được hoãn chấp hành hình phạt tù đang cư trú hoặc làm việc để quản lý theo quy định tại Điêu 263 của Bộ luật tố tụng hình sự và hướng dẫn tại mục 3 phần III Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007.

Nếu Viện kiểm sát có kháng nghị đối với văn bản thông báo không chấp nhận đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù ví lý do không xác đáng hoặc kháng nghị quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù vì không có căn cứ thì Chánh án phải xem xét để nếu có căn cứ thì huỷ bỏ thông báo hoặc quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù và thay bằng quyết định mới.

đ. Về việc tiếp tục ra quyết định thi hành án khi sắp hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù (khoản 2 Điều 261 BLTTHS).

"Chậm nhất là bảy ngày trước khi hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù, Chánh án Toà án đã cho hoãn chấp hành hình phạt tù phải ra quyết định thi hành án và phải gửi ngay quyết định thi hành án cùng bản án, quyết định phạt tù đã có hiệu lực pháp luật cho cơ quan Công an cùng cấp và người bị kết án trước khi hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù.

Nếu quá thời hạn bảy ngày kể từ ngày hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù, người bị kết án không có mặt tại cơ quan Công an để đi chấp hành hình phạt tù mà không có lý do chính đáng, thì cơ quan Công an phải áp giải người bị kết án đi chấp hành hình phạt tù".

Như vậy, các Toà án cấp sơ thẩm phải có sổ theo dõi về việc hoãn chấp hành hình phạt tù. Các tiêu chí theo dõi phải được thể hiện như: họ và tên người bị kết án; số bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, ngày tháng năm của bản án, quyết định đó; tội danh và mức hình phạt tù; Lý do được hoãn chấp hành hình phạt tù; Quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù số, ngày tháng năm; thời gian được hoãn; ngày hết hạn hoãn; hoãn lần thứ mấy…

Từ những tiêu chí theo dõi, quản lý nêu trên, Toà án có căn cứ để ra quyết định thi hành án (tiếp tục thi hành án), có căn cứ để khi thấy cần thiết Chánh án tự mình cho hoãn (nếu như thời hạn được hoãn vẫn còn, ví dụ như hoãn lần 1 là 6 tháng, vẫn có thể cho hoãn tiếp lần thứ hai 6 tháng hoặc 2 lần nữa mỗi lần 3 tháng để tổng các lần hoãn vì người bị kết án là lao động duy nhất hoặc vì lý do công vụ không quá một năm).

Trường hợp không có căn cứ cho hoãn nữa (con đã đủ 36 tháng tuổi, có thai nhưng đã sảy thai, con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đã bị chết hoặc không được Toà án giao nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi ly hôn…) thì thủ tục để buộc người bị kết án chấp hành hình phạt tù đúng như quy định tại đoạn một, khoản 2 Điều 261 BLTTHS.

Nếu quá 7 ngày kể từ ngày hết hạn hoãn chấp hành hình phạt tù, người bị kết án không có mặt tại cơ quan công an, không có lý do chính đáng thì cơ quan Công an phải áp giải người đó đi chấp hành hình phạt tù.

Lý do chính đáng là những lý do gì, được trình bày với cơ quan Công an hay với cơ quan nào? Vấn đề này chưa được TANDTC hướng dẫn, do đó khi có lý do mà cơ quan Công an cho là chính đáng thì sẽ không thực hiện việc áp giải người bị kết án đi chấp hành hình phạt tù và nếu kéo dài có thể dẫn tới hết thời hiệu thi hành án hình sự.

e. Một số vướng mắc trong hoãn chấp hành hình phạt tù

- TANDTC mới chỉ hướng dẫn các trường hợp bị bệnh nặng được hoãn chấp hành hình phạt tù, nhưng chưa có hướng dẫn thế nào là sức khoẻ đã hồi phục (được hồi phục). Cơ quan, tổ chức nào có thẩm quyền xác nhận (xác định) người bị kết án đã hồi phục sức khoẻ, có đủ sức khoẻ để chấp hành hình phạt tù? Đây là căn cứ quan trọng để Toà án ra quyết định thi hành án phạt tù khi lý do hoãn này đã hết.

Theo chúng tôi nên quy định hoặc có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này vì nếu không thì việc hoãn này kéo dài không có giới hạn. Thẩm quyền xác định sức khoẻ của người được hoãn chấp hành hình phạt tù cũng nên quy định là bệnh viện từ cấp tỉnh trở lên; người bị kết án bị bệnh nặng cũng cần có quy định việc khám, xác định sức khoẻ theo định kỳ 1 năm, 2 năm, 3 năm…/ một lần.

- Trường hợp người bị bệnh nặng, được hoãn chấp hành hình phạt tù, nhưng trong thời hạn được hoãn thì họ bị chết thì Toà án giải quyết thế nào?

Theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành thì Toà án không có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ thi hành án phạt tù, vì vậy trong hệ thống biểu mẫu của ngành TAND cũng không có tiêu chí nào theo dõi về việc người bị kết án (kể cả kết án phạt tù hoặc các hình phạt khác được quy định trong BLHS) bị chết trước, trong khi có quyết định thi hành án hoặc trong khi có quyết định hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù. Các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn về thi hành án hình sự cũng không có mẫu "Đình chỉ thi hành án phạt tù hoặc đình chỉ thi hành án hình sự (đối với những hình phạt không phải là hình phạt tù).

Chúng tôi cho rằng hướng dẫn tại điểm 8.4 mục 8 Thông tư liên tịch số 02/22006/TTLT ngày 18/5/2006 của TANDTC, VKSNDTC, BCA, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế: "Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ việc chấp hành hình phạt tù vì người bị kết án đã chấp hành hình phạt tù vì người bị kết án đã chết" cũng không đúng Luật hình sự. Do chưa có hướng dẫn cụ thể nên hiện nay, các trường hợp người bị kết án bị chết đều được coi là "đã xong" để xoá sổ thụ lý, theo dõi, quản lý về thi hành án hình sự mà tài liệu về việc "đã xong" này chỉ có thể là giấy báo tử.

- Những trường hợp có lý do, có căn cứ để hoãn nhiều lần, kéo dài trong nhiều năm thì có thể được xét miễn chấp hành toàn bộ hoặc miễn chấp hành phần còn lại của hình phạt tù (đối với trường hợp trước khi được tại ngoại họ đã bị tạm giam, tạm giữ và thời hạn tạm giam, tạm giữ được trừ vào thời hạn phạt tù) hay không? Việc kéo quá dài thời hạn hoãn cũng gây nhiều khó khăn trong theo dõi, quản lý, giám sát của Toà án, cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương nơi người được hoãn chấp hành hình phạt tù làm việc hoặc thường trú. Theo chúng tôi, mặc dù chưa có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, nhưng nếu người bị kết án phạt tù được hoãn chấp hành nhiều năm và trong nhiều năm đó họ không vi phạm pháp luật, không còn nguy hiểm cho xã hội, được chứng minh là họ đã hoàn lương, có nhiều thành tích trong hoạt động xã hội, chăm chỉ lao động, có ích cho xã hội… thì cũng được xét miễn theo quy định tại Điều 57 BLHS và vận dụng theo hướng dẫn tại tiểu mục b mục 2 Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán TANDTC số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007. Riêng đối với trường hợp miễn chấp hành phần hình phạt còn lại thì hầu như những người được hoãn chấp hành hình phạt tù không ai đáp ứng được điều kiện "đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt tù" vì thực tế thời hạn đã chấp hành của họ chỉ là thời hạn đã bị tạm giam, tạm giữ mà thôi.

Như vậy sẽ có sự không công bằng khi một người chưa phải chấp hành hình phạt tù một ngày nào thì có thể được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt tù, còn người đã chấp hành một phần hình phạt nhưng chưa được một nửa thì không được xét miễn phần hình phạt còn lại. Vấn đề này theo chúng tôi cũng cần có hướng dẫn cụ thể hoặc có sửa đổi cho phù hợp.

- Cho đến nay cũng không có quy định và hướng dẫn cụ thể về việc thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù có được tính vào thời gian chấp hành hình phạt tù hay không. Thực tiễn áp dụng thì thời gian được hoãn chấp hành hình phạt không được tính vào thời gian chấp hành hình phạt tù, tuy nhiên, nếu được quy định trong Điều 61 BLHS như quy định tại khoản 2 Điều 62 BLHS thì chặt chẽ hơn.

2.2. Về Điều 262 BLTTHS "Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù"

Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là việc Toà án cho người đang chấp hành hình phạt tù tạm thời không phải chấp hành hình phạt tù khi có các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 61 và Điều 62 BLHS.

Người đang chấp hành hình phạt tù thuộc đối tượng của việc tạm đình chỉ là người bị kết án phạt tù giam, đang bị giam giữ hoặc cải tạo tại các trại giam.

a. Thẩm quyền và thủ tục tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

- Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi người đang chấp hành hình phạt tù có thể cho người bị kết án phạt tù, đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù nếu người đó bị bệnh nặng (điểm a, khoản 1, Điều 61 BLHS).

Đây là một quy định mới so với quy định trước đây là Chánh án đã ra quyết định thi hành án có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ trong mọi trường hợp. Sở dĩ có sự thay đổi này vì quy định trước đây không phù hợp bởi lẽ sau khi có quyết định thi hành án, cơ quan Công an sẽ đưa người phải chấp hành hình phạt tù đi cải tạo tại các trại giam và thực tế là không phải trại giam nào cũng gần nơi Toà án đã ra quyết định thi hành án. Do đó, khi người bị kết án bị bệnh nặng, việc xem xét, giải quyết để có thể ra quyết định tạm đình chỉ thường không kịp thời. Quy đinh Chánh án TAND cấp tỉnh nơi người đang chấp hành hình phạt tù có thẩm quyền xem xét, ra quyết định tạm đình chỉ sẽ đảm bảo thuận lợi và nhanh chóng, kịp thời hơn khi người chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng.

- Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án có thể cho người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trong các trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều 61 và Điều 62 BLHS.

Thẩm quyền này thuộc Chánh án TAND cấp tỉnh hoặc cấp huyện nếu Chánh án Toà án đó đã ra quyết định thi hành án (nghĩa là Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án). Quy định này không có gì khác với quy định trước đây, vì việc tạm đình chỉ trong trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; là người lao động duy nhất trong gia đình hoặc bị kết án về tội ít nghiêm trọng nhưng do nhu cầu công vụ được đề nghị xét tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, trong thực tiễn áp dụng là phù hợp, không phát sinh các vướng mắc lớn đến mức phải sửa đổi, bổ sung.

- Việc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm phải do người đã kháng nghị hoặc do Toà án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm quyết định:

+ Người đã kháng nghị bao gồm: Chánh án hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; Chánh án TANDTC hoặc Viện trưởng VKSNDTC;

+ Toà án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm được hiểu là Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, cũng có nghĩa là Hội đồng Thẩm phán TANDTC hoặc Uỷ ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh.

b. Thủ tục để tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

- Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án xem xét, quyết định cho người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù khi có hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù do Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp hoặc Ban giám thị Trại giam, Trại tạm giam lập và gửi Toà án hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù bao gồm các tài liệu:

+ Công văn của cơ quan đề nghị (Ban giám thị Trại giam hoặc Trại tạm giam, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp);

+ Bản sao bản án hoặc bản sao trích lục bản án hình sự;

+ Kết luận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên về việc người đang chấp hành hình phạt tù là phụ nữ có thai hoặc bản sao giấy khai sinh, giấy chứng sinh của người đó; xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đang chấp hành hình phạt tù về việc họ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

+ Xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đang chấp hành hình phạt tù thường trú về việc họ là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu họ tiếp tục phải chấp hành hình phạt tù, thì gia đình họ sẽ gặp khó khăn đặc biệt;

+ Công văn của cơ quan, tổ chức nơi người đang chấp hành hình phạt tù làm việc đề nghị cho người đang chấp hành hình phạt được tạm đình chỉ vì lý do công vụ, nhu cầu công vụ.

Mặc dù Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 không có hướng dẫn trường hợp chính quyền địa phương nơi người đang chấp hành hình phạt tù thường trú cũng có thể có văn bản đề nghị cho người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ như việc được đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù vì lý do nhu cầu công vụ, nhưng theo chúng tôi việc hoãn chấp hành hình phạt tù và tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù về bản chất không khác nhau. Sự khác nhau chỉ ở chỗ đối tượng (người bị kết án) đang được tại ngoại hay đang chấp hành hình phạt tù.

Do đó, theo chúng tôi, chính quyền địa phương nơi người đang chấp hành hình phạt tù cũng có thể đề nghị Toà án xem xét, cho người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù vì nhu cầu công cụ.

Chú ý: Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù phải có các tài liệu cần thiết nêu ở trên, nhưng không phải là tất cả các tài liệu đó mà chỉ cần những tài liệu để chứng minh (những căn cứ) đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Ví dụ nếu đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù vì lý do là lao động duy nhất trong gia đình thì tài liệu trong hồ sơ buộc phải có tài liệu xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đang chấp hành hình phạt tù thường trú và tài liệu này là căn cứ để Ban Giám thị trại giam, Trại tạm giam hoặc Viện kiểm sát cùng cấp có công văn, lập hồ sơ để đề nghị cho người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Việc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng (thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ, điều kiện được tạm đình chỉ, hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ, xem xét, quyết định tạm đình chỉ, thông báo quyết định tạm đình chỉ…) được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2006/TTLT ngày 18/5/2006 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, TANDTC, VKSNTC. "Hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng".

c. Các căn cứ tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

- Hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù phải đầy đủ các tài liệu đối với từng trường hợp cụ thể.

- Có một trong những căn cứ quy định tại Điều 61 Bộ luật hình sự (đó cũng chính là những căn cứ để xét hoãn chấp hành hình phạt tù) và thoả mãn các điều kiện theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC tại mục 7 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 (xem phần Hoãn chấp hành hình phạt tù).

d. Thời hạn ra Quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phải xem xét các căn cứ, điều kiện tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù quy định tại Điều 61 và 62 Bộ luật hình sự và điểm b Điều 262 Bộ luật tố tụng hình sự, hướng dẫn tại mục 8 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt" để quyết định cho hoặc không cho người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Trường hợp tài liệu trong hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ không đầy đủ, không rõ ràng thì Chánh án yêu cầu cơ quan đề nghị (lập hồ sơ) bổ sung, làm rõ thêm. Yêu cầu này của Chánh án phải bằng văn bản. Thời hạn 5 ngày để xem xét chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị cho người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù được tính lại kể từ khi Chánh án Toà án nhận được tài liệu bổ sung hoặc ý kiến bằng văn bản trả lời của cơ quan đề nghị tạm đình chỉ (Ban Giám thị Trại giam, Trại tạm giam hoặc Viện kiểm sát cùng cấp) về vấn đề Toà án yêu cầu cần phải bổ sung hoặc làm rõ thêm.

+ Nếu chấp nhận đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thì Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phạt tù phải ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và gửi cho người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; Trại giam hoặc Trại tạm giam nơi người đang chấp hành hình phạt tù; Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; Chính quyền xã, phường, thị thẩm hoặc cơ quan, tổ chức nơi người được tạm đình chỉ thường trú hoặc làm việc, để quản lý người đó theo quy định tại Điều 263 BLTTHS và hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC tại mục 3 phần III Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 "Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ năm "Thi hành bản án và quyết định của Toà án" của Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Nếu Toà án (Chánh án) không chấp nhận đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì Chánh án phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Ban giám thị Trại giam, Trại tạm giam biết, trong thông báo cần nêu rõ lý do về việc không chấp nhận cho người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Nếu Viện kiểm sát kháng nghị đối với thông báo không chấp nhận cho tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù vì lý do Toà án đưa ra không xác đáng hoặc đủ căn cứ, thì Chánh án Toà án đã ra quyết định tạm đình chỉ hoặc ra thông báo phải xem xét. Trường hợp kháng nghị của Viện kiểm sát có căn cứ thì nếu kháng nghị thông báo thì phải ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; nếu kháng nghị quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thì phải ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

- Quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm do người đã kháng nghị hoặc do Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm quyết định được gửi cho người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; Trại giam hoặc Trại tạm giam nơi người đang chấp hành hình phạt tù; Toà án đã ra quyết định thi hành án phạt tù. (điểm 2.3 mục 2 Nghị quyết HĐTP số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007).

Hướng dẫn này của Hội đồng Thẩm phán không đề cập đến việc quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù của Toà án cấp giám đốc thẩm phải gửi cho chính quyền địa phương nơi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thường trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Chúng tôi cho rằng hướng dẫn như vậy là thiếu vì theo Điều 263 BLTTHS "quản lý người được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù" và hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC tại mục 3 Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 thì "Toà án đã ra quyết định cho hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cần chủ động yêu cầu trại giam (Trại tạm giam) hoặc cơ quan Công an cùng cấp phối hợp trong việc giao người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cho chính quyền, xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi cho thường trú hoặc làm việc quản lý".

Ngoài ra, Chánh án Toà án nơi người được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cư trú hoặc làm việc còn có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức để theo dõi việc chấp hành quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù để nếu trong thời gian được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù mà người đó có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có căn cứ bỏ trốn thì phải thông báo cho Chánh án Toà án đã cho hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù biết để huỷ bỏ các quyết định đó và ra ngay quyết định thi hành án phạt tù, buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù trong trại giam.

Như vậy, quy định của pháp luật và hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC không phân biệt Toà án nào, tức là không loại trừ trường hợp tạm đình chỉ của Toà án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm hoặc của người có quyền ra quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Mặt khác trong thực tiễn, người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù phải chịu sự quản lý, theo dõi của Toà án nơi người đó cư trú, làm việc và chịu sự quản lý, theo dõi của Toà án nơi người đó cư trú, làm việc và của chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức, nếu quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù của Toà án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm không được gửi cho chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức hoặc Toà án nơi người đó cư trú hoặc làm việc là thiếu sót vì sẽ không có cơ quan, tổ chức nào quản lý theo dõi, giám sát họ trong thời gian người đó được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Cũng có ý kiến cho rằng quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù của Toà án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm (hoặc của người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm không cần phải gửi cho chính quyền phường, xã, thị trấn nơi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù thường trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, cũng không cần gửi cho Toà án nơi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cư trú. Quan điểm này cho là khi đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự thường là theo hướng không phạm tội, không áp dụng hình phạt tù, phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc người bị kết án (đang chấp hành hình phạt) đã chấp hành hình phạt bằng hoặc nhiều hơn (dài hơn) mức hình phạt tù cần áp dụng với họ.

Tuy nhiên, kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm mới chỉ là quan điểm của người kháng nghị, cơ quan có thẩm quyền kháng nghị chứ chưa phải là quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm. Thực tiễn đã có không ít quyết định kháng nghị của Chánh án, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh hoặc cấp tối cao không được Hội đồng xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm chấp nhận. Mặt khác từ khi có quyết định kháng nghị đến khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm cũng một vài tháng (thời hạn giám đốc thẩm, tái thẩm là bốn tháng kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị - Điều 283 và 297 Bộ luật tố tụng hình sự). Như vậy, nếu Toà án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm không gửi quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt cho Toà án nơi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt và gửi cho chính quyền địa phương nơi người đó thường trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc thì sẽ tạo ra một khoảng trống không có ai quản lý, giám sát, theo dõi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Từ những lập luận trên, chúng tôi cho rằng dù quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là của Toà án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm cũng rất cần thiết và phải gửi cho Toà án nơi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù cư trú, chính quyền địa phương hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó thường trú hoặc làm việc. Có như vậy mới đảm bảo việc thực hiện nghiêm quy định tại Điều 263 Bộ luật tố tụng hình sự. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị TANDTC cần có hướng dẫn bổ sung cho phù hợp.

đ. Thời hạn tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

Điều 62 Bộ luật hình sự quy định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

1. Người đang chấp hành hình phạt tù mà thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 61 của Bộ luật này, thì có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

2. Thời gian tạm đình chỉ không được tính vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

Như vậy điều luật không quy định rõ ràng thời hạn tạm đình chỉ đối với từng trường hợp có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là bao nhiêu. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 61 Bộ luật hình sự vừa là điều kiện vừa là căn cứ để có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù và thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù đối với từng trường hợp cụ thể.

Lẽ ra, để cho rõ ràng thì Điều 62 BLHS cần phải thêm một đoạn nữa như "Thời hạn tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với từng trường hợp cụ thể được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 61 Bộ luật này".

Tuy điều luật không quy định rõ, nhưng trong thực tiễn, các Toà án đều áp dụng khoản 1 Điều 61 để ấn định thời hạn tạm đình chỉ đối với các trường hợp được tạm đình chỉ cụ thể.

Theo tinh thần của khoản 1 Điều 61 và Điều 62 BLHS thì:

- Người đang chấp hành hình phạt tù nếu bị bệnh nặng thì được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đến khi sức khoẻ được hồi phục;

- Người đang chấp hành hình phạt tù là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đến khi con đủ 36 tháng tuổi;

- Người đang chấp hành hình phạt tù là lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt (lẽ ra phải quy định là "người lao động duy nhất trong gia đình, đang chấp hành hình phạt tù mà gia đình gặp khó khăn đặc biệt" mới chính xác vì khi xét tạm đình chỉ thì người bị kết án phạt tù đang chấp hành hình phạt và vì họ là lao động duy nhất trong gia đình, đang chấp hành hình phạt (chứ không còn là nếu phải và sẽ nữa) nên gia đình họ thực tế đang gặp khó khăn đặc biệt.

Trường hợp này người đang chấp hành hình phạt tù có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đến một năm.

Nếu người đang chấp hành hình phạt tù bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì họ không được xét tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Theo quy định này thì Ban giám thị Trại giam (Trại tạm giam), Viện kiểm sát sẽ không đề nghị tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và nếu có đề nghị thì Toà án cũng không được chấp nhận để cho người đang chấp hành hình phạt tù đó được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Người đang chấp hành hình phạt tù không được tạm đình chỉ vì lý do nhu cầu công vụ, nếu họ đã bị kết án về tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.

Trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù lại phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù lại phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 57 BLHS. Điều 62 BLHS không có quy định áp dụng khoản 2 Điều 61 BLHS khi người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù tái phạm trong thời gian được tạm đình chỉ. Tuy nhiên, theo tinh thần của Điều 57 BLHS thì Tòa án phải tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.

e. Về việc dùng thuật ngữ trong tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

- Người bị kết án là người đã bị Toà án xét xử, kết tội tức là người có tội nếu như bản án, quyết định đó của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Người bị kết án nhưng bản án, quyết định của Toà án chưa có hiệu lực pháp luật thì họ chưa phải là người đã có tội (Điều 9 BLTTHS - thể hiện rõ nguyên tắc suy đoán vô tội của Luật hình sự).

Do vậy, khái niệm người bị kết án là khái niệm dùng chung, nhưng chỉ đúng và phù hợp với từng giai đoạn của tố tụng hình sự. Trong giai đoạn thi hành án hình sự thì khái niệm người bị kết án đồng nghĩa với người có tội bởi vì chỉ có những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc phần bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị mới được đưa ra thi hành (trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 255 BLTTHS).

Hoãn chấp hành hình phạt là việc Toà án xem xét đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với người bị kết án, đã có quyết định thi hành án phạt tù nhưng đang được tại ngoại xã hội, tức là chưa phải chấp hành hình phạt tù. Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù là việc Toà án xem xét đề nghị của Ban giám thị Trại giam (Trại tạm giam) hoặc Viện kiểm sát cùng cấp cho người đang chấp hành hình phạt tù (tức là đang ở trong trại giam, Trại tạm giam) được tạm thời không phải chấp hành hình phạt tù, tạm thời trả tự do cho họ (người đó được tại ngoại).

Như vậy, đối tượng được xem xét tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù chỉ có thể là người đang chấp hành hình phạt tù. Do đó dùng thuật ngữ người bị kết án được sử dụng trong hướng dẫn tại các tiểu mục b.4, b.5, b.6, d.1, d.2 mục 2 Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC là không chính xác (đúng ra phải sử dụng thuật ngữ người đang chấp hành hình phạt tù).

g. Về một số vướng mắc trong tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

Trong phần tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, bên cạnh việc phân tích các quy định của pháp luật về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, chúng tôi cũng đã nêu một số vướng mắc trong quy định, trong hướng dẫn áp dụng pháp luật và cũng đã có kiến nghị, đề ra hướng tháo gỡ, giải quyết các vướng mắc đó.

Các vướng mắc khác về hoãn chấp hành hình phạt tù đã nêu trong phần "Hoãn chấp hành hình phạt tù" cũng tương tự như vướng mắc của tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, vì vậy chúng tôi không nêu trong phần này nữa.

3. Quyết định giảm thời gian chấp hành hình phạt tù hoặc miễn chấp hành hình phạt.

a. Giảm thời hạn chấp hành hình phạt là việc Toà án nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào những quy định tại Điều 58 BLHS, Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự và hướng dẫn của TANDTC tại Mục IV Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 02/2007 ngày 2/10/2007 để quyết định giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người bị kết án.

Theo quy định tại Điều 58 BLHS, Toà án chỉ có thẩm quyền xét giảm mức hình phạt đã tuyên đối với các loại hình phạt: Cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân, phạt tiền. Việc xem xét để ân giảm hình phạt tử hình thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước.

a.1. Giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù

Hình phạt tù được hiểu là hình phạt tù có thời hạn và tù chung thân. Hồ sơ đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù bao gồm:

- Bản sao bản án hoặc bản sao trích lục bản án hình sự;

- Văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án phạt tù;

- Đơn xin giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù của người bị kết án;

- Bản tường trình của người phải thi hành án về việc đã lập công hoặc đã lập công lớn có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền (nếu người phải thi hành án đã lập công hoặc lập công lớn); kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về tình trạng bệnh tật của người bị kết án (nếu người phải thi hành án mắc bệnh hiểm nghèo).

- Điều kiện để được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù:

+ Có nhiều tiến bộ, cải tạo tốt. Thông thường các Trại giam (Trại tạm giam) đều đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể, xếp loại cải tạo A, B, C… và bình xét, phân loại người đang chấp hành hình phạt tù theo tháng, quý, năm. Đây là một trong những căn cứ quan trọng để Ban giám thị Trại giam đánh giá mức độ tiến bộ trong cải tạo.

+ Thời gian đã chấp hành hành phạt nhất định được quy định cụ thể để xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn tù từ ba mươi năm trở xuống, mười hai năm đối với hình phạt tù chung thân.

- Hồ sơ đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt được gửi đến Toà án có thẩm quyền quy định tại Điều 269 BLTTHS "Toà án có thẩm quyền quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù là Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án Quân sự cấp quân khu nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt".

Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Toà án Quân sự cấp quân khu phải phân công một Thẩm phán phụ trách việc nghiên cứu hồ sơ. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý hồ sơ, Thẩm phán phải ấn định ngày mở phiên họp xét giảm và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết để cử kiểm sát viên tham gia phiên họp. Thời hạn mở phiên họp không vượt quá mười ngày kể từ ngày Thẩm phán ấn định ngày mở phiên họp. Trường hợp có tài liệu nào không đủ thì Thẩm phán yêu cầu cơ quan, tổ chức đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù bổ sung hoặc làm rõ thêm. Trong trường hợp này thì thời hạn mở phiên họp được tính lại là mười ngày kể từ ngày Thẩm phán nhận được văn bản, tài liệu về việc yêu cầu bổ sung, làm rõ.

- Mức giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù:

+ Người bị kết án phạt tù từ ba mươi năm trở xuống thì mỗi lần có thể được giảm từ ba tháng đến ba năm. Trường hợp được giảm ba năm phải là người bị kết án phạt tù có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, cải tạo và chấp hành nghiêm chỉnh nội quy của Trại giam (Trại tạm giam).

+ Người bị kết án có thể được giảm nhiều lần, nhưng phải đảm bảo thời hạn thực tế chấp hành hình phạt tù là một phần hai mức hình phạt đã tuyên hoặc hai mươi năm đối với hình phạt tù chung thân.

+ Mỗi người bị kết án chỉ được xét giảm thời hạn tù một lần trong một năm. Trường hợp trong năm đó sau khi được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù mà có lý do đặc biệt đáng được khoan hồng như lại lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì có thể được xét giảm thêm tối đa là hai lần trong một năm.

- Giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù trong trường hợp đặc biệt

+ Người bị kết án đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù vào thời gian sớm hơn thời gian nêu ở phần trên (khoản 1 Điều 58 BLHS) hoặc được xét mức giảm thời hạn phạt tù cao hơn so với mức giảm đối với các trường hơp "không đặc biệt" nêu trên.

+ Người quá già yếu là người từ 70 tuổi trở lên, hoặc người từ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên đau ốm.

+ Mắc bệnh hiểm nghèo hoặc đã lập công (được nêu tại điểm 4 của bài viết này hoặc xin xem điểm a, tiểu mục 2.1 mục 2 và tiểu mục 2.2 mục 2 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt".

Cần chú ý: - Thời gian sớm hơn tức là người bị kết án đã chấp hành được một phần tư mức hình phạt đã tuyên hoặc mười năm đối với tù chung thân.

- Mức giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cao hơn là bốn năm nhưng phải đảm bảo thời gian thực sự đã chấp hành hình phạt ít nhất là hai phần năm mức hình phạt đã tuyên hoặc mười lăm năm đối với hình phạt tù chung thân.

- Trong trường hợp đặc biệt nếu có sự đồng ý của TANDTC, VKSNDTC thì người bị kết án có thể được xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc mức cao hơn so với các trường hợp bình thường khác.

Người chưa thành niên bị phạt tù, nếu lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì được xét giảm ngay không phụ thuộc vào thời hạn đã chấp hành hình phạt được một phần tư mức hình phạt đã tuyên hay chưa.

Người chưa thành niên bị phạt tù, nhưng chưa chấp hành được hai phần năm mức hình phạt đã tuyên, nếu lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo mà sau khi được xét giảm, thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại không quá một năm thì được miễn chấp hành hình phạt tù còn lại.

Trong trường hợp đặc biệt khi có sự đồng ý của TANDTC, VKSNDTC, thì mức miễn chấp hành hình phạt tù còn lại có thể cao hơn một năm.

Các quy định trên đây về giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người chưa thành niên tại thời điểm phạm tội chứ không phải là thời điểm mà họ đang hoặc chưa chấp hành hình phạt.

- Phiên họp: Phiên họp của Hội đồng bao gồm ba Thẩm phán và có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Phiên họp này có thể tổ chức tại trụ sở Toà án hoặc tại Trại giam (Trại tạm giam) nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù.

- Việc xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù được tiến hành như sau:

+ Một thành viên của Hội đồng (thông thường là Thẩm phán được phân công phụ trách nghiên cứu hồ sơ) trình bày hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho người bị kết án;

+ Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến;

+ Hội đồng thảo luận và quyết định.

Quyền hạn của Hội đồng xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù:

+ Chấp nhận toàn bộ đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù;

+ Chấp nhận một phần đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù;

+ Không chấp nhận đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.

- Hội đồng xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù phải ra quyết định về việc chấp nhận toàn bộ, chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù. Trong quyết định đó phải nêu rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; tên Toà án ra quyết định; thành phần Hội đồng xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù; đại diện Viện kiểm sát (Kiểm sát viên); các căn cứ đã chấp nhận đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, nếu không chấp nhận đề nghị thì phải nêu rõ lý do.

Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC tại điểm 11 mục IV không hướng dẫn về việc phải có số của quyết định, nhưng theo chúng tôi đó là một thiếu sót bởi vì bất cứ quyết định nào, văn bản nào của cơ quan nhà nước khi ban hành đều không thể không có số của của nó. Trong thực tiễn, khi ra quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, các Tòa án có thẩm quyền đều áp dụng mẫu của TANDTC, phải có số của quyết định này và điều đó đúng với quy định của pháp luật hiện hành.

Về việc gửi quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù

- Quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù của Toà án phải sao gửi cho Trại giam (Trại tạm giam) nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù (là cơ quan đề nghị); Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp; người được đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù; cơ quan thi hành án.

- Quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù của Toà án có thẩm quyền có thể bị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 7 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên là 15 ngày (mười lăm ngày), kể từ ngày Toà án ra quyết định.

Nghị quyết số 02/2010/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC và Bộ luật tố tụng hình sự cũng không có hướng dẫn, quy định về thời hạn giao quyết định là bao nhiêu ngày. Theo quy định tại Điều 182 BLTTHS "giao các quyết định của Toà án" trong điểm 3 cũng chỉ là "phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp". Như vậy, nếu Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên là mười lăm ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định thì Viện kiểm sát cấp trên có thể sẽ không thực hiện được quyền kháng nghị khi nhận được quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù quá muộn. Riêng đối với Viện kiểm sát cùng cấp thì thời hạn bảy ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định là hợp lý vì Viện kiểm sát cùng cấp đã trực tiếp tham dự phiên họp xét đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.

- Việc phúc thẩm quyết định của Toà án về giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù (do có kháng nghị của Viện kiểm sát) được thực hiện theo quy định tại Điều 253 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chú ý: Các mẫu "Quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù", "Quyết định không chấp nhận giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù" đã được Toà án nhân dân tối cao ban hành kèm theo Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

5. Quyết định miễn chấp hành hình phạt

Miễn chấp hành hình phạt là việc Toà án có thẩm quyền ra quyết định không buộc người đã bị kết án phải chấp hành hình phạt mà Toà án đã tuyên phạt.

- Điều kiện để người đã bị kết án được xem xét miễn chấp hành hình phạt quy định tại Điều 57 Bộ luật hình sự và Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự. Cụ thể là:

+ Đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, chưa chấp hành hình phạt mà lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và nếu người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Toà án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt.

Lập công lớn là trường hợp người bị kết án đã có hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạmp; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc đã cứu được tài sản của nhà nước, của tập thể, của công dân trong khi có thiên tai, hoả hoạn; có những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị hoặc có thành tích xuất sắc đột xuất khác được các cơ quan có thẩm quyền xác nhận.

Mắc bệnh hiểm nghèo là trường hợp theo kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên thì người bị kết án đang bị những căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng, khó có phương thức chữa trị.

Người bị kết án không còn nguy hiểm cho xã hội là người đã thực sự hoàn lương, chăm chỉ làm ăn, tích cực tham gia các hoạt động xã hội hoặc do họ mắc bệnh hiểm nghèo, không còn hoạt động được nữa.

+ Đối với người bị kết án về tội ít nghiêm trọng (là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội và mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó đến ba năm tù) đã được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nếu trong thời gian được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt đã lập công và được Viện trưởng Viện kiểm sát đề nghị bằng văn bản, thì Toà án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại.

Đã lập công là trường hợp lập công lớn như nêu ở phần trên hoặc người bị kết án có thành tích xuất sắc trong cuộc sống, trong lao động, sản xuất, chiến đấu, học tập, công tác được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận.

+ Đối với người bị phạt cấm cư trú, quản chế nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn của hình phạt và cải tạo tốt, thì theo đề nghị của chính quyền địa phương nơi người đó chấp hành hình phạt, Toà án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

Cải tạo tốt tức là người bị kết án đã chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, không có vi phạm pháp luật, thành thực hối cải, tích cực lao động, sản xuất, học tập, công tác và được chính quyền địa phương nơi người đó chấp hành hình phạt đề nghị bằng văn bản.

+ Đối với người phải thi hành khoản tiền phạt (hình phạt tiền) được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện sau:

- Khi hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện:

+ Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ quyền hạn, thu lợi bất chính lớn;

+ Số tiền phạt còn lại từ hai mươi triệu đồng trở xuống;

+ Không có tài sản, không có thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại.

- Khi chưa hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện:

+ Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn;

+ Số tiền phạt còn lại từ hai mươi triệu đồng trở xuống;

+ Đã chấp hành được một phần hình phạt tiền, trừ trường hợp người chưa thành niên khi phạm tội;

+ Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành hình phạt tiền còn lại hoặc đã lập công lớn.

- Khi hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các hoạt động tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện:

+ Số tiền phạt còn lại từ hai mươi triệu đồng trở xuống;

+ Không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt, nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại.

- Khi chưa hết thời hạn mười năm kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành án khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các loại tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) hoặc người phải thi hành án khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện:

+ Số tiền phạt còn lại từ hai mươi triệu đồng trở xuống;

+ Đã chấp hành được một phần hình phạt tiền, trừ trường hợp người chưa thành niên khi phạm tội;

+ Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc do ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn.

- Người phải thi hành khoản tiền án phí nếu không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền án phí còn lại, được miễn thi hành án khi thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Đã hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu đối với khoản tiền án phí không có giá ngạch;

+ Đã hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu đối với khoản tiền án phí có giá ngạch từ hai mươi triệu đồng trở xuống.

(Xem mục 3 phần I Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-TANDTC-VKSNTC-BTP-BCA-BTC ngày 17/6/2005 của TANDTC, VKSNDTC, Bộ tư pháp, Bộ công an và Bộ tài chính "Hướng dẫn việc miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí").

+ Đối với người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt khi được đặc xá hoặc đại xá.

Thông thường đặc xá hoặc đại xá được thực hiện vào những dịp đất nước có những sự kiện lịch sử lớn như kỷ niệm quốc khánh, Tết nguyên đán… Các điều kiện, trình tự, thủ tục đặc xá hoặc đại xá được nhà nước ban hành, các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan tư pháp giúp Chủ tịch nước xem xét thông qua Hội đồng tư vấn. Không phải các hướng dẫn đặc xá, đại xá đều giống nhau mà tuỳ theo chủ trương "nới lỏng" việc đặc xá, đại xá đến đâu để Nhà nước ban hành các quy định về điều kiện được xét đặc xá, đại xá.

Hội đồng tư vấn thông thường là các cơ quan tư pháp trung ương tham gia và trên cơ sở các quy định về đặc xá, đại xá để hướng dẫn các cơ quan tư pháp địa phương tiến hành rà soát, xét, đề nghị Chủ tịch nước, thông qua Hội đồng tư vấn xét duyệt và trình Chủ tịch nước quyết định.

6. Miễn, giảm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ

Về cơ bản, các điều kiện để miễn, giảm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ cũng tương tự như các điều kiện miễn, giảm chấp hành hình phạt tù (Các Điều 57, 58, 59, 76 Bộ luật hình sự). Tuy nhiên, đối với hình phạt cải tạo không giam giữ thì việc xét miễn, giảm có những điểm khác về điều kiện hoặc hồ sơ đề nghị…

6.1. Giảm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ

- Điều kiện xét giảm:

+ Đã chấp hành được một phần ba thời hạn bị phạt cải tạo không giam giữ;

+ Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, thành thật hối cải, tích cực lao động;

+ Được cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương được giao trách nhiệm trực tiếp giám sát, giáo dục đề nghị bằng văn bản xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

- Mức xét giảm:

Người bị kết án cải tạo không giam giữ thì mỗi lần có thể được giảm từ ba tháng đến chín tháng.

Các trường hợp đặc biệt như lập công, mắc bệnh hiểm nghèo, quá già yếu, người chưa thành niên, được xét giảm sớm hơn hoặc cao hơn cũng thực hiện tương tự như việc xét giảm hình phạt tù.

- Hồ sơ đề nghị xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ bao gồm các tài liệu sau đây:

+ Bản sao bản án hoặc trích lục bản án hình sự;

+ Văn bản đề nghi của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương được giao trách nhiệm trực tiếp giám sát, giáo dục người bị kết án;

+ Đơn xin giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của người bị kết án;

+ Bản tường trình của người bị kết án về việc đã lập công hoặc lập công lớn có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền (cũng có thể họ xuất trình các quyết định khen thưởng vì đã lập công hoặc lập công lớn); Kết luận của bệnh viện từ cấp tỉnh trở lên về tình trạng bệnh tật của người bị kết án (nếu họ bị mắc bệnh hiểm nghèo).

- Thẩm quyền quyết định miễn, giảm hình phạt cải tạo không giam giữ thuộc Toà án nhân dân cấp huyện, Toà án quân sự khu vực nơi người bị kết án chấp hành hình phạt.

- Trình tự, thủ tục để xét giảm hình phạt cải tạo không giam giữ cũng tương tự như xét giảm chấp hành hình phạt tù. Tuy nhiên, Hội đồng xét giảm hình phạt cải tạo không giam giữ được thành lập ở Toà án cấp huyện, Toà án quân sự khu vực nên thành phần có thể là hai Thẩm phán và một Hội thẩm nhân dân hoặc Hội thẩm quân nhân (khi các Toà án này không đủ ba Thẩm phán).

- Quyền hạn của Hội đồng xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ cũng giống như quyền hạn của Hội đồng xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù. (chấp nhận toàn bộ, chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ).

- Việc ra quyết định, gửi quyết định thực hiện như việc xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Tuy nhiên, trong các mẫu kèm theo Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC chỉ có mẫu Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ mà không có mẫu quyết định giảm, miễn hoặc không chấp nhận giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Trong thực tiễn, các Toà án cấp huyện rất ít xem xét, giải quyết đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, nhưng không vì thế mà TANDTC không ban hành các loại mẫu quyết định này.

6.2. Miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ

- Các điều kiện để được xét miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ cũng tương tự như điều kiện để xét giảm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ và đều được quy định chung trong Điều 57 Bộ luật hình sự và Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên miễn và giảm là hai chế định khác nhau nên trong quy định của pháp luật về hai chế định này cũng có những điểm khác nhau. Miễn chấp hành là không buộc phải chấp hành nữa, tức là có sự khoan hồng đặc biệt hơn so với giảm thời hạn chấp hành hình phạt. Vì vậy, trình tự, thủ tục miễn chấp hành hình phạt cũng cần chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo việc miễn chấp hành hình phạt nói chung và hình phạt cải tạo không giam giữ nói riêng đúng quy định của pháp luật.

- Theo quy định tại khoản 2 Điều 269 BLTTHS "Thủ tục giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt" thì:

"Hồ sơ đề nghị xét miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, miễn chấp hành toàn bộ hoặc phần hình phạt tù còn lại, miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại phải có đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp".

Do đó; hồ sơ đề nghị miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ bao gồm các tài liệu sau:

+ Bản sao bản án hoặc bản sao trích lục bản án hình sự;

+ Văn bản đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát;

+ Đơn xin miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của người bị kết án.

+ Bản tường trình của người bị kết án về việc đã lập công hoặc lập công lớn có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nếu họ có tình tiết này. Cũng có thể người bị kết án xuất trình các quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc khen thưởng đối với người bị kết án. Trường hợp này, theo chúng tôi không cần thiết phải yêu cầu họ làm bản tường trình và cũng không cần phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nữa vì các quyết định khen thưởng của cơ quan có thẩm quyền đã là xác nhận thành tích của người bị kết án rồi.

Trường hợp người bị kết án được xét miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ vì lý do họ mắc bệnh hiểm nghèo thì trong hồ sơ phải có kết luận của bệnh viện từ cấp tỉnh trở lên về tình trạng bệnh tật của người bị kết án.

- Các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành, thời hạn xét miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ; các quy định miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ trong những trường hợp đặc biệt hoặc đối với người bị kết án là người chưa thành niên; việc giao quyết định, kháng nghị quyết định, phúc thẩm quyết định miễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được thực hiện như việc xét miễn, giảm hình phạt tù. (xem Điều 269 BLTTHS và mục IV Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 12/10/2007).

7. Miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí

(Theo Điều 61 Luật thi hành án dân sự là miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước).

7.1. Một số vấn đề chung

Miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí là những trường hợp người phải thi hành các khoản tiền này theo bản án, quyết định của Toà án, nhưng có đủ các điều kiện do pháp luật quy định nên được Toà án có thẩm quyền quyết định miễn hoặc giảm khoản tiền mà họ phải thi hành.

- Tiền phạt được xem xét để miễn, giảm không phân biệt là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung.

- Đã thi hành được một phần hình phạt tiền là trường hợp người phải thi hành án đã nộp một khoản tiền hoặc tài sản để thi hành án mà ít nhất là 1/20 khoản tiền phạt phải thi hành, nhưng không được thấp hơn mức án phí không có giá ngạch.

- Người phải thi hành án lập công lớn là trường hợp người đó đã có hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc đã cứu được tài sản của nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hoả hoạn; có những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng.

- Người phải thi hành án bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài là người bị mất toàn bộ hoặc phần lớn tài sản, mất hoặc giảm thu nhập, không đảm bảo hoặc chỉ đảm bảo được nhu cầu tối thiểu của bản thân người đó và gia đình từ mười hai tháng trở lên, kể từ khi thời điểm thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, ốm đau đến thời điểm xét miễn giảm thi hành án, trừ trường hợp do người phải thi hành án tự gây ra tai nạn, ốm đau cho bản thân họ nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.

7.2. Nguyên tắc xét miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí

- Việc xét miễn, giảm thi hành án khoản tiền phạt, án phí (sau đây gọi tắt là miễn hoặc giảm thi hành án) được tiến hành hàng quý trong năm, nhưng mỗi đối tượng phải thi hành án chỉ được xét miễn hoặc giảm không quá một lần trong một năm. Trường hợp một người phải thi hành nhiều khoản tiền phạt, án phí trong nhiều bản án, quyết định khác nhau, thì đối với mỗi bản án, quyết định, người phải thi hành án chỉ được xét miễn hoặc giảm thi hành án một lần trong một năm.

- Không xét miễn, giảm thi hành án đối với người có đủ điều kiện xiét miễn, giảm nhưng kể từ ngày bị xử phạt tiền, buộc phải chịu án phí đến thời điểm xét miễn, giảm mà lại phạm tội mới.

- Người được xét miễn, giảm thi hành án không phải nộp lệ phí và các chi phí liên quan đến việc xét miễn, giảm. Chi phí cho việc điều tra, xác minh, lập hồ sơ, thụ lý hồ sơ và tổ chức xét miễn, giảm thi hành án được lấy từ kinh phí nghiệp vụ của cơ quan thi hành án dân sự địa phương, Thi hành án quân khu, Trại giam, Viện kiểm sát và Toà án giải quyết vụ việc đó.

7.3. Các trường hợp được giảm thi hành án

- Khi hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành án khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau:

+ Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn;

+ Số tiền phạt còn lại từ trên hai mươi triệu đồng;

+ Không có tài sản, không có thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại.

- Khi chưa hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành án khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau:

+ Là người chưa thành niên khi phạm tội;

+ Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn;

+ Số tiền phạt còn lại trên hai triệu đồng

+ Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn.

- Khi hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các loại tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) hoặc người phải thi hành án phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện sau:

+ Là người chưa thành niên khi phạm tội;

+ Số tiền phạt còn lại trên hai triệu đồng;

+ Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn.

- Người phải thi hành khoản tiền án phí có giá ngạch trên hai mươi triệu đồng nếu không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền án phí còn lại được giảm thi hành án trong trường hợp đã đủ mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu.

- Mức xét giảm thi hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ.

7.4. Các trường hợp được miễn thi hành án khoản tiền phạt, án phí

(Xin xem mục 5 Quyết định miễn chấp hành hình phạt của bài viết này)

7.5. Thủ tục xét miễn, giảm thi hành án

(Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT ngaà 17/6/2005 của TANDTC, VKSNDTC, BTP, BCA, BTC).

a. Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án bao gồm:

+ Đơn xin miễn, giảm thi hành án của người phải thi hành án; các giấy tờ chứng minh điều kiện được miễn, giảm gửi kèm cùng đơn đề nghị.

Đối với những trường hợp người phải thi hành án đủ điều kiện miễn, giảm thi hành án, nhưng vì già yếu, bệnh tật, không biết chữ thì có thể nhờ người khác thay mặt họ làm đơn xin miễn, giảm thi hành án.

Nếu người phải thi hành án đủ điều kiện miễn, giảm thi hành án nhưng họ là người chưa thành niên, người không có năng lực hành vi thì có thể nhờ người khác hoặc người giám hộ thay mặt để làm đơn xin miễn, giảm thi hành án.

+ Hồ sơ thi hành án khoản tiền phạt, án phí còn bao gồm: bản sao bản án, quyết định hoặc bản sao trích lục bản án, quyết định của Toà án (có thể dùng bản photo bản án, quyết định của Toà án có xác nhận của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nếu khoản tiền được miễn, giảm được thụ lý, thi hành cùng các khoản khác); các quyết định về thi hành án; chứng từ thu, chi về thi hành án; các biên bản xác minh, điều tra về điều kiện tài sản của người thi hành án, trong đó có biên bản xác minh gần nhất không được quá sáu tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm; các giấy tờ xác nhận điều kiện được xét miễn, giảm.

- Văn bản đề nghị xét miễn, giảm thi hành án của Viện trưởng Viện kiểm sát đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 58, khoản 3 Điều 76 Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại tiểu mục 3.2 và 3.4 mục 3, tiểu mục 4.2 và 4.4 mục 4 phần I của Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT ngày 17/6/2005 của TANDTC, VKSNDT, BTP, BCA và Bộ tài chính; văn bản đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đối với các trường hợp còn lại.

+ Đơn xin miễn, giảm thi hành án được gửi cho cơ quan Thi hành án dân sự đang thụ lý việc thi hành khoản tiền phạt, án phí và phải có các nội dung sau:

- Họ và tên, nơi cư trú, làm việc và nơi chấp hành hình phạt tù (nếu có);

- Tên cơ quan thi hành án dân sự đang thụ lý việc thi hành khoản tiền phạt án phí;

- Số bản án, quyết định, tên Toà án đã ban hành bản án, quyết định; khoản tiền phạt, án phí phải thi hành; khoản tiền phạt, án phí đã được thi hành và khoản tiền phạt, án phí còn phải thi hành; khoản tiền phạt, án phí xin được miễn giảm; lý do xin miễn, giảm;

- Đơn xin miễn, giảm phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người phải thi hành án cư trú. Trường hợp người phải thi hành án đang làm việc tại cơ quan, tổ chức thì ngoài xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, còn phải có xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc;

- Người phải thi hành án đã lập công lớn phải có bản tường trình có xác nhận của cơ quan Công an hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã và bản sao giấy tờ, tài liệu chứng minh về việc lập công lớn.

Người có phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng, thì phải có bản sao giấy tờ xác nhận việc khen thưởng.

Người phải thi hành án lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, kéo dài do thiên tai, địch hoạ, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra, thì phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú; cơ quan nơi người đó làm việc hoặc giám thị trại giam nơi người đó chấp hành hình phạt tù. Trường hợp tai nạn, ốm đau kéo dài phải có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên.

b. Lập hồ sơ đề nghị xét miễn giảm thi hành án

- Cơ quan thi hành án dân sự địa phương, thi hành án cấp quân khu có trách nhiệm thông báo các điều kiện, thời gian xét miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí cho người phải thi hành án có đủ điều kiện để họ làm đơn xin miễn, giảm thi hành án.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn xin miễn giảm thi hành án, chấp hành viên được giao thi hành vụ việc phải kiểm tra và tiến hành xác minh điều kiện về tài sản của người phải thi hành án.

Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà phải thi hành án khoản tiền phạt, án phí, thì ngoài biên bản xác minh về điều kiện thi hành án nơi người đó cư trú hoặc làm việc, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự gửi phiếu đề nghị Giám thị trại giam nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù xác nhận những vấn đề sau: lập công lớn khi chấp hành hình phạt tù, bị bệnh nặng, tài sản mà họ gửi ở bộ phận lưu ký của Trại giam (nếu có).

Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được phiếu yêu cầu, Giám thị trại giam phải kiểm tra, xác nhận và chuyển kết quả cho cơ quan Thi hành án dân sự đã có yêu cầu.

- Căn cứ kết quả xác minh, Chấp hành viên báo cáo Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét việc, miễn giảm thi hành án. Biên bản xác minh điều kiện thi hành án được thực hiện trong thời hạn không quá ba tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm.

Trường hợp không đủ điều kiện để xét miễn, giảm thi hành án, thì trong thời hạn mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo của chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự phải có văn bản trả lời, nêu rõ lý do của việc không đề nghị cho người phải thi hành án biết.

Trường hợp xét thấy người phải thi hành án có đủ điều kiện đề nghị xét miễn, giảm thi hành án nhưng không xác định được nơi cư trú của người đó hoặc người phải thi hành án là người nước ngoài không có tài sản và không còn cư trú tại Việt Nam, thì cơ quan Thi hành án dân sự có văn bản đề nghị miễn, giảm thi hành án kèm theo hồ sơ đối với trường hợp.

- Vào tuần đầu tiên của tháng giêng (tháng 1), tháng tư, tháng bảy và tháng mười hàng năm, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm chuyển hồ sơ đề nghị miễn, giảm thi hành án cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo văn bản đề nghị Toà án xét miễn, giảm thi hành án. Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận hồ sơ, Viện kiểm sát phải xem xét và chuyển hồ sơ cho Toà án cùng cấp kèm theo văn bản nêu rõ ý kiến của Viện kiểm sát về hồ sơ xin miễn giảm thi hành án và thông báo cho cơ quan Thi hành án dân sự biết.

Viện kiểm sát có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự giải thích những điểm chưa rõ hoặc bổ sung những tài liệu, giấy tờ cần thiết. Trường hợp có căn cứ là người phải thi hành án có điều kiện được xét miễn, giảm thi hành án mà cơ quan thi hành án không lập hồ sơ, Viện kiểm sát chó quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự phải lập hồ sơ đề nghị miễn, giảm thi hành án cho người đó.

- Người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án có quyền khiếu nại việc Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên lập hồ sơ không đúng hoặc không lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm tiền phạt, án phí, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc giải quyết khiếu nại đối với cơ quan Thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Chương VI Luật thi hành án dân sự.

c. Thẩm quyền đề nghị miễn, giảm thi hành án và thẩm quyền của Toà án trong việc xét miễn, giảm thi hành án.

Thẩm quyền của Toà án

Theo quy định tại Điều 63 Luật thi hành án dân sự thì:

"Việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Toà án quân sự khu vực (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) nơ cơ quan Thi hành án dân sự đang tổ chức việc thi hành án có trụ sở.

+ Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Toà án phải thụ lý hồ sơ.

+ Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý hồ sơ, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phải mở phiên họp xét miễn, giảm án phí, tiền phạt (nghĩa vụ thi hành án).

+ Phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án do một Thẩm phán chủ trì, có sự tham dự của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan Thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn, giảm.

Khi tiến hành xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, đại diện cơ quan Thi hành án trình bày tóm tắt hồ sơ đề nghị miễn, giảm; đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về hồ sơ miễn, giảm. Trên cơ sở xem xét ý kiến của cơ quan Thi hành án, của Viện kiểm sát và căn cứ vào hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm, Thẩm phán ra quyết định chấp nhận, chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận đề nghị miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án (tiền phạt, án phí).

- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án (án phí, tiền phạt), Toà án phải gửi quyết định cho người được xét miễn, giảm thi hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Trại giam, Trại tạm giam nơi người được xét miễn giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí đang chấp hành hình phạt tù.

- Thẩm quyền đề nghị xét miễn, giảm tiền phạt, án phí

Theo Điều 62 Luật thi hành án dân sự thì "Cơ quan thi hành án dân sự lập hồ sơ đề nghị Toà án có thẩm quyền xem xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án…".

Luật không quy định rõ Cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan cấp nào, nhưng theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT ngày 17/6/2005 thì Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc trực tiếp đề nghị Toà án cùng cấp xét miễn, giảm thi hành án. Trường hợp vụ việc do Thi hành án cấp tỉnh thụ lý thi hành thì uỷ thác cho Thi hành án cấp huyện nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc lập hồ sơ đề nghị, thực hiện việc đề nghị và thông báo cho đương sự (người được xét miễn, giảm thi hành án) biết. Nếu cơ quan thi hành án cấp tỉnh đã tiến hành xác minh điều kiện miễn, giảm thì phải gửi các tài liệu này kèm theo hồ sơ cùng quyết định uỷ thác cho Thi hành án cấp huyện.

d. Kháng nghị quyết định của Toà án về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với các khoản thu nộp ngân sách Nhà nước (tiền phạt, án phí).

- Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định.

- Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát, Toà án phải chuyển hồ sơ và văn bản kháng nghị đến Toà án cấp trên trực tiếp.

- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ kháng nghị, Toà án cấp trên trực tiếp phải mở phiên họp để xét kháng nghị. Phiên họp này do một Thẩm phán chủ trì, có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp. Trong trường hợp cần thiết Toà án yêu cầu đại diện cơ quan Thi hành án dân sự đã lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm cùng tham dự. Thẩm phán chủ trì phiên họp ra quyết định giải quyết kháng nghị của Viện kiểm sát. Quyết định này có hiệu lực thi hành.

Trường hợp Viện kiểm sát rút kháng nghị trước hoặc trong phiên họp xét kháng nghị thì Toà ra ra quyết định đình chỉ việc xét kháng nghị và quyết định xét miễn, giảm tiền phạt, án phí của Toà án cấp dưới có hiệu lực thi hành.

- Trường hợp sau khi đã có quyết định cho miễn, giảm tiền phạt, án phí (quyết định đã có hiệu lực pháp luật) mà phát hiện được người phải thi hành án đã cất giấu, tẩu tán tài sản, xin được miễn, giảm, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, thì cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát có thẩm quyền đã đề nghị Toà án xét miễn, giảm có trách nhiệm đề nghị Chánh án Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

8. Rút ngắn thời gian thử thách của án treo

Án treo không phải là một loại hình phạt riêng quy định trong Bộ luật hình sự mà là một chế định miễn chấp hành hình phạt tù có thời hạn, có điều kiện. Do vậy, khi quyết định hình phạt, Toà án phải xác định mức hình phạt tù đó, tức là Toà án phải căn cứ vào các quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự, các hướng dẫn của TANDTC để xem xét bị cáo có đủ các điều kiện để có thể cho bị cáo được hưởng án treo hay không.

- Các điều kiện cần và đủ để cho bị cáo hưởng án treo gồm:

+ Bị xử phạt tù không quá ba năm, không phân biệt đó là tội gì;

Trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần (trong một vụ án) về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt tù chung không quá ba năm tù thì cũng có thể cho hưởng án treo.

+ Có nhân thân tốt, được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng, cụ thể;

+ Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ, vừa có tình tiết tăng nặng thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên;

+ Nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm;

+ Đối với người bị xử phạt tù đã bị tạm giam, thì chỉ cho hưởng án treo khi thời gian đã bị tạm giam ngắn hơn thời hạn phạt tù.

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 60 Bộ luật hình sự "Án treo" thì khi cho người bị phạt tù hưởng án treo, trong mọi trường hợp Toà án phải ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.

Cách tính thời gian thử thách của án treo đã được Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn tại mục 6 Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 'Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt" và tại mục 1 Công văn số 99-TANDTC-KHXX ngày 01/7/2009 của TANDTC "về việc thi hành một số quy định của các văn bản quy phạm pháp luật".

Khi cho bị cáo hưởng án treo, căn cứ vào quy định nêu trên, các Toà án ấn định thời gian thử thách của bị cáo.

- Theo quy định tại khoản 4 Điều 60 Bộ luật hình sự thì:

"Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Toà án có thể rút ngắn thời gian thử thách".

- Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo (sau đây gọi tắt là Nghị định 61/CP) thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục nói trong Nghị định này là:

1. Cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý người được hưởng án treo, nếu người được hưởng án treo là cán bộ, công chức, người đang học tập tại các cơ sở giáo dục, đào tạo;

2. Đơn vị quân tội từ cấp đại đội hoặc tương đương trở lên, nếu người được hưởng án treo là quân nhân, công nhân quốc phòng;

3. Doanh nghiệp, hợp tác xã, nếu người được hưởng án treo là người lao động làm công ăn lương;

4. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người được hưởng án treo cư trú, nếu người được hưởng án treo không thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.

Những cơ quan, tổ chức trong Điều 3 Nghị định 61/CP là những cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục người được hưởng án treo và Toà án phải căn cứ vào người được hưởng án treo thuộc đối tượng nào của Điều 3 Nghị định 61/CP và hướng dẫn tại tiểu mục 6.6 mục 6 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC để quyết định trong bản án về việc giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục họ trong thời gian thử thách.

- Hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách của án treo

Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định 61/CP thì "Khi đề nghị Toà án rút ngắn thời gian thử thách quy định tại điểm g khoản 1 của Điều này, cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục người được hưởng án treo phải gửi kèm hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách.

Hồ sơ đề nghị gồm có:

a. Bản đề nghị của cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục về việc rút ngắn thời gian thử thách cho người được hưởng án treo;

b. Sổ theo dõi người được hưởng án treo;

c. Quyết định của Toà án về việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo và trích lục bản án;

d. Đơn xin rút ngắn thời gian thử thách của người được hưởng án treo (nếu họ có đề nghị);

đ. Bản tự kiểm điểm của người được hưởng án treo;

e. Biên bản cuộc họp kiểm điểm người được hưởng án treo.

Chú ý: Nghị định 61/CP đánh máy nhầm là điểm e, khoản 1 Điều này, thực chất là phải căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều này mới đúng vì điểm g khoản 1 Điều 7 Nghị định 61/CP quy định "Tự mình hoặc theo đề nghị của người được hưởng án treo, đề nghị Toà án nhân dân cấp huyện hoặc Toà án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo đang chịu thử thách xem xét việc rút ngắn thời gian thử thách, khi người đó chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ". Còn điểm e khoản 1 Điều 7 Nghị định 61/CP quy định "Cho phép người được hưởng án treo được vắng mặt tại nơi cư trú", quy định này không liên quan đến việc rút ngắn thời gian thử thách của người được hưởng án treo.

- Trình tự, thủ tục tiến hành, thời hạn xét rút ngắn thời gian thử thách, ra quyết định rút ngắn thời gian thử thách, gửi quyết định, kháng nghị quyết định, phúc thẩm quyết định… được thực hiện như đối với việc xét miễn, giảm hình phạt tù, hình phạt cải tạo không giam giữ.

- Thẩm quyền quyết định rút ngắn thời gian thử thách của án treo thuộc Toà án nhân dân cấp huyện, Toà án quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo đang chấp hành hình phạt, chịu thử thách.

- Mức rút ngắn thời gian thử thách

+ Mỗi lần người được hưởng án treo có thể được Toà án quyết định rút ngắn thời gian thử thách từ ba tháng đến một năm.

+ Người được hưởng án treo có thể được Toà án rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, nhưng phải đảm bảo thời hạn thực tế chấp hành thời gian thử thách là ba phần tư. Có nghĩa là mức rút ngắn thời gian thử thách dù nhiều lần cũng chỉ được một phần tư thời gian thử thách. Ví dụ người được hưởng án treo phải chịu thời gian thử thách là 4 năm thì họ phải đảm bảo thời gian đã chấp hành là 3 năm. Thời gian được rút ngắn thử thách cao nhất chỉ là một năm.

+ Người được hưởng án treo lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và có đủ các điều kiện: đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách; chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật; thành thực hối cải, tích cực lao động, học tập; được cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương có trách nhiệm giám sát, giáo dục đề nghị bằng văn bản rút ngắn thời gian thử thách, thì Toà án có thể quyết định miễn chấp hành thời gian thử thách còn lại.

Các mẫu "Quyết định rút ngắn thời gian thử thách của án treo" (mẫu 3i) và mẫu "Quyết định không chấp nhận rút ngắn thời gian thử thách của án treo" (mẫu 3m) để được TANDTC ban hành kèm theo Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007.

9. Thi hành một số các hình phạt khác

Ngoài các hình phạt chính, Toà án còn áp dụng các hình phạt bổ sung nếu như điều luật có quy định và xét thấy cần thiết phải áp dụng đối với bịcáo. Các hình phạt bổ sung bao gồm:

- Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;

- Cấm cư trú;

- Tước một số quyền công dân;

- Tịch thu tài sản;

- Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính;

- Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.

Theo quy định tại Điều 257 Bộ luật tố tụng hình sự thì cơ quan công an thi hành hình phạt trục xuất (không phân biệt đó là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung); Chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi thi hành án thi hành hình phạt quản chế, cấm cư trú, trước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cơ quan thi hành án dân sự thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản; việc thi hành bản án và quyết định của Toà án quân sự do các tổ chưc trong quân đội đảm nhiệm, trừ hình phạt trục xuất.

Vì đây là những hình phạt bổ sung được quyết định trong bản án nên khi quyết định thi hành án thì cũng có nghĩa là thi hành các quyết định của bản án, trong đó có cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung.

Vấn đề đặt ra là trong hệ thống biểu mẫu của TANDTC ban hành kèm theo Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 có một số mẫu Quyết định thi hành hình phạt cấm cư trú (mẫu số 5), Quyết định thi hành án hình phạt quản chế (mẫu số 6) và nếu đã có các mẫu thi hành án các hình phạt bổ sung thì cũng có thể phải ban hành các mẫu quyết định thi hành án các hình phạt bổ sung thì cũng có thể phải ban hành các mẫu quyết định thi hành án các hình phạt bổ sung khác còn chưa ban hành. Như vậy, khi có hình phạt bổ sung được quyết định trong bản án đã có hiệu lực pháp luật, được đưa ra thi hành án thì Toà án phải ban hành tới hai hoặc nhiều quyết định (nếu như Toà án áp dụng nhiều hình phạt bổ sung). Theo chúng tôi, hướng dẫn này không phù hợp và gây cồng kềnh trong thi hành án. Nên chăng, các hình phạt bổ sung cũng được đưa vào trong quyết định thi hành án và nếu thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức thi hành án nào thì cơ quan, tổ chức thi hành án đó thi hành theo phần trách nhiệm đã được Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Trong thực tiễn thì một bản án hình sự có thể có tới năm cơ quan thi hành, Toà án chỉ ra quyết định thi hành về phần hình sự, còn những phần dân sự trong vụ án hình sự, hình phạt tịch thu tài sản lại do cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành.

Từ những vướng mắc này, chúng tôi cũng đề nghị TANDTC cần có hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục thi hành các hình phạt bổ sung để Toà án và các cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương nơi người bị kết án có căn cứ thi hành đúng đắn quyết định của Toà án, đồng thời cũng tạo ra mối quan hệ chặt chẽ giữa Toà án và các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trong giám sát, giáo dục, quản lý những người bị Toà án áp dụng hình phạt bổ sung.

10. Xoá án tích

Xoá án tích là một chế định được quy định tại Chương IX Bộ luật hình sự và Chương XXIX Bộ luật tố tụng hình sự. Theo các quy định của hai Bộ luật này thì có hai hình thức xoá án tích, đó là "Đương nhiên được xoá án tích" và "xoá án tích theo quyết định của Toà án".

Xoá án tích là việc xoá đi vết tích phạm tội của người bị kết án, làm cho người đó được coi như chưa bị kết án, họ có quyền được ghi trong lý lịch của mình chưa có tiền án sau khi đã được Toà án cấp giấy chứng nhận hoặc ra quyết định xoá án tích.

10.1. Đương nhiên xoá án tích

Đương nhiên xoá án tích được áp dụng đối với những trường hợp quy định tại Điều 64 Bộ luật hình sự, đó là:

- Người được miễn hình phạt;

- Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI "Các tội xâm phạm an ninh quốc gia" và Chương XXIV "Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh" của Bộ luật hình sự, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau:

+ Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo;

+ Ba năm trong trường hợp hình phạt tù đến ba năm;

+ Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười lăm năm.

+ Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên mười lăm năm.

Một số vấn đề cần chú ý:

- Chấp hành xong bản án tức là người bị kết án đã tự mình chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Trường hợp các quyết định của bản án hình sự về tài sản, án phí, tiền phạt… đã có người thân của người bị kết án nộp thay hoặc người có trách nhiệm liên đới bồi thường đã thực hiện bồi thường đầy đủ toàn bộ theo quyết định của bản án thì cũng được coi là người bị kết án đã chấp hành xong.

+ Người bị xử phạt tù, nhưng được hưởng án treo đã chấp hành xong thời gian thử thách và chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án (tiền bồi thường, tiền phạt, án phí… nếu có).

- Thời hiệu thi hành bản án

Khi xem xét thời hiệu thi hành bản án đã hết hay chưa để xem xét việc xoá án tích, thì cần phải căn cứ vào Điều 55 Bộ luật hình sự. Đặc biệt cần chú ý là thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với trường hợp áp dụng hình phạt tiền trước đây chưa được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985, do đó được thi hành theo Pháp lệnh thi hành án dân sự. Bộ luật hình sự năm 1999 đã bổ sung tại điểm a, khoản 2 Điều 55 và theo quy định này thì thời hiệu thi hành án đối với hình phạt trên là năm năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật.

Đối với các quyết định khác về tài sản trong bản án hình sự (tiền bồi thường thiệt hại; trả lại tài sản; tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến thiệt hại; tịch thu tài sản; án phí…) thì vẫn thi hành theo các quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự.

Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã quy định cụ thể về thời hiệu thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án. Tuy nhiên để xác định thời hiệu thi hành án đối với các quyết định về tài sản trong bản án hình sự còn hay hết thì cần phân biệt:

+ Đã hết thời hiệu thi hành án đối với các quyết định về tài sản trong bản án hình sự khi hết thời hạn quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự mà không có trở ngại khách quan, nhưng người được thi hành án không có đơn gửi cơ quan thi hành án để yêu cầu thi hành án hoặc trong trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án phải chủ động ra quyết định thi hành án, nhưng không ra quyết định này. (thời hạn là năm đối với các trường hợp phải yêu cầu thi hành án.

+ Nếu trong thời hạn quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự mà cá nhân, cơ quan, tổ chức được thi hành án đã có đơn gửi cơ quan thi hành án yêu cầu thi hành án hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án đã chủ động ra quyết định thi hành án, thì chỉ khi nào người bị kết án thi hành xong các quyết định về tài sản hoặc có quyết định đình chỉ thi hành án thì mới được coi là đã chấp hành xong các quyết định của Toà án về tài sản trong bản án hình sự.

- Thủ tục đương nhiên xoá án tích được thực hiện theo Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 01/8/1986 của TANDTC, VKSNDTC, Bộ tư pháp, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an); Thông tư liên ngành số 03/89 ngày 15/7/1989 của liên ngành tư pháp trung ương.

10.2. Xoá án tích do Toà án quyết định

Xoá án tích do Toà án quyết định là việc trên cơ sở xem xét những điều kiện được quy định tại Điều 65 và Điều 66 Bộ luật hình sự, ý kiến bằng văn bản của Viện kiểm sát, đơn của người bị kết án, nhận xét của chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú hoặc làm việc, Toà án ra quyết định về việc xoá án tích.

- Các điều kiện để xoá án tích do Toà án quyết định:

+ Những người đã bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia (chương XI Bộ luật hình sự) và các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (chương XXIV Bộ luật hình sự). Khi quyết định xoá án tích đối với những người bị kết án về những tội phạm này, Toà án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã được thực hiện, nhân dân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động của họ trong các trường hợp sau:

a. Đã bị phạt tù đến ba năm mà không phạm tội mới trong thời hạn ba năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án;

b. Đã bị phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn bảy năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án.

Như vậy, xoá án tích do Toà án quyết định được pháp luật giới hạn trong phạm vi đối với những người bị kết án theo Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật hình sự.

- Xoá án tích trong trường hợp đặc biệt (Điều 66 Bộ luật hình sự).

Để được xoá án tích trong trường hợp đặc biệt, người bị kết án phải có đủ các điều kiện: có những tiến bộ rõ rệt; đã lập công; được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú đề nghị; đã đủ một phần ba thời hạn quy định tại Điều 64, Điều 65 Bộ luật hình sự, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án.

+ Có những tiến bộ rõ rệt là sau khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người bị kết án đã hoà nhập vào cộng đồng, tham gia làm ăn lương thiện, chấp hành đầy đủ các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước…

+ Đã lập công là có thành tích xuất sắc trong cuộc sống, trong sản xuất, chiến đấu, học tập, công tác được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận. Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì bao gồm cả lập công và lập công lớn. Người bị kết án lập công lớn thì càng đáng được khoan hồng và xem xét khi xoá án tích cho họ.

- Cách tính thời hạn để xoá án tích (Điều 67 Bộ luật hình sự).

Khi áp dụng khoản 1 Điều 67 Bộ luật hình sự thì cần chú ý là thời hạn để xoá án tích được căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên mà không căn cứ vào hình phạt bổ sung; thời hạn này bắt đầu được tính kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án, chứ không phải là tính từ ngày chấp hành xong hình phạt chính. (xem ví dụ tại mục 11 Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000).

+ Theo quy định tại khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự thì "Người bị Toà án bác đơn xin xoá án tich lần đầu phải chờ một năm sau mới được xin xoá án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi thì phải hai năm mới được xin xoá án tích".

- Thủ tục xoá án tích do Toà án quyết định:

Người bị kết án phải có đơn gửi cho Toà án đã xét xử sơ thẩm; kèm theo giấy xác nhận được trả tự do sau khi đã chấp hành xong hình phạt tù của Trại giam nơi họ chấp hành hình phạt tù; Giấy chứng nhận của Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc cơ quan, tổ chức về việc người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt không phải là tù giam; quyết định của Toà án giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù… Nếu người bị kết án bị Toà án áp dụng các hình phạt bổ sung thì phải có giấy chứng nhận của cơ quan, tổ chức, chính quyền có trách nhiệm giám sát, giáo dục về việc họ đã chấp hành xong các hình phạt bổ sung đó; nếu bản án có quyết định về phần tài sản, các quyết định khác về án phí, tiền phạt… thì người bị kết án cũng phải nộp các giấy tờ chứng minh họ đã chấp hành xong các quyết định đó của bản án.

Sau khi đã nhận đơn xin xoá án tích và các tài liệu cần thiết kèm theo đơn, Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm kiểm tra các điều kiện để được xoá án tích. Nếu thấy cần thiết phải xác minh tính đúng đắn của các tài liệu do người bị kết án nộp thì Toà án áp dụng các biện pháp để xác minh, làm rõ. Khi đã xác định hồ sơ xin xoá án tích đã đầy đủ các điều kiện, Toà án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp để nghiên cứu và phát biểu ý kiến bằng văn bản. Trong thời hạn mười ngày, kể từ nhận được hồ sơ xin xoá án tích do Toà án chuyển đến, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phải có ý kiến bằng văn bản gửi kèm với hồ sơ xoá án tích cho Toà án.

Toà án có quyền quyết định chấp nhận hoặc bác đơn xin xoá án tích của người bị kết án mà không lệ thuộc vào ý kiến đồng ý hay không đồng ý của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp.

Quyết định xoá án tích phải được gửi cho người bị kết án có đơn xin án tích, Viện kiểm sát cùng cấp, Công an cấp huyện, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người có đơn xin xoá án tích thường trú.

Trong trường hợp bác đơn xin xoá án tích thì trong quyết định, Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm phải nêu rõ lý do không chấp nhận xoá án tích.

Quyết định xoá án tích có thể bị kháng nghị theo trình tự phúc thẩm hoặc trình tự giám đốc thẩm (nếu quyết định đã có hiệu lực pháp luật). Việc giải quyết kháng nghị quyết định của Toà án được thực hiện theo thủ tục chung.

Như vậy, các chế định về miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, hình phạt cải tạo không giam giữ, hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, rút ngắn thời gian thử thách của án treo, xoá án tích, các quy định về thời hiệu thi hành bản án… được quy định trong Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự là sự thể hiện sâu sắc nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật. Sau khi bị kết án, người bị kết án vẫn có thể được hưởng các quyền, các chính sách nhân đạo mà từ đó họ có thể yên tâm cải tạo, tích cực trong cuộc sống để sớm được hoà nhập cộng đồng. Do vậy, các chế định này còn có ý nghĩa giáo dục, cảm hoá rất lớn, rất có hiệu quả và thể hiện rõ quan điểm, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta là trừng trị đi đôi với giáo dục và lấy giáo dục làm chính.

11. Thi hành hình phạt tử hình

Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Hình phạt này không được áp dụng đối với người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử.

Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang có con dưới 36 tháng tuổi. Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân. Nếu người bị kết án tử hình được ân giảm thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân.

Như vậy, tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất, tước đi quyền được sống của người phạm tội. Vì vậy, việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án tử hình đều phải hết sức thận trọng, không được phép sai sót. Chính vì vậy pháp luật quy định rất chặt chẽ các trình tự đặc biệt về hình phạt tử hình. Bộ luật tố tụng hình sự quy định thành một chương (chương XXVI Thi hành hình phạt tử hình). Hội đồng Thẩm phán TANDTC cũng dành mục II trong Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 để hướng dẫn áp dụng thống nhất Chương XXVI-BLTTHS "Thi hành hình phạt tử hình". Hướng dẫn của TANDTC rất cụ thể, rõ ràng về việc kháng cáo, kháng nghị hoặc xem xét đơn xin ân giảm v.v… (xem tiểu mục 1.1 điểm 1 Mục II Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán TANDTC số 02/2007).

Bản án tử hình chỉ được thi hành khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a. Người bị kết án tử hình không làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình và Toà án xử sơ thẩm đã nhận được quyết định không kháng nghị của Chánh án TANDTC và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng VKSNDTC.

b. Người bị kết án tử hình có làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình và Toà án xử sơ thẩm để nhận được quyết định không kháng nghị của Chánh án TANDTC, quyết định không kháng nghị của Viện trưởng VKSNDTC và bản sao quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình (do TANDTC gửi đến).

c. Người bị kết án tử hình không làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình và Toà án xử sơ thẩm đã nhận được quyết định giám đốc thẩm hoặc quyết định tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán TANDTC không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình.

d. Người bị kết án tử hình có làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình và Toà án xử sơ thẩm đxã nhận được quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán TANDTC không chấp nhận kháng nghị, giữ nguyên bản án tử hình và bản sao Quyết định của Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình (do TANDTC gửi đến).

Việc thi hành hình phạt tử hình phải được thực hiện theo đúng "Quy trình thi hành án tử hình" được ban hành kèm theo Quyết định số 810/2006/QĐ-BCA-C11 ngày 04/7/2006 của Bộ trưởng Bộ Công an.

Trường hợp một người bị kết án tử hình mà lại bị xét xử về một hoặc nhiều tội phạm mới (tội phạm mới này được hiểu là có thể thực hiện trước hoặc sau khi đã bị kết án tử hình), nhưng tội mới này không bị xử phạt tới mức tử hình, cho dù khi tổng hợp hình phạt chung của các bản án vẫn là tử hình, thì Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm về tội phạm mà họ bị kết án tử hình ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình.

- Trường hợp một người bị kết án tử hình nhiều lần theo nhiều bản án của các Toà án đã xử sơ thẩm khác nhau (cũng có thể là nhiều bản án tử hình của cùng một Toà án), thì Chánh án Toà án đã xử sơ thẩm vụ án sau cùng ra quyết định thi hành án và thành lập Hội đồng thi hành hình phạt tử hình.

- Chú ý: Các tình tiết đặc biệt xảy ra khi thi hành hình phạt tử hình phải là những thông tin, tình tiết do người bị kết án tử hình hoặc người khác khai báo, cung cấp hoặc do Hội đồng thi hành án biết được từ những nguồn tin khác; các thông tin, tình tiết này phải có căn cứ và nó có thể làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án, để khởi tố vụ án mới, người phạm tội mới (ví dụ: người bị thi hành hình phạt tử hình khai ra các tình tiết mới của vụ án, khai ra người phạm tội mới…), nếu thi hành án với họ thì có thể sẽ rất khó khăn trong việc điều tra, mở rộng vụ án, khó khăn trong việc xử lý đối với các loại tội phạm khác…

Những trường hợp này, Hội đồng thi hành án hoãn thi hành và báo cáo Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án để báo cáo Chánh án TANDTC.

IV. Một số kiến nghị

1. Về hướng dẫn, áp dụng pháp luật

Luật thi hành án dân sự đã được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 14/11/2008. Theo đó, một số quy định trước đây của Pháp lệnh thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung, thế nhưng một số văn bản pháp luật hướng dẫn áp dụng Pháp lệnh này vẫn không được sửa đổi cho phù hợp với Luật mới. Ví dụ như Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán TANDTC số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007, hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ năm "Thi hành bản án và quyết định của Toà án" của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt; Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT ngày 17/6/2005 của TANDTC, VKSNDTC, BTP, BCA, BTC hướng dẫn việc miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí. Một số viện dẫn trong các văn bản hướng dẫn này vẫn dựa trên quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự mà theo Luật thi hành án dân sự thì đã có thay đổi.

Ví dụ như hướng dẫn về việc người phải thi hành án phải làm đơn xin miễn, giảm thi hành án tiền phạt, án phí. (tiểu mục 1.1 điểm 1 mục II Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT ngày 17/6/2005 của Liên ngành Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an và Bộ Tài chính). Hướng dẫn này không còn phù hợp với quy định tại Điều 62 Luật thi hành án dân sự "Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước".

Ngay trong thuật ngữ "khoản tiền phạt, án phí" với "nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước" cũng đã có sự khác nhau. Theo chúng tôi khái niệm "khoản thu nộp ngân sách nhà nước" rộng hơn so với khái niệm "tiền phạt, án phí" bởi khoản thu nộp ngân sách nhà nước không chỉ có tiền phạt, án phí mà còn có thể có cả các khoản tiền khác mà người bị kết án phải có nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước. Ví dụ như tiền thu lợi bất chính, các khoản tiền, tài sản mà Toà án tuyên tịch thu xung công quỹ nhà nước… Vấn đề này cũng cần được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể bằng Thông tư liên tịch, hay nói cách khác, cần có sửa đổi, bổ sung hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT ngày 17/6/2005 hoặc ban hành một Thông tư liên tịch mới để hướng dẫn áp dụng một số điều của Luật thi hành án dân sự.

2. Về công tác quản lý nhà nước và tổ chức thi hành án dân sự

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc tổ chức thi hành án dân sự được giao cho nhiều cơ quan thi hành. Như vậy một bản án, quyết định hình sự có thể có nhiều cơ quan thi hành, mỗi cơ quan được giao trách nhiệm thi hành mọto phần trong quyết định của bản án. Điều này đã làm cho công tác thi hành án hình sự bị cắt khúc, gián đoạn, công tác quản lý nhà nước không chặt chẽ. Ví dụ Toà án thì ra các quyết định, cơ quan công an thi hành phần hình phạt tù, tử hình; Uỷ ban nhân dân, cơ quan, tổ chức thực hiện việc quản lý, giám sát, giáo dục đối với người bị kết án không phải là phạt tù giam; cơ quan tư pháp thi hành phần dân sự…

Ngay trong một cơ quan thì việc thi hành án hình sự cũng được giao cho nhiều bộ phận khác nhau. Ví dụ Bộ Công an giao cho lực lượng cảnh sách Bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp thi hành hình phạt tử hình, V26 (trại giam) thi hành hình phạt tù; Cục quản lý xuất nhập cảng thi hành hình phạt trục xuất.

Việc giao cho quá nhiều cơ quan thi hành một bản án, quyết định hình sự, rõ ràng đây là một bất cập của pháp luật và cần phải nghiên cứu, sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn. Theo chúng tôi, cần ban hành Luật thi hành án hình sự, trong đó xác định rõ cơ quan chủ trì, các cơ quan có trách nhiệm phối hợp trong việc tổ chức thi hành án hình sự.

3. Về nhận thức

Theo chúng tôi thi hành án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự (tố tụng hình sự được hiểu theo nghĩa rộng, tức là bao gồm tất cả các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự). Xét xử vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng tại Toà án, thi hành án hình sự là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử. Tất nhiên, không phải mọi trường hợp xét xử, ra bản án, quyết định đều có giai đoạn thi hành án vì có một số trường hợp Toà án không phải ra quyết định thi hành án như trường hợp tuyên không có tội, miễn hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự, phạt tiền (là hình phạt chính)… xét xử và Thi hành án hình sự chỉ là hai mặt thống nhất khi mà bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, phải ra quyết định thi hành

Thi hành án hình sự được quy định tại phần thứ năm, chương XXV của Bộ luật tố tụng hình sự. Các điều luật trong chương này quy định rất rõ về trình tự, thủ tục thi hành án…., đó cũng chính là tố tụng trong thi hành án hình sự. Mọi vi phạm tố tụng này đều bị kháng nghị bởi Viện kiểm sát hoặc giải quyết theo quy định tại chương XXXV Bộ luật tố tụng hình sự "Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự". Về vấn đề này cũng có những quan điểm khác như không coi thi hành án hình sự là một giai đoạn tố tụng mà thi hành án hình sự chỉ là một quá trình thực thi các phán quyết của Toà án và đó không phải là một quá trình tố tụng hình sự; cũng có quan điểm cho rằng thi hành án hình sự mang nặng màu sắc của hành chính tư pháp vì hầu hết quá trình thi hành án này chủ yếu do các cơ quan hành chính (cơ quan Công an, chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức…) thực hiện.

Sự chưa thống nhất trong nhận thức về thi hành án hình sự cũng là một trở ngại đáng kể trong việc xây dựng, củng cố, bố trí tổ chức, xác định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong công tác thi hành án và cao hơn là việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật về thi hành án hình sự.

4. Về thi hành án tử hình

Cần nghiên cứu và quy định phương pháp thi hành án tử hình thay cho phương pháp bắn bằng súng hiện nay. Cũng có thể quy định "mở" về phương pháp, hình thức thi hành án tử hình, tức là đa dạng về hình thức chứ không chỉ quy định cứng nhắc một hình thức; có các quy định về việc cho phép thân nhân người bị thi hành án tử hình nhận xác về mai táng; cho phép người bị thi hành án tử hình được quyền hiến một phần hoặc toàn bộ cơ thể cho y học hoặc vì nhân đạo xã hội.

Hiện nay, việc người bị kết án tử hình phải chờ đợi thi hành án quá lâu trong xà lim của trại giam vừa gây nhiều khó khăn cho trại giam, vừa gây tâm nặng nề cho người bị kết án. Nhiều trường hợp kéo dài năm bảy năm, thậm chí hàng chục năm nhưng không thi hành án. Có nhiều lý do về việc chậm trễ này mà hầu hết đều không phải do người bị thi hành án tử hình gây ra. Trong trường hợp này nên chăng, pháp luật cũng có quy định về thời hạn thi hành án tử hình, nếu quá thời hạn đó mà các cơ quan có thẩm quyền không ra quyết định thi hành án tử hình thì không thi hành án tử hình mà chuyển xuống tù chung thân. Chúng tôi nghĩ rằng nếu Nhà nước nghiên cứu, chấp nhận đề xuất này thì sẽ có những tác dụng nhất định:

- Một là: Khi quy định thời hạn thì buộc các cơ quan có thẩm quyền phải nghiêm túc thực hiện. Nếu không thực hiện được thì phải tự chịu trách nhiệm (tương tự như thời hiệu thi hành bản án, thời hiệu chấp hành hình phạt tù…).

- Hai là: Thời hạn (thời gian) quá lâu không thi hành án tử hình cũng làm cho tính thời sự của vụ án hạn chế, tác dụng cũng hạn chế. Chẳng hạn một vụ án xét xử đã 10 năm rồi mới thi hành án tử hình thì dự luận xã hội, thậm chí những người tiến hành tố tụng cũng không còn nhớ được nội dung vụ án.

- Ba là: Xét về góc độ nhân đạo thì một người bị thi hành án tử hình, phải biệt giam trong nhiều năm, chờ ngày thi hành án quá dài, họ nuôi hy vọng được sống, dù hy vọng đó là nhỏ nhoi, mong manh, nhưng được họ trân trọng. Pháp luật có nên nhân đạo với họ không?

Ngoài ra, còn một số vướng mắc cần được hướng dẫn cụ thể như thủ tục tố tụng đối với những trường hợp người bị kết án tử hình chết trước khi thi hành án; chết trước khi nhận được quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị của Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC (đối với người bị kết án tử hình không viết đơn xin ân giảm); chết trước khi nhận được quyết định ân giảm hoặc quyết định bác đơn xin ân giảm của Chủ tịch nước; việc thi hành án tử hình đối với trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm mà Hội đồng Thẩm phán TANDTC không chấp nhận kháng nghị, giữ nguyên bản án tử hình và người bị kết án tử hình không viết đơn xin ân giảm.

5. Về thi hành án phạt tù

- Cần có văn bản hướng dẫn về thủ tục giải quyết đối với các trường hợp người bị kết án chết trước khi có quyết định thi hành án, đã có quyết định thi hành án, chết trong thời gian chấp hành hình phạt, trong thời gian hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù. Hiện nay pháp luật không quy định cơ quan nào ra quyết định giải quyết. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại điểm 8.4 mục 8 Thông tư liên tịch số 02/2006/TTLT ngày 18/5/2006 của TANDTC, VKSNTC, BCA, BQP, BYT hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng thì "Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ việc chấp hành hình phạt tù vì người bị kết án đã chết". Theo chúng tôi, hướng dẫn này cũng chưa sát vì Luật không có điều nào quy định về việc này nên không thể lấy quy định của Luật về tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để hướng dẫn về đình chỉ chấp hành án phạt tù. Mặt khác, đây cũng chỉ là hướng dẫn đối với trường hợp người được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng, còn các trường hợp khác (lý do tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù khác) thì cũng chưa có hướng dẫn.

Trong thực tiễn, khi gặp phải các trường hợp người bị kết án chết trước, trong, sau khi có quyết định thi hành án, tạm đình chỉ, hoãn chấp hành hình phạt, các Toà án không ra quyết định đình chỉ chấp hành hình phạt tù mà mặc nhiên coi như đã thi hành án xong (để treo). Hiện nay, TANDTC cũng chưa có hướng dẫn hoặc ban hành mẫu về đình chỉ chấp hành án phạt tù. Đây là một trong vướng mắc trong công tác thi hành án hình sự, cần được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, đặc biệt cần phải bổ sung trong Bộ luật tố tụng hình sự quy định về đình chỉ chấp hành án phạt tù.

- Cần có hướng dẫn cụ thể trong việc xác định "Sức khoẻ đã phục hồi" để Toà án có căn cứ quyết định có ra quyết định hoãn, tạm đình chỉ hay không.

- Một số vướng mắc khác về hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, chúng tôi đã nêu tại mục 3 "Ra quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù".

6. Về xoá án tích

Nhìn chung, thủ tục xoá án tích còn nhiều rườm rà. Người xin được xoá án tích hay đương nhiên được xoá án tích phải thực hiện quá nhiều thủ tục phức tạp. Mặt khác việc tuyên truyền, phổ biến sâu rộng chế định này của pháp luật cũng còn nhiều hạn chế, bất cập. Không phải tất cả những người đã bị kết án hoặc thân nhân của họ đều biết về chế định này. Chính vì vậy, hàng năm mặc dù số người có đủ điều kiện để được xoá án tích là rất nhiều nhưng Toà án cấp giấy chứng nhận hoặc ra quyết định xoá án tích không đáng kể. Từ thực trạng này, chúng tôi kiến nghị:

- Các cơ quan Toà án, thi hành án dân sự cần tạo các điều kiện thuận lợi để cung cấp cho người xin xoá án tích các tài liệu liên quan.

- Giảm bớt các thủ tục giấy tờ khi cấp giấy chứng nhận hoặc quyết định xoá án tích.

- Tuyên truyền rộng rãi chế định này; Tại trụ sở các Toà án cần phải công khai các mẫu, hướng dẫn các trình tự, thủ tục, các điều kiện được xoá án tích.

- Xoá án tích là một chế định xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo XHCN, do vậy trách nhiệm trước hết thuộc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo chúng tôi, tương tự như quy định về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước, nên chăng không nên yêu cầu (quy định) người có đủ điều kiện xoá án tích phải làm đơn xin Toà án chứng nhận hoặc ra quyết định xoá án tích mà Toà án phải tự lập hồ sơ, tự xác minh và cấp giấy chứng nhận hoặc ra quyết định xoá án tích.

7. Về xét miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù

Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt thì mức được xét giảm từ 03 tháng đến 03 năm cho mỗi lần được xét giảm. Hội đồng xét miễn, giảm chấp hành hình phạt tù quyết định, căn cứ vào hồ sơ đề nghị của Ban giám thị Trại giam (Trại tạm giam) và ý kiến của Viện kiểm sát.

Để việc xét miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù chính xác, đúng đắn, công bằng và khuyến khích người phải chấp hành hình phạt tù tích cực cải tạo, tốt, khá, trung bình, yếu kém. Theo phân loại này thì chỉ xét giảm cho những người được xếp loại tốt và khá. Trong đó cũng cần quy định cụ thể như người cải tạo khá có thể được giảm từ 03 tháng đến 18 tháng; người cải tạo tốt có thể được xét giảm từ trên 18 tháng đến 36 tháng.

8. Về việc thi hành một số hình phạt như hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, cảnh cáo…

Tuy đã có những hướng dẫn của Chính phủ tại các Nghị định 60, 61/CP nhưng trong thực tiễn cũng còn nhiều bất cập trong việc phối hợp quản lý, giám sát, giáo dục. TANDTC cũng chưa ban hành sổ theo dõi việc chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ, chính quyền địa phương cũng chưa quản lý được các đối tượng này trên địa bàn, đặc biệt khi họ thay đổi nơi cư trú, ở vùng sâu, vùng xa, thay đổi nơi làm việc, học tập… Một số mẫu về Quyết định miễn, giảm, không chấp nhận miễn, giảm hình phạt cải tạo không giam giữ cũng chưa được TANDTC ban hành.

Hình phạt cải tạo không giam giữ nếu bị khấu trừ thu nhập cũng khó có điều kiện để thi hành quyết định của Toà án. Một phần vì thu nhập của nhiều trường hợp không ổn định và họ cũng không cư trú cố định, ổn định ở một nơi. Trong thực tiễn, hình phạt cải tạo không giam giữ ít được Toà án áp dụng và hiệu quả thi hành án hình phạt này không cao.

9. Việc thi hành các hình phạt bổ sung

Các hình phạt bổ sung mà Toà án thường áp dụng như phạt tiền, quản chế, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định, tước một số quyền công dân. Nhìn chung, các hình phạt bổ sung này được thi hành tương đối tốt và do chính quyền địa phương, cơ quan tổ chức nơi người phải chấp hành hình phạt thực hiện.

Đối với một số hình phạt bổ sung như Cấm cư trú và trục xuất (là hình phạt bổ sung) thường ít được áp dụng hơn.

Hình phạt bổ sung đi kèm với hình phạt chính và do nhiều cơ quan thi hành. Thông thường hình phạt bổ sung thường được thi hành sau khi đã chấp hành xong hình phạt chính. Ví dụ quản chế, cấm cư trú được thực hiện (thi hành) sau khi chấp hành xong hình phạt chính (thường là phạt tù), tước một số quyền công dân thường áp dụng đối với các bị cáo bị xử phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia nên cũng thường được thi hành sau khi chấp hành xong hình phạt chính. Tuy nhiên cũng có những trường hợp hình phạt chính và hình phạt bổ sung cùng được thi hành. Ví dụ một người bị phạt tù nhưng cho hưởng án treo về một tội nào đó nhưng họ bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định thì hai hình phạt này cũng được thi hành.

Vướng mắc trong việc có ra quyết định thi hành hình phạt bổ sung hay không, chúng tôi đã nêu tại mục 2 "Quyết định thi hành án" và mục 9 "Thi hành các hình phạt khác".

Tóm lại: Thi hành án các hình phạt bổ sung cũng còn nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu, hướng dẫn cụ thể. Hiện nay hình phạt bổ sung cũng giao cho nhiều cơ quan, tổ chức thi hành nên cũng tương tự như thi hành án đối với các hình phạt chính khác, không tránh khỏi những bất cập và hiệu quả của các hình phạt bổ sung chưa được như mong muốn.

10. Đối với công tác thi hành án hình sự của các Toà án

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Toà án phải chịu trách nhiệm với rất nhiều công việc về thi hành án hình sự. Tuy nhiên, tổ chức bộ máy để thực hiện nhiệm vụ này từ lâu rồi không được củng cố, hoàn thiện. Ngay ở TANDTC cũng không phân công, bố trí một bộ phận, đơn vị nào đảm nhiệm công tác này. Các Toà án địa phương cũng không có bộ phận, đơn vị chuyên trách về thi hành án hình sự.

Cán bộ làm công tác thi hành án hình sự đều là kiêm nhiệm, không có chuyên sâu, không được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức thường xuyên và thường không ổn định. Trong khi đó, khối lượng công việc rất lớn vì hầu hết các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật đều phải ra quyết định thi hành. Một người bị kết án có thể phải ra rất nhiều quyết định: Quyết định thi hành án phạt tù, miễn chấp hành hình phạt tù, xoá án tích… Hàng năm, Toà án nhân dân tỉnh phải xem xét để giảm án, tha tù cho hàng ngàn bị cáo, tức là phải nghiên cứu hàng ngàn hồ sơ đề nghị miễn, giảm; phải xem xét hàng trăm hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách… Thế nhưng thực trạng về tổ chức, cán bộ nêu trên làm cho các Toà án địa phương rất vất vả, phải điều động cán bộ, Thẩm phán để tập trung giải quyết.

Mặt khác, cơ cấu tổ chức bộ máy, lực lượng cán bộ không chuyên cũng làm cho sự chỉ đạo, điều hành, tổng kết thực tiễn, hướng dẫn áp dụng pháp luật về thi hành án hình sự cũng còn quá nhiều hạn chế, bất cập.

Tự thực trạng trên, chúng tôi kiến nghị TANDTC cần củng cố lại tổ chức cả về bộ máy và cả về cán bộ làm công tác thi hành án hình sự. Bên cạnh đó, cần tăng cường hướng dẫn áp dụng pháp luật, có ý kiến đề nghị Quốc hội giải thích pháp luật hoặc sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật không còn phù hợp thực tiễn hoặc bổ sung một số quy định chưa có trong pháp luật về thi hành án hình sự.

Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến trao đổi xung quanh các vấn đề mà chúng tôi đã nêu ra trong bài viết này.

Thạc sỹ:Nguyễn Quang Lộc - Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao

(MINH KHUE LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Trường hợp nào Nhà nước sẽ trả lại tài sản khi thi hành án ?

2. Khi quyết định hình phạt Tòa án tuân theo nguyên tắc và căn cứ nào ?

Quyết định hình phạt là việc Tòa án quyết định áp dụng loại và mức hình phạt cụ thể đối với người phạm tội phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà họ gây ra. Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải tuân theo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc cụ thể hóa hình phạt.

Khi quyết định hình phạt Tòa án tuân theo nguyên tắc và căn cứ nào ?

- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Tòa án phải tuân theo các quy định về tội phạm và hình phạt, các quy định về nhân thân, độ tuổi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Tòa án tuân theo các quy định về khoan hồng, về nhân thân người phạm tội, đảm bảo mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội.

Khi quyết định hình phạt Tòa án tuân theo nguyên tắc và căn cứ nào ?

Luật sư tư vấn pháp Luật Hình sự gọi: 1900.6162

- Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đòi hỏi Tòa án quyết định hình phạt đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhất là trong trường hợp có yếu tố đồng phạm.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải dựa vào những căn cứ sau đây:

- Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội;

- Căn cứ vào đặc điểm nhân thân người phạm tội;

- Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;

- Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn Luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn lập quy chế tài chính cho doanh nghiệp

3. Án lệ trong hệ thống tòa án Australia lựa chọn nào cho Việt Nam trong việc phát triển án lệ ?

Hệ thống Tòa án của Australia được tổ chức thành hệ thống Liên Bang và tiểu bang. Ở cấp Liên bang, hệ thống Tòa án bao gồm Tòa án tối cao Liên Bang, Tòa án Liên Bang, Tòa án gia đình và Tòa án sơ thẩm Liên Bang. Ở cấp tiểu bang, hệ thống tòa án tiểu bang bao gồm Tòa án tối cao, Tòa phúc thẩm, Tòa án quận hạt và Tòa án sơ thẩm.

Án lệ trong hệ thống tòa án Australia lựa chọn nào cho Việt Nam trong việc phát triển án lệ ?

I. Bối cảnh

Trong hoạt động xét xử, án lệ được mô tả như là đặc trưng, nền tảng của hệ thống Tòa án của hệ thống thông luật nói chung, là xương sống của hệ thống Tòa án Australia và là cách thức để luật sư Australia sử dụng để giải quyết những vấn đề liên quan đến luật pháp nói riêng.

Những quan điểm ủng hộ học thuyết án lệ cho rằng tính nhất quán, tính ổn định và có thể dự đoán của án lệ là rất quan trọng cho việc duy trì sự độc lập của của hệ thống luật pháp và sự khách quan của hệ thống Tòa án của các nước theo hệ thống pháp luật thông luật (Common Law system) trong việc thực hiện chức năng xét xử.
Đối với Việt Nam, cụ thể hơn là trong hoạt động xét xử của Tòa án, án lệ chưa được chính thức thừa nhận như là một nguồn của pháp luật để có thể xác lập và áp dụng. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng trong thực tiễn xét xử của Tòa án, nếu nhìn nhận án lệ với hình thức là sự hướng dẫn áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao, thì án lệ đã và đang tồn tại và phát triển và có những đóng góp rất quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp, bảo đảm pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước. Vấn đề “phát triển án lệ” đã được xác định là một trong những nội dung định hướng cải cách tư pháp trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Hiện nay, việc triển khai thực hiện nội dung này đã có những bước phát triển mới khi Tòa án nhân dân tối cao đang tiến hành nghiên cứu học thuyết án lệ của các nước theo hệ thống pháp luật thông luật (Common Law system) và án lệ của các nước khác, các xu hướng phát triển của học thuyết án lệ trên thế giới, thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án Việt Nam dưới góc độ án lệ để từ đó đưa ra các phương hướng cách thức cụ thể để tiếp cận, rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt nam trong việc “phát triển án lệ”. Trong bối cảnh đó, để việc nghiên cứu án lệ của Tòa án nhân dân tối cao có thêm sự tham khảo, bài viết này cố gắng khái quát những nét cơ bản về án lệ của Tòa án các nước thuộc hệ thống pháp luật thông luật; việc xác lập, áp dụng án lệ của các Tòa án Australia; sự ảnh hưởng của hệ thống pháp luật của Vương quốc Anh đối với việc xác lập, áp dụng án lệ trong hệ thống Tòa án Australia và xu hướng phát triển của án lệ Australia. Từ đó, tác giả đưa ra một số nhận xét, đánh giá về việc triển khai thực hiện “phát triển án lệ” của Việt Nam theo định hướng tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị. Đồng thời, trên cơ sở so sánh thực tiễn xác lập, áp dụng nguyên tắc án lệ với tư cách là hoạt động hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án các nước theo hệ thống pháp luật thông luật nói chung, của Tòa án Australia nói riêng với thực tiễn hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án Việt Nam, tác giả tranh luận rằng việc xác lập, áp dụng án lệ đã và đang tồn tại và phát triển trong hoạt động xét xử của Tòa án Việt Nam.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

II. Một số nội dung về án lệ của Tòa án

1. Khái niệm

Như đã nói ở trên, không chỉ ở Australia, mà tại các nước thuộc hệ thống thông luật, hệ thống luật pháp đều được xác lập từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có một nguồn rất quan trọng là án lệ của hệ thống Tòa án. Đây là một đặc điểm quan trọng và là đặc trưng về nền tảng cơ bản của hệ thống thông luật. Trong hệ thống này, án lệ của Tòa án không chỉ đơn thuần là một ví dụ tốt mà nó còn có tính bắt buộc phải tuân theo và phải áp dụng đối với Tòa án. Nguyên tắc này thường được nhắc đến bằng một thuật ngữ Latinh “Stare Decisis”-được diễn giải một cách đơn giản là “tuân thủ các quyết định trước”. Cụ thể hơn, trên thực tế, nguyên tắc này được hiểu là khi xét xử một vụ việc nhất định, Tòa án phải tuân thủ và áp dụng phán quyết đã được ban hành trước đó nếu vụ án đang được xét xử có những tình tiết khách quan quan trọng tương tự như các tình tiết khách quan của vụ án đã được xét xử. Trong trường hợp này, nguyên tắc pháp luật đã được xác lập trong vụ án đã xét xử cũng được áp dụng để giải quyết vụ án đang được xét xử. Việc áp dụng phán quyết đã được ban hành trước đó cho việc xét xử các vụ án hiện tại và trong tương lai có tình tiết khách quan quan trọng tương tự như nhau được gọi là việc áp dụng án lệ.

2. Đặc điểm của án lệ

Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của án lệ là tính bắt buộc tuân thủ và áp dụng. Án lệ của Tòa án cấp cao nhất trong hệ thống Tòa án phải được các Tòa án cấp dưới áp dụng khi giải quyết các vụ án. Các Tòa án cấp dưới không được bỏ qua các án lệ của Tòa án cao nhất. Trong trường hợp Tòa án cấp dưới cho rằng một án lệ nào đó là không phù hợp với vụ án mà Tòa án này đang giải quyết thì Tòa án phải chứng minh sự khác nhau giữa các tình tiết khách quan quan trọng giữa án lệ và vụ án đang được giải quyết.
Tuy nhiên, cần chú ý khái niệm “phán quyết” khi nói đến việc Tòa án cấp dưới áp dụng phán quyết của Tòa án cấp cao nhất trong một hệ thống Tòa án để xét xử những vụ việc có tình tiết khách quan quan trọng tương tự như vụ án đã được Tòa án cấp cao nhất xét xử. Khái niệm “phán quyết” trong trường hợp nêu trên không dùng để chỉ toàn bộ những gì mà Thẩm phán quyết định trong vụ án. Tòa án cấp dưới chỉ tuân theo một phần phán quyết được gọi theo tiếng La tinh là “the ratio decidendi”- phần lý do mà dựa trên đó phán quyết giải quyết vụ án được đưa ra. Những lý do này được xác lập bởi đa số ý kiến đồng thuận của các thẩm phán sau khi đánh giá các tình tiết khách quan của vụ án. Cách thức tiếp cận án lệ này dẫn đến một kết quả là các ý kiến bảo lưu của các thẩm phán và các ý kiến khác mang tính tổng quát về một vấn đề chung của pháp luật có liên quan hoặc được bổ sung hoặc những vấn đề không quan trọng trong vụ án sẽ không phải là những thành phần của án lệ mang tính bắt buộc. Thành phần này được gọi theo tiếng Latinh là “the obiter dicta”-có nghĩa là tham khảo. Thành phần này trên thực tế có thể được các Tòa án cấp dưới tham khảo khi xét xử các vụ án.
Việc xác định án lệ bắt buộc-“the ratio decidendi” rất phức tạp trong trường hợp có nhiều thẩm phán mặc dù đồng ý với một phán quyết chung nhưng mỗi thẩm phán lại nêu ra các lý do khác nhau mà theo họ đó mới là cơ sở để xác lập nên phán quyết đó. Trên thực tế trong một bản án có thể có một hoặc nhiều thẩm phán cùng nhau đưa ra nhiều lý do khác nhau-những lý do mà theo họ là cơ sở để xác lập phán quyết giải quyết vụ án. Trong trường hợp này thì án lệ bắt buộc chính là các lý do được đa số thẩm phán thống nhất đưa ra làm cơ sở cho phán quyết giải quyết tranh chấp.
Bên cạnh đặc điểm áp dụng bắt buộc của án lệ thì các đặc điểm khác của án lệ được các Thẩm phán Tòa Liên bang Australia là Branson và Finkelstein trong vụ án Telstra Corporation kiện Treloar năm 2000, diễn giải cụ thể, bao gồm: tính ổn định, bảo đảm công bằng, hiệu quả và hiện diện của công lý. Theo giải thích của hai Thẩm phán này thì án lệ mang tính ổn định vì luật pháp có chức năng định hướng cho người dân một cách xử sự rõ ràng. Người dân được pháp luật cho phép xử sự trong một cách thức mà người dân chắc chắn rằng pháp luật sẽ được áp dụng cho người dân trong tương lai cũng giống như pháp luật đang được áp dụng với họ tại thời điểm hiện tại mà không có sự khác biệt. Đồng thời án lệ thúc đẩy sự công bằng trong hoạt động áp dụng pháp luật khi các vụ án có những tình tiết khách quan quan trọng của vụ án tương tự như nhau thì Tòa án sẽ đưa ra các phán quyết tương tự như nhau. Bên cạnh đó, án lệ mang lại hiệu quả tích cực cho hoạt động xét xử khi Tòa án cấp cao nhất đã đưa ra một cách giải quyết một vấn đề pháp lý thì những Tòa án cấp dưới không cần thiết phải lãng phí thời gian và nguồn lực để xem xét, đánh giá và đưa ra cách giải quyết với vấn đề pháp lý tương tự như vấn đề pháp lý đã được Tòa án cấp cao nhất giải quyết.

3. Các nguyên tắc áp dụng án lệ

Trong hoạt động xét xử, việc áp dụng án lệ không phải là một hoạt động kỹ thuật đơn thuần mà đều dựa trên một số nguyên tắc nhất định. Thông thường các Thẩm phán dựa vào những nguyên tắc sau đây để xác định một án lệ nào đó có phải là án lệ mà họ bắt buộc phải áp dụng để giải quyết vụ án mà họ đang xét xử hay không. Các nguyên tắc đó là: (i) Tòa án cấp thấp hơn bắt buộc tuân theo các phán quyết của các Tòa án cấp cao hơn trong cùng một hệ thống; (ii) Một Thẩm phán không bắt buộc phải tuân theo phán quyết của Thẩm phán khác trong cùng một cấp Tòa án và trong cùng một hệ thống Tòa án; (iii) Một Thẩm phán không bắt buộc phải tuân theo các phán quyết của Tòa án cấp cao hơn nhưng không cùng một hệ thống Tòa án, mặc dù những phán quyết đó có thể tham khảo; (iv) Tòa án cao nhất của một hệ thống Tòa án có thể hủy bỏ những phán quyết trước đây của chính Tòa án đó trong trường hợp để bảo lệ công lý hoặc phán quyết đó rõ ràng là sai; (v) chỉ một phần của phán quyết được gọi theo thuật ngữ Latinh là ratio decidendi-tức là các lý do làm cơ sở xác lập phán quyết mới có hiệu lực bắt buộc áp dụng; (vi) các ý kiến khác mang tính tổng quát về một vấn đề chung của pháp luật có liên quan hoặc được bổ sung hoặc những vấn đề không quan trọng trong vụ án được gọi theo thuật ngữ Latin là obiter dicta không mang tính bắt buộc áp dụng nhưng có thể tham khảo khi giải quyết vụ án.

4. Mối quan hệ giữa án lệ và các đạo luật do Quốc hội ban hành

Án lệ và các đạo luật do Quốc hội ban hành có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo nguyên tắc các đạo luật luôn có giá trị pháp lý cao hơn án lệ. Nguyên tắc này là biểu hiện trên thực tế của nguyên tắc giám sát tối thượng của Quốc hội đối với hoạt động của Tòa án mà nếu xét về nguồn gốc lịch sử thì nguyên tắc này vốn là kết quả của sự giải quyết mâu thuẫn về quyền lực giữa Vua nước Anh, Stuart, hệ thống Tòa án và Quốc hội vào thế kỷ thứ 17. Nguyên tắc này luôn là cánh cửa mở cho Quốc hội thực hiện việc thay đổi các nguyên tắc pháp luật được xác lập bởi án lệ bằng việc ban hành các đạo luật hoặc đưa ra cách giải thích về một hoặc một số quy định của pháp luật. Trong khi đó, hệ thống Tòa án có trách nhiệm giải quyết các tranh cãi pháp lý về các định nghĩa, khái niệm trong các quy định của các đạo luật bằng việc sử dụng án lệ và Luật về giải thích nghĩa của từ, ngữ trong các đạo luật-một đạo luật được ban hành nhằm chuẩn hóa cách thức giải thích nội dung từ, ngữ trong các đạo luật. Đồng thời, bằng việc giải thích các từ ngữ của các đạo luật, Tòa án bảo đảm rằng cơ quan lập pháp cần phải tuân thủ các quy định của Hiến pháp về các thủ tục, trình tự ban hành các đạo luật.

III. Xác lập, áp dụng án lệ ở Tòa án Australia

Như đã nói ở trên, án lệ được xác lập bởi các tòa án: Tòa án tối cao Liên Bang, Tòa án Liên Bang, Tòa án tối cao tiểu bang và Tòa phúc thẩm của tiểu bang. Sau đây là một số ví dụ về việc xác lập án lệ của Tòa án tối cao Liên Bang, Tòa án tối cao bang Victoria, áp dụng án lệ của Tòa phúc thẩm bang New South Wales.

1. Xác lập án lệ tại Tòa án tối cao Liên bang

Thông thường Tòa án tối cao Liên bang xác lập án lệ thông qua các phán quyết phúc thẩm các kháng cáo các phán quyết của Tòa án Liên Bang, Tòa án tối cao tiểu bang. Sau đây là một ví dụ mà Tòa án tối cao Liên Bang xác lập một án lệ thông qua việc xét xử phúc thẩm kháng cáo đối với phán quyết của Tòa án tối cao bang Victoria trong vụ án Dow Jones v Gutnick. Vụ án này có thể tóm tắt như sau:
Bị đơn kháng cáo là Dow Jones-nhà xuất bản của Thời báo Phố Wall (Wall Street Journal) và một tạp chí xuất bản định kỳ có tên là Tạp chí Barrons (Barrons Magazine). Tạp chí này được xuất bản trực tuyến và đăng ký hoạt động tại bang New Jersey, Mỹ, nơi có máy chủ mà trang web của tạp chí này được đặt trên đó. Tạp chí Barrons cung cấp cho khoảng 550 nghìn khách hàng, bao gồm một số khách hàng cư trú tại tiểu bang Victoria, Australia, có đăng ký mua các bài viết online của tạp chí. Các bài viết trên tạp chí không được đăng tải trên trang web của tạp chí theo cách thức bất kỳ ai cũng có thể xem được, đọc được. Chỉ có những khách hàng trả tiền mua bài viết mới được tạp chí cung cấp tên và mật mã đăng nhập để xem, đọc, lưu trữ bài viết. Nguyên đơn không kháng cáo là Joe Gutnick, một doanh nhân Australia cư trú tại bang Victoria, Australia. Nguyên đơn là một doanh nhân thành đạt có tiếng trong kinh doanh, làm từ thiện và cả trong lĩnh vực tôn giáo. Hoạt động kinh doanh của nguyên đơn chủ yếu liên quan với Mỹ. Ngày 29/10/2000, tạp chí Barron đăng một bài báo có tựa đề “Unholy Gains” kèm ảnh chụp nguyên đơn. Nguyên đơn đã khởi kiện bị đơn tại Tòa án tối cao tiểu bang Victoria vì cho rằng bị đơn đã xúc phạm danh dự nhân phẩm của nguyên đơn. Cụ thể bài báo nói trên đã cáo buộc nguyên đơn là khách hàng thường xuyên của một tên tội phạm nổi tiếng tên là Nachum Goldberg đang bị giam giữ về tội rửa tiền và trốn thuế tại Mỹ. Bài báo còn cho rằng nguyên đơn đã giả vờ là một công dân đáng kính trong khi thực sự là một tên tội phạm trốn thuế và nguyên đơn đã rửa một khoản tiền lớn thông qua Nachum Goldberg và nguyên đơn đã mua sự im lặng của tên tội phạm này.
Bị đơn đã khiếu nại hai vấn đề lên Tòa án tối cao Liên Bang: (i) nơi xuất bản bài báo mà nguyên đơn cho rằng đã xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của nguyên đơn và (ii) thẩm quyền xét xử của Tòa án tối cao bang Victoria đối với vụ kiện của nguyên đơn. Về nội dung thứ nhất liên quan đến nơi xuất bản bài báo, bị đơn cho rằng bài báo được xuất bản tại bang New Jersey khi bài báo được đưa lên máy chủ nơi trang web của tạp chí Barron được lưu trữ. Đối với vấn đề thứ hai là thẩm quyền xét xử, bị đơn cho rằng Tòa án tối cao tiểu bang Victoria, Australia không có thẩm quyền xét xử vụ án vì bài báo được xuất bản tại Mỹ. Theo Luật về bồi thường thiệt hại do danh dự nhân phẩm bị xúc phạm thì việc xúc phạm xảy ra ở đâu, luật ở đó sẽ được áp dụng. Việc xúc phạm nguyên đơn xảy ra ở New Jersey, Mỹ thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án New Jersey, Mỹ chứ không phải là Tòa án tối cao bang Victoria.
Nguyên đơn phản bác rằng việc bị đơn đưa bài viết lên máy chủ của tạp chí và làm cho bài viết có thể tải về không phải là hành vi xuất bản. Hành vi xuất bản của bài viết chỉ được xác lập khi và chỉ khi bài viết được tải về và hiển thị lên trên máy tính của người đọc và người tải về đã đọc nó. Như vậy bài viết được coi là xuất bản ở Australia chỉ khi khách hàng ở Australia đã tải được bài viết và họ đã đọc được những lời xúc phạm nguyên đơn từ bài viết.
Bị đơn phản bác ý kiến của nguyên đơn và cho rằng bị đơn không xuất bản bài báo ở bang Victoria, Australia. Hành vi tải bài báo từ máy chủ về không phải là hành vi xuất bản. Sẽ là không công bằng cho bị đơn nếu người đọc từ các nước khác nhau tải bài báo về để đọc mà việc tải đó lại được cho là hành vi xuất bản. Như vậy, bị đơn sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị kiện ở rất nhiều nơi khác nhau.
Tòa án tối cao tiểu bang Victoria do Thẩm Phán Hedigan chủ tọa đã phán quyết về hai vấn đề trên như sau:
Thứ nhất, về nơi xuất bản ấn phẩm xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác.
Tòa kết luận rằng pháp luật về xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác trong nhiều thế kỷ đã khẳng định việc xuất bản ấn phẩm xúc phạm đến người khác xảy ra khi và tại địa điểm mà các nội dung của ấn phẩm được nói ra, được thấy, được nghe và được người đọc, người nghe hiểu nội dung đó. Ấn phẩm xuất bản thông qua phương thức Internet được coi là xuất bản khi ấn phẩm đó được tải về và người tải về có thể đọc được, nghe được, và nhìn thấy được. Tòa cũng xác định rằng một người bị xúc phạm danh dự nhân phẩm tại nơi thực hiện xuất bản ấn phẩm có nội dung xúc phạm tới người đó. Nguyên đơn là người Australia, sinh sống tại Melbourne, bang Victoria, nơi mà nguyên đơn được nhiều người biết đến nhất. Nơi nguyên đơn sinh sống đồng thời cũng là nơi có khách hàng tải bài báo xúc phạm về để đọc. Do đó, khi bài báo đã được đọc tại nơi nguyên đơn sinh sống có nghĩa là danh dự nhân phẩm của nguyên đơn bị tổn hại tại chính nơi này.
Thứ hai, về thẩm quyền xét xử của Tòa án tối cao bang Victoria khi bị đơn không cư trú tại bang Victoria, Australia. Tòa án phán quyết rằng theo Lệnh số 7 của Tòa án tối cao bang Victoria thì Tòa án này có thẩm quyền xét xử các vụ án xâm phạm danh dự nhân phẩm kể cả trường hợp bị đơn không cư trú nơi Tòa án có thẩm quyền (ngoài lãnh thổ Australia). Trong trường hợp này, nguyên đơn đã thực hiện việc khởi kiện nơi nguyên đơn bị xâm phạm danh dự nhân phẩm là bang Victoria. Nguyên đơn đồng thời từ bỏ không khởi kiện bị đơn tại bất kỳ nơi nào khác, kể cả tại Mỹ. Do đó, Tòa án tối cao của bang Victoria có thẩm quyền xét xử.
Bị đơn đã làm đơn xin kháng cáo lên Tòa phúc thẩm của Tòa án tối cao bang Victoria nhưng đã bị Tòa này từ chối vì cho rằng phán quyết của Thẩm phán Hedigan là chính xác, không có cơ sở chấp nhận cho bị đơn kháng cáo. Bị đơn tiếp tục kháng cáo lên Tòa án tối cao Liên bang với hai khiếu nại như trên về nơi xuất bản và thẩm quyền xét xử của Tòa án tối cao bang Victoria. Tòa án tối cao Liên Bang với Hội đồng xét xử gồm 7 Thẩm phán đã bác nội dung kháng cáo của bị đơn và phán định rằng những phán quyết của Tòa án tối cao bang Victoria về nơi xuất bản ấn phẩm xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác và thẩm quyền xét xử của Tòa án tối cao bang Victoria đối với yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn chính xác. Như vậy, khi Tòa án tối cao Liên bang phán quyết chấp nhận những lý do mà Tòa án tối cao tiểu bang Victoria, Australia đưa ra về thời gian và địa điểm xảy ra việc xúc phạm danh dự nhân phẩm và thẩm quyền xét xử của Tòa án này đối với vụ kiện giữa nguyên đơn Gutnick với nhà xuất bản Dow Jones thì phán quyết đó (hay còn gọi là án lệ) có hiệu lực bắt buộc tuân thủ và áp dụng đối với Tòa án Liên Bang, các Tòa án tối cao tiểu bang và vùng lãnh thổ khi các tòa án này xét xử các vụ án có những tình tiết khách quan quan trọng tương tự như vụ án này.

2. Xác lập án lệ tại Tòa án tối cao của tiểu bang và vùng lãnh thổ; áp dụng án lệ tại Tòa phúc thẩm của tiểu bang và vùng lãnh thổ

Tại tiểu bang và vùng lãnh thổ thì việc xác lập án lệ được thực hiện bởi Tòa án tối cao của tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ đó. Khi án lệ được xác lập thì các tòa án phúc thẩm, Tòa án quận hạt của tiểu bang và vùng lãnh thổ đều phải tuân thủ áp dụng khi xét xử các vụ án có tranh chấp về những nội dung pháp lý tương tự như vụ án đã được xét xử. Sau đây là một ví dụ về việc xác lập án lệ, áp dụng án lệ trong một số vụ án hình sự liên quan đến việc nạo thai. Theo quy định tại các điều 82, 83 và 84 của Luật hình sự năm 1900 của bang New South Wales và Điều 65 và Điều 66 của Luật hình sự năm 1958 của Bang Victoria thì hành vi nạo thai bất hợp pháp và hành vi cung cấp các dụng cụ, thuốc hoặc chất độc để dùng trong việc nạo thai là hành vi phạm tội. Tại bang Victoria, Australia trong vụ án R kiện Davidson năm 1969, bị cáo Davidson nguyên là một bác sỹ, bị buộc tội đã có hành vi nạo thai bất hợp pháp. Tuy nhiên, Thẩm phán Menhennitt của Tòa án tối cao bang Victoria đã bác bỏ lời kết tội đối với Davidson. Thẩm phán Menhennitt cho rằng Luật hình sự năm 1958 không định nghĩa thế nào là “bất hợp pháp” tại các điều luật 65 và 66 và khi điều luật quy định nghiêm cấm các hành vi nạo thai “bất hợp pháp” thì cũng có nghĩa rằng có những hành vi “nạo thai hợp pháp” mà luật cho phép. Đồng thời Thẩm phán này cũng cho rằng có thể định nghĩa hành vi nạo thai “bất hợp pháp” bằng cách xác định thế nào là hành vi nạo thai “hợp pháp”. Để xác định hành vi nạo thai “hợp pháp” Thẩm phán Menhennitt đã viện dẫn một phán quyết của Anh quốc trong vụ kiện R kiện Bourne năm 1939. Trong vụ án R kiện Bourne, bị cáo-bác sỹ Bourne đã bị buộc tội nạo thai trái phép cho một bé gái 14 tuổi mang thai do bị hãm hiếp. Tuy nhiên, do quy định của Luật hình sự của Anh nghiêm cấm việc “nạo thai bất hợp pháp” mà cũng không định nghĩa thế nào là “bất hợp pháp” cho nên khi xét xử, Thẩm phán Macnaughten cho rằng, trong một số trường hợp “bác sỹ nạo thai là hợp pháp”. Thẩm phán này đã viện dẫn Luật về hủy bỏ trẻ sơ sinh năm 1929 của Anh quốc có quy định một trường hợp việc hủy bỏ trẻ sơ sinh (nạo thai) là hợp pháp nếu được thực hiện để bảo vệ sự sống của bà mẹ. Dựa trên cơ sở quy định đó, Tòa án của Anh quốc đã phán quyết rằng bị cáo-bác sỹ Bourne đã tiến hành nạo thai hợp pháp cho khách hàng vì bác sỹ đó có lý do hợp lý, với một hiểu biết đúng đắn để tin tưởng rằng việc nạo thai là cần thiết nhằm bảo vệ thể chất hoặc tinh thần của bà mẹ mang thai trước mối đe dọa nguy hiểm đến tính mạng của bà mẹ đó nếu tiếp tục giữ thai nhi. Do đó, hành vi thực hiện nạo thai của bị cáo-bác sỹ Bourne là hành vi nạo thai hợp pháp. Dựa trên phán quyết này, Thẩm phán Menhennitt đã phán quyết rằng hành vi nạo thai của bác sỹ Davidson là hành vi hợp pháp với lý do tương tự nêu trong phán quyết củavụ án R kiện Bourne của Tòa án Anh Quốc. Phán quyết của Thẩm phán Menhennitt xác định 2 điều kiện để hành vi nạo thai là hợp pháp: (i) Bác sỹ tiến hành nạo thai tin tưởng trung thực một cách có cơ sở hợp lý rằng việc đó là cần thiết để duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần cho bà mẹ và (ii) việc nạo thai đó được tiến hành trong những trường hợp mà rủi ro của việc tiến hành nạo thai không lớn hơn hậu quả của việc vẫn giữ thai nhi mang lại. Năm 1971, Thẩm phán Levine trong vụ án R kiện Wald tại Tòa án quận hạt của bang New South Wales cũng đã áp dụng và đã phát triển thêm nội hàm của phán quyết của vụ án R kiện Davidson của Tòa án tối cao bang Victoria. Thẩm phán Levine cho rằng cần quan tâm đến những đe dọa nguy hiểm từ các khía cạnh kinh tế, xã hội hoặc các lý do khác tại thời điểm bà mẹ mang thai để bồi thẩm đoàn quyết định rằng việc nạo thai là cần thiết hoặc không cần thiết để duy trì sức khỏe của bà mẹ mang thai trước mối đe dọa nguy hiểm đến tính mạng của bà mẹ mang thai nếu tiếp tục giữ thai nhi. Những đe dọa đến tính mạng của bà mẹ mang thai có thể xảy ra tại thời điểm bác sỹ khám thai hoặc xảy ra tại bất kỳ một thời điểm nào trong cả quá trình mang thai nếu bà mẹ vẫn giữ thai nhi. Phán quyết của vụ án R kiện Davidson Tòa án tối cao bang Victoria đã được áp dụng trong các vụ kiện CES v SuperClinics năm 1995 tại Tòa phúc thẩm của bang New South Wales và vụ kiện R v Sood năm 2006 tại Tòa án tối cao bang New South Wales. Trong vụ kiện CES v SuperClinics năm 1995, Thẩm phán Kirby của Tòa phúc thẩm của Tòa án tối cao bang New South Wales phán quyết rằng bác sỹ phụ sản cần quan tâm đến những đe dọa đến tính mạng của bà mẹ mang thai có thể xảy ra sau khi mang thai và trong quá trình mang thai. Do những phán quyết trên của Tòa án nên hiện nay việc nạo thai được thực hiện bởi những bác sỹ sản khoa có uy tín là khá phổ biến và quy định hành vi nạo phá thai là tội phạm được coi là không còn hiệu lực áp dụng khi trên thực tế không hề có một vụ nạo thai nào bị truy tố thêm tính từ khi có các phán quyết nói trên ở hai bang New South Wales và Victoria của Australia. Trên thực tế, sau các phán quyết nói trên đến trước năm 2008, Quốc hội của hai bang này không tiến hành sửa đổi quy định của Luật hình sự về hành vi nạo phá thai. Tuy nhiên, năm 2008, Quốc hội bang Victoria đã ban hành Luật cải cách về nạo thai. Luật này đã hợp pháp hóa việc nạo thai trong các trường hợp sau: (i) việc nạo thai do bác sỹ sản khoa có đăng ký hành nghề tiến hành đối với những phụ nữ mang thai mà thai kỳ thai nhi chưa vượt quá tuần thứ hai mươi bốn; (ii) việc nạo thai do bác sỹ sản khoa có đăng ký hành nghề tiến hành đối với những phụ nữ mang thai mà thai kỳ thai nhi vượt quá tuần thứ hai mươi bốn nếu có lý do để tin tưởng rằng việc nạo thai là đúng đắn trong mọi trường hợp và bác sỹ này ít nhất cũng đã được một bác sỹ sản khoa khác có đăng ký hành nghề tư vấn rằng họ cũng có lý do để tin tưởng việc nạo thai đó là đúng trong mọi trường hợp.
Từ những ví dụ trên, có thể thấy rằng các phán quyết của Tòa án đã giải quyết được “khoảng trống” của pháp luật bằng việc đưa ra phán quyết định nghĩa một hoặc một số khái niệm cụ thể của quy định của đạo luật mà Tòa án áp dụng để giải quyết một vụ án cụ thể. Phán quyết đó giải quyết một vấn đề pháp lý cụ thể liên quan đến việc áp dụng hoặc giải thích các nguyên tắc pháp luật hoặc một điều luật cụ thể. Phán quyết đó được gọi là án lệ để các Tòa án cấp thấp hơn tuân theo và áp dụng khi giải quyết những vụ án có tình tiết khách quan tương tự. Trong các ví dụ nêu trên, phán quyết của Tòa án khi trở thành án lệ còn có ý nghĩa thúc đẩy Quốc hội xây dựng, ban hành các văn bản luật điều chỉnh những vấn đề mà án lệ đã giải quyết.

3. Áp dụng án lệ tại Tòa án cấp sơ thẩm của tiểu bang và vùng lãnh thổ

Có thể nói rằng Tòa án cấp sơ thẩm ít khi được toàn quyền quyết định việc áp dụng luật pháp để giải quyết các vụ việc. Thông thường việc áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm đề giải quyết các vụ việc là áp dụng án lệ của các Tòa án cao nhất-Tòa án tối cao của tiểu bang hoặc Tòa phúc thẩm của tiểu bang cũng như Tòa án Liên Bang và Tòa án tối cao Liên Bang. Giả định rằng, Tòa án tối cao của tiểu bang hoặc Tòa phúc thẩm của tiểu bang đã ra phán quyết về một vấn đề pháp lý trong một vụ án cụ thể. Sau đó, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết một vụ án mà có vấn đề về pháp lý tương tự như vụ án mà Tòa án tối cao của tiểu bang hoặc Tòa phúc thẩm của tiểu bang giải quyết. Trong trường hợp này thì Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cách giải quyết về vấn đề pháp lý đó của Tòa án tối cao của tiểu bang hoặc Tòa phúc thẩm của tiểu bang. Ví dụ sau có thể làm rõ cách thức áp dụng án lệ của Tòa án cấp sơ thẩm. Giả định rằng Quốc Hội tiểu bang New South Wales ban hành một đạo luật nghiêm cấm các hành vi không lành mạnh nơi công cộng. Đạo luật này có điều luật X quy định như sau: “bất kỳ người nào có hành vi không lành mạnh ở nơi công cộng thì bị coi là phạm tội. Người vi phạm bị phạt tiền 500 Đồng Australia. Tuy nhiên, Đạo Luật này không có điều khoản nào giải thích thế nào là “hành vi không lành mạnh”. Trong một vụ án, cảnh sát đã bắt giữ một thanh niên tên là A có hành vi nhảy múa trên đường phố vào lúc 2 giờ sáng. Lý do bắt giữ là thanh niên này đã phạm tội quy định tại điều X của Đạo Luật nói trên. Vụ án sau nhiều lần xét xử đã được xem xét ở Tòa án tối cao bang New South Wales. Tòa án Tòa án tối cao bang New South Wales đã phán quyết rằng hành vi nhảy múa của bị cáo A vào lúc hai giờ sáng trên đường phố không phải là hành vi không lành mạnh. Phán quyết này của Tòa án tối cao bang New South Wales có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối với các tòa án sơ thẩm và tòa án quận hạt của tiểu bang New South Wales. Sau phán quyết này, Tòa án sơ thẩm vùng Bankstown của thành phố Sydney thuộc tiểu bang New South Wales xét xử một vụ án mà bị cáo B bị bắt giữ vì có hành vi không lành mạnh là nhảy múa ở vỉa hè một con phố vào lúc 2 giờ sáng. Tòa án sơ thẩm vùng Bankstown thấy rằng tình tiết vụ án này tương tự như tình tiết vụ án mà Tòa án tối cao bang New South Wales đã phán quyết như đã nói ở trên. Trong vụ án này, bị cáo cũng viện dẫn phán quyết của Tòa án tối cao của Bang để chứng minh hành vi của bị cáo là lành mạnh. Tuy nhiên, phía cảnh sát cho rằng phán quyết của Tòa án tối cao của Bang không được áp dụng vào vụ án này bởi lẽ trong vụ án của Tòa án tối cao của Bang, bị cáo A nhảy múa “ở giữa phố”; còn bị cáo B trong vụ án này lại nhảy múa trên vỉa hè. Tòa án sơ thẩm vùng Bankstown phán quyết rằng hành vi nhảy múa của bị cáo B trên vỉa hè không phải là “hành vi không lành mạnh” với dẫn chiếu phán quyết của Tòa án tối cao bang New South Wales với bị cáo A. Tòa lý giải thêm vỉa hè của phố mà bị cáo có hành vi nhảy múa là một phần gắn liền với phố đó. Do đó, án lệ của Tòa án tối cao của Bang được áp dụng để giải quyết.
Từ ví dụ này, có thể thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm khi giải quyết vụ việc, chỉ cần tuân thủ và áp dụng những án lệ đã có từ trước, nếu tình tiết hai vụ án có nhiều tình tiết quan trọng tương tự như nhau. Tuy nhiên, công bằng mà nói đây chỉ là ví dụ đơn giản nhất để giúp người đọc có thể hiểu một cách cơ bản về việc áp dụng án lệ. Trên thực tế, việc áp dụng án lệ rất phức tạp và khó khăn và phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định. Việc áp dụng án lệ khó khăn hơn khi phải phân tích, đánh giá tại sao một án lệ cụ thể nào đó không được áp dụng vào vụ việc đang được giải quyết hoặc chưa có án lệ cho vụ việc đó. Trên thực tế, một phán quyết hiện tại của Tòa án có thể là án lệ hoặc có thể không. Sự khác biệt này chỉ có thể tồn tại khi có cách thức xác định án lệ-cách thức cho thấy những sự kiện, tình tiết trong quá khứ là tương tự với những sự kiện, tình tiết hiện tại. Khi đánh giá hiệu lực của án lệ hiện tại trong tương lai, chúng ta thường dự đoán trước rằng sẽ có những dữ kiện tương lai tương tự như những dữ kiện của án lệ hiện tại. Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng không có các sự kiện hoàn toàn giống nhau. Điều kiện để một phán quyết của Tòa án trở thành một án lệ không đòi hỏi rằng các tình tiết khách quan của vụ án được giải quyết trước và của vụ án được giải quyết sau là hoàn toàn tuyệt đối giống nhau. Với cách tiếp cận như vậy thì tính liên quan của một án lệ của vụ án trước đối với vụ án sau phụ thuộc vào cách xác định các tình tiết khách quan của hai vụ án này, theo đó chỉ cần xác định những tính tiết nào tương tự như nhau mà quan trọng, còn những tình tiết khác thì có thể bỏ qua. Vì vậy, cần hiểu rằng việc áp dụng án lệ không phải là một việc làm đơn thuần mang tính kỹ thuật là tìm kiếm một vụ án giống hoặc tương tự một vụ án khác.
Trong trường hợp chưa có án lệ của tiểu bang, Liên Bang thì Thẩm phán có thể dẫn chiếu án lệ của Tòa án tối cao, Tòa phúc thẩm của tiểu bang khác với điều kiện án lệ đó có tính “tham khảo rất cao”.Nghĩa là vụ án đang giải quyết và vụ án có án lệ được dẫn chiếu có nhiều tình tiết quan trọng tương tự như nhau và vấn đề pháp lý cần được giải quyết trong hai vụ án là giống nhau. Về mặt lý thuyết thì có thể Tòa án sơ thẩm tiểu bang sẽ đối mặt với những vụ án mà cách thức giải quyết vụ án đó chưa có án lệ của Tòa án tiểu bang, Liên Bang hoặc luật của Quốc hội tiểu bang điều chỉnh. Trong trường hợp này, thì Thẩm phán rất ngại ngần đưa ra phán quyết có giá trị như án lệ, bởi lẽ theo học thuyết án lệ thì chỉ những Tòa án tối cao của tiểu bang, Tòa án phúc thẩm của tiểu bang, Tòa án Liên Bang và Tòa án tối cao Liên Bang mới có thẩm quyền xác lập án lệ. Tuy nhiên, trên thực tế Tòa án sơ thẩm tiểu bang ít khi gặp phải những vụ việc này.

IV. Án lệ trong hệ thống Tòa án Australia

Phần này sẽ giới thiệu, phân tích, đánh giá sự ảnh hưởng của nước Anh trong việc xác lập, áp dụng án lệ của Australia; án lệ trong hệ thống Tòa án Liên Bang và hệ thống Tòa án tiểu bang của Australia.

1. Hội đồng cơ mật của Vương quốc Anh

Đối với Australia, sự thay đổi quan trọng nhất trong việc áp dụng án lệ trong vòng 30 năm qua là sự thay đổi mà theo đó Tòa án tối cao Liên Bang Australia có thẩm quyền giải quyết các tranh cãi về áp dụng pháp luật, án lệ. Cho đến những thập niên 70 và 80 của thế kỷ 20 thì Ủy Ban Tư Pháp của Hội đồng Cơ Mật của Vương quốc Anh vẫn được xem là Tòa án cao nhất xem xét giải quyết các các tranh cãi về áp dụng pháp luật, án lệ trong tất cả các lĩnh vực luật pháp của Australia. Trong một thời gian khá dài, tất cả các quyết định của Ủy ban Tư pháp của Hội đồng Cơ Mật liên quan đến bất kỳ nguyên tắc cơ bản của pháp luật được xác lập trong các phán quyết của Tòa án đều có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các tòa án, kể cả Tòa án Liên Bang, các tòa án tiểu Bang và vùng lãnh thổ của Australia. Tuy nhiên theo thời gian, việc kháng cáo lên Ủy ban Tư Pháp đã bị hạn chế bằng việc Quốc hội Liên Bang ban hành một số đạo luật như Đạo Luật hạn chế phúc thẩm năm 1968, theo đó Luật này sẽ hạn chế việc kháng cáo yêu cầu Ủy ban Tư Pháp của Hội đồng Cơ Mật giải quyết đối với các phán quyết của Tòa án Liên Bang và Tòa án tối cao của tiểu bang và vùng lãnh thổ; Đạo Luật hạn chế phúc thẩm năm 1975, nhằm hạn chế việc kháng cáo yêu cầu Ủy ban Tư Pháp của Hội đồng Cơ Mật giải quyết đối với các phán quyết của Tòa án tối cao Liên Bang. Cuối cùng, vai trò của Ủy ban Tư Pháp của Hội đồng Cơ Mật đối với hệ thống Tòa án Australia bị chấm dứt khi Quốc hội Liên Bang Australia ban hành đạo luật Australia Act năm 1985. Vai trò của Hội đồng Cơ Mật đối với Tòa án Australia đã thay đổi xuất phát từ việc Vương quốc Anh là thành viên của Ủy Ban Châu Âu và Liên Minh Châu Âu và sự gia tăng ảnh hưởng của luật pháp của Liên Minh Châu Âu đối với sự phát triển luật pháp của Vương quốc Anh. Kết quả của sự thay đổi này là sự giảm thiểu vai trò án lệ của Vương quốc Anh đối với sự phát triển của luật pháp Australia trong tương lai. Sự giảm thiểu này có thể thấy thông qua việc Tòa án tối cao Liên Bang Australia và các tòa án khác của Australia ngày càng ít sử dụng án lệ của Vương quốc Anh. Hiện nay, sự phát triển của luật pháp của Australia chủ yếu dựa trên các quyết định của Quốc hội, Tòa án và sự giải thích, áp dụng và phát triển của án lệ của Australia với vai trò không thể tranh cãi của Tòa án tối cao Liên Bang Australia như là nguồn chính của pháp luật có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối với toàn bộ hệ thống Tòa án Australia.

2. Án lệ trong hệ thống Tòa án cấp Liên Bang

a. Tòa án tối cao Liên Bang

Tòa án tối cao Liên Bang là tòa án cao nhất trong hệ thống Tòa án của Australia. Tòa án tối cao Liên Bang được thành lập năm 1901 trên cơ sở quy định tại Điều 71 của Hiến pháp Australia. Tòa án tối cao Liên Bang có chức năng giải thích và áp dụng pháp luật của Australia; xét xử các vụ án đặc biệt thuộc thẩm quyền liên bang bao gồm các vụ án liên quan đến hiệu lực pháp luật của một đạo luật cụ thể và liên quan đến cách giải thích Hiến pháp; xét xử phúc thẩm các vụ án từ Tòa án Liên Bang, Tòa án tiểu bang và vùng lãnh thổ; xét xử sơ thẩm một số vụ án khác. Tòa án tối cao Liên Bang là Tòa án xét kháng cáo phúc thẩm cuối cùng của hệ thống tòa án của Australia. Quyết định phúc thẩm của Tòa án tối cao Liên Bang là quyết định cuối cùng và có tính bắt buộc tuân thủ đối với các Tòa án Liên Bang, các Tòa án của tiểu bang. Tòa án tối cao Liên Bang có thẩm quyền hủy bỏ tất cả các phán quyết của Tòa án Liên Bang, các Tòa án của tiểu bang cũng như có thể hủy bỏ án lệ của chính nó trong một số trường hợp đặc biệt.
Thực tiễn xét xử tại Tòa án tối cao Liên Bang cho thấy khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán không bắt buộc phải tuân thủ và áp dụng án lệ được xác lập bởi Thẩm phán Tòa án tối cao Liên Bang trong các phán quyết trước đó. Tuy nhiên, Thẩm phán này phải tuân thủ án lệ phúc thẩm do “Full Court” của Tòa án tối cao Liên Bang xác lập. “Full Court” là một Tòa án của Tòa án tối cao Liên Bang mà khi xét xử thì phải có từ hai Thẩm phán trở lên thực hiện. Trên thực tế, khi xét xử “Full Court” của Tòa án tối cao Liên Bang không bắt buộc tuân thủ và áp dụng các án lệ của chính nó đã được xác lập trong các phán quyết trước. Như đã nói ở trên, Tòa án tối cao Liên Bang có thể hủy bỏ án lệ do chính Tòa án này xác lập từ trước. Tuy nhiên, việc hủy bỏ án lệ không thể tiến hành bằng một Thẩm phán. Nói cách khác việc hủy bỏ án lệ chỉ có thể tiến hành bởi Hội đồng xét xử có ít nhất hai Thẩm phán trở lên. Trong trường hợp này, các Thẩm phán thường gọi những án lệ bị hủy bỏ là “sai lầm cơ bản”, “rõ ràng là sai” để nhấn mạnh tính ngoại lệ của việc hủy bỏ đó. Tòa án tối cao Liên Bang tuyên bố rằng việc hủy bỏ án lệ chỉ được áp dụng trong một số trường hợp đặc biệt và được tiến hành một cách cẩn trọng. Việc Tòa án tối cao Liên Bang hủy bỏ án lệ của chính Tòa án này không được tiến hành thường xuyên mà chỉ diễn ra trong một số trường hợp đặc biệt. Trên thực tế, Tòa án tối cao Liên Bang không đặt ra bất kỳ một quy tắc chung cho việc tiến hành hủy bỏ án lệ nhưng tại vụ án Commonwealth v. Hospital Contribution Fund năm 1982, Chánh án Tòa án tối cao Liên Bang Gibbs với 2 Thẩm phán tối cao Liên Bang khác là Stephen và Aickin cùng thống nhất cho rằng có 4 lý do để một án lệ bị hủy bỏ. Các lý do cụ thể đó là: (i) án lệ đó đã dựa trên một nguyên tắc pháp lý mà nguyên tắc này đã không được đánh giá cẩn thận, đầy đủ trong quá trình xét xử vụ án này; (ii) Sự khác nhau giữa những lý do mà các Thẩm phán đưa ra về việc giải quyết vấn đề pháp lý của vụ án; (iii) án lệ đã không mang lại một sự thuận tiện trong việc tuân thủ và áp dụng; (iv) án lệ đã không thể hiện được sự độc lập trong quá trình xem xét lại chính án lệ này.
Bên cạnh đó, việc hủy bỏ án lệ có thể tiến hành khi Quốc hội ban hành luật liên quan đến các nguyên tắc pháp lý, cách giải thích một điều luật được xác lập bởi án lệ. Tuy nhiên, đối với án lệ liên quan đến Hiến pháp thì không thể bị hủy bỏ bởi việc ban hành luật của Quốc hội. Những án lệ này có thể bị hủy bỏ, sửa đổi hoặc diễn giải theo nhiều các nhau trong tương lai khi Hiến pháp được sửa đổi.

b. Tòa án Liên Bang

Tòa án Liên Bang được thành lập trên cơ sở Đạo luật về Tòa án Liên Bang được ban hành năm 1976. Tòa án Liên Bang bắt đầu hoạt động từ ngày 01 tháng 2 năm 1977. Thẩm quyền xét xử của Tòa án Liên Bang được xác lập từ một phần thẩm quyền xét xử vốn là của các Tòa án như Tòa án tối cao Liên Bang, Tòa án sở hữu công nghiệp Liên Bang và Tòa phá sản Liên Bang. Thẩm quyền xét xử của Tòa án Liên Bang đối với các vụ việc được ghi nhận tại hơn 150 đạo luật khác nhau do Quốc hội Liên Bang thông qua. Tòa án Liên Bang có nhiều phân tòa khác nhau thực hiện việc xét xử phúc thẩm. Các phân tòa này có thể phúc thẩm các vụ án do một Thẩm phán Tòa án Liên Bang xét xử sơ thẩm và các vụ án không liên quan đến gia đình do Tòa án sơ thẩm Liên Bang xét xử sơ thẩm.
Các vụ án do Tòa án Liên Bang có thẩm quyền xét xử sẽ do một Thẩm phán hoặc do “Full Court” tiến hành. “Full Court” là một Tòa án của Tòa án Liên Bang mà khi xét xử thì có 3 Thẩm phán hoặc 5 Thẩm phán tham gia. Khi việc xét xử do một Thẩm phán tiến hành thì Thẩm phán đó phải tuân thủ và áp dụng án lệ của “Full Court” của Tòa án Liên Bang. Tuy nhiên, khi xét xử, một Thẩm phán của Tòa án Liên Bang không phải tuân thủ và áp dụng án lệ của một Thẩm phán Liên Bang khác.

c. Tòa án gia đình của Australia

Tòa án gia đình của Australia được thành lập ngày 5 tháng 1 năm 1976 trên cơ sở một đạo luật về gia đình được Quốc hội Liên Bang ban hành năm 1975. Tòa án gia đình của Australia có thẩm quyền giải quyết đối với các yêu cầu tuyên bố hôn nhân vô hiệu hoặc hôn nhân là hợp pháp, ly hôn, cư trú, liên lạc, giám hộ, cấp dưỡng và tài sản liên quan đến các quan hệ nói trên. Tòa án gia đình của Australia xét xử phúc thẩm các vụ án do Tòa án sơ thẩm của Liên Bang xét xử sơ thẩm; phúc thẩm các phán quyết của các Thẩm phán của Tòa án gia đình, của Tòa án gia đình bang Tây Australia. Việc xét xử của Tòa án gia đình có thể tiến hành bởi một Thẩm phán hoặc bởi “Full Court”. “Full Court” là một Tòa án của Tòa án gia đình mà khi xét xử thì có 3 Thẩm phán hoặc 5 Thẩm phán tham gia. Khi việc xét xử do một Thẩm phán tiến hành thì Thẩm phán đó bắt buộc phải tuân thủ và áp dụng án lệ của “Full Court” của Tòa án gia đình. Tuy nhiên, Thẩm phán không bắt buộc phải tuân thủ và áp dụng án lệ của Thẩm phán khác trong Tòa án gia đình cũng như “Full Court” của Tòa án gia đình không bắt buộc phải áp dụng án lệ của chính nó.

d. Tòa án sơ thẩm Liên Bang

Tòa án sơ thẩm Liên Bang được thành lập trên cơ sở đạo luật về Tòa án sơ thẩm Liên Bang được ban hành năm 1999 và bước vào hoạt động từ năm 2000. Tòa án sơ thẩm Liên Bang có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm các vụ việc liên quan đến luật gia đình và hỗ trợ trẻ em, liên quan đến hành chính, bắt giữ hàng hải, phá sản, bản quyền, nhân quyền, sở hữu công nghiệp, di dân, quyền riêng tư của công dân và hoạt động thương mại. Khi xét xử, Tòa án này phải tuân thủ và áp dụng án lệ của Tòa án gia đình Liên Bang và Tòa án Liên Bang được xác lập trong các phán quyết phúc thẩm. Thẩm phán Tòa án sơ thẩm Liên Bang phải tuân thủ án lệ do “Full Court” của Tòa án Liên Bang xác lập. Đồng thời, Thẩm phán Tòa án sơ thẩm Liên Bang còn phải tuân thủ án lệ của Thẩm phán Liên Bang xác lập trong các phán quyết phúc thẩm. Tuy nhiên, Thẩm phán Tòa án sơ thẩm Liên Bang không phải tuân thủ án lệ của Thẩm phán Liên Bang xác lập trong các phán quyết sơ thẩm.

3. Án lệ tại Tòa án của các tiểu bang và vùng lãnh thổ

Liên Bang Australia có 6 tiểu bang và 2 vùng lãnh thổ. Mỗi tiểu bang đều có hệ thống chính quyền, lập pháp và tư pháp riêng biệt. Hệ thống Tòa án được tổ chức như sau: Tòa án tối cao, Tòa phúc thẩm của tiểu bang, Tòa án quận hạt và Tòa án sơ thẩm tiểu bang.

a. Tòa án tối cao tiểu bang và vùng lãnh thổ

Nếu việc xét xử tại Tòa án tối cao của tiểu bang và vùng lãnh thổ do một Thẩm phán tiến hành thì Thẩm phán đó phải tuân thủ và áp dụng án lệ của Tòa phúc thẩm của tiểu bang và vùng lãnh thổ đó. Đồng thời, các Thẩm phán của Tòa án tối cao tiểu bang và vùng lãnh thổ phải tuân thủ và áp dụng án lệ của “Full Court” của Tòa án Liên Bang. Tuy nhiên, Thẩm phán Tòa án tối cao của tiểu bang và vùng lãnh thổ không bắt buộc phải tuân thủ án lệ của các Thẩm phán khác trong cùng Tòa án đó. Bên cạnh đó, Tòa án tối cao của mỗi tiểu bang và vùng lãnh thổ cũng không bắt buộc phải tuân thủ án lệ xác lập bởi các tòa án tối cao của bang và vùng lãnh thổ khác. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, trên thực tế các Tòa án tối cao, các tòa phúc thẩm của các tiểu bang và vùng lãnh thổ đều có sự tham khảo hoặc áp dụng án lệ của nhau. Lý do được đưa ra là mặc dầu các hệ thống Tòa án của các tiểu bang và vùng lãnh thổ khác nhau về cơ cấu tổ chức, hoạt động nhưng sự khác biệt có thể giải quyết được bởi Tòa án tối cao Liên Bang. Khi án lệ của Tòa phúc thẩm hoặc Tòa án tối cao của một bang hoặc vùng lãnh thổ được Tòa án tối cao Liên Bang giữ nguyên thì các Tòa án tối cao hoặc Tòa phúc thẩm bang khác có thể viện dẫn án lệ đó. Mặt khác, trong hoạt động lập pháp, Quốc hội của các bang và vùng lãnh thổ nói trên đã ban hành những đạo luật về một số vấn đề về kinh tế, xã hội mà cách giải quyết của các đạo luật là có sự giống nhau.

b. Các Tòa phúc thẩm của các tiểu bang và vùng lãnh thổ

Các Tòa phúc thẩm của các tiểu bang và vùng lãnh thổ bắt buộc tuân thủ án lệ của “Full Court” của Tòa án tối cao Liên Bang. Tuy nhiên, các Tòa phúc thẩm nói trên không bắt buộc phải tuân thủ án lệ của Thẩm phán Tòa án tối cao Liên bang xác lập trong các vụ việc do một Thẩm phán xét xử.

c. Tòa án sơ thẩm và Tòa án quận hạt của tiểu bang và vùng lãnh thổ

Tòa án sơ thẩm của tiểu bang và vùng lãnh thổ là Tòa án thấp nhất trong hệ thống Tòa án của từng tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ. Khi vụ việc do Tòa án sơ thẩm của tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ bị kháng cáo thì vụ việc đó sẽ xem xét tại Tòa án quận hạt của tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ đó. Vấn đề đặt ra là Tòa án sơ thẩm của tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ có bắt buộc tuân thủ và áp dụng các phán quyết của Tòa án quận hạt của tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ đó hay không? Vấn đề này đã được Thẩm phán Grove của Tòa án tối cao của bang New South Wales phán quyết trong vụ án Valentine v Eid năm 1992 rằng án lệ không áp dụng giữa hai cấp tòa án này bởi các lý do sau: (i) Các phán quyết của Tòa án quận hạt của tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ không phải là nguồn của án lệ; (ii) Các phán quyết của Tòa án quận hạt của tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ ít khi được tuyển chọn và biên tập lại thành các báo cáo. Tuy nhiên, Thẩm phán Grove cũng cho rằng mặc dù không bắt buộc tuân thủ các phán quyết của Tòa án quận hạt nhưng các Tòa sơ thẩm có thể tham khảo hoặc xử lý tương tự như các phán quyết của Tòa án quận hạt, ngoại trừ trường hợp có căn cứ rõ ràng rằng phán quyết của Tòa án quận hạt rõ ràng là sai.

4. Áp dụng án lệ của các nước thuộc hệ thống thông luật khác

Các án lệ của các nước thuộc hệ thống thông luật như Mỹ, Anh, New Zealand và Canada thường được dẫn chiếu trong các phán quyết của Tòa án tối cao, Tòa phúc thẩm của tiểu bang của Australia. Mặc dù vậy, các Tòa án của Australia không bị bắt buộc phải tuân thủ và áp dụng các án lệ của các nước nói trên.
Tuy nhiên, có một thời gian khá dài khi Hội đồng cơ mật của Vương quốc Anh là cơ quan có quyền quyết định cuối cùng tất cả vấn đề áp dụng, giải thích các đạo luật cũng như các án lệ của Australia thì việc các Tòa án tối cao của tiểu bang áp dụng án lệ của Tòa án tối cao của Vương quốc Anh là khá phổ biến. Năm 1986, Hội đồng này chấm dứt vai trò như là một Tòa án cao nhất của Australia có thẩm quyền giải quyết các vấn đề tranh cãi về áp dụng, giải thích luật.

V. Xu hướng phát triển của án lệ ở Australia

Trong thời điểm hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp đã dẫn đến sự chuyển hướng từ việc áp dụng án lệ sang áp dụng luật ban hành bởi Quốc hội và các văn bản hướng dẫn luật của các cơ quan hành pháp. Việc ban hành các văn bản luật và văn bản dưới luật ngày càng nhiều cũng đồng nghĩa với việc Tòa án giảm việc xác lập các án lệ. Ngày nay khi xét xử các Thẩm phán có xu hướng sử dụng cách định nghĩa, giải thích của văn bản luật được áp dụng để giải quyết vụ án hơn là sử dụng cách giải thích từ những định nghĩa khác hoặc từ những nguyên tắc pháp lý có trong án lệ tồn tại từ trước. Việc thay đổi này có thể nhận thấy từ việc thay đổi cách giảng dạy luật ở các trường luật. Năm 2006, trường luật thuộc Đại học Havard, Mỹ đã tổ chức bỏ phiếu để thay đổi cách giảng dạy truyền thống về luật ở trình độ đại học. Đến thời điểm trước năm 2006 thì việc dạy luật ở Đại học Havard vốn nổi tiếng với phương pháp tìm kiếm án lệ từ các tuyển tập án lệ để đánh giá các phán quyết của Tòa án, xác định án lệ bắt buộc-the ratio decidendi hay còn gọi là các nguyên tắc pháp lý được xác lập trong các phán quyết và các án lệ tham khảo-the obiter dicta. Trên thực tế, phương pháp dạy luật nói trên đã trở thành “thương hiệu” của trường luật thuộc Đại học Havard. Phương pháp này đã được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có Australia. Tuy nhiên, kể từ năm 2006, trường luật Đại học Havard đã bãi bỏ phương pháp dạy học này và chuyển sang phương pháp mới bằng việc đưa vào giảng dạy các luật được ban hành bởi cơ quan lập pháp và cách thức giải thích luật của các cơ quan này. Sự thay đổi quan trọng trong thực tiễn hoạt động áp dụng pháp luật ở Mỹ có những tác động nhất định đối với Australia khi nước này có sự chuyển hướng áp dụng phương pháp giảng dạy luật tương tự như Mỹ. Sự thay đổi ở Mỹ, Australia thể hiện xu hướng giảm dần vai trò của án lệ với tư cách là nguồn quan trọng cho việc xác định pháp luật áp dụng cho những vấn đề pháp lý của xã hội; thay vào đó là sự phát triển của hoạt động lập pháp thông qua việc ban hành các văn bản luật, hướng dẫn luật.
Mặc dù vai trò của hoạt động lập pháp của Australia đã có những bước phát triển mới nhưng có thể khẳng định rằng học thuyết án lệ vẫn đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật của Australia. Đặc biệt, án lệ vẫn thể hiện được vai trò chủ đạo của mình đối với hoạt động xét xử của các Tòa án trung cấp của Australia (các tòa án quận hạt).

VI. Phát triển án lệ ở Việt Nam: từ nghiên cứu khoa học đến thực tiễn

Có thể nói rằng cho đến thời đểm hiện nay, học thuyết án lệ của hệ thống thông luật chưa được nghiên cứu kỹ và biết đến đầy đủ ở Việt Nam, mặc dầu không thể nói rằng Việt Nam không hề quan tâm đến vấn đề này. Bằng chứng là Việt Nam đã tổ chức khá nhiều chuyến khảo sát, học tập kinh nghiệm xây dựng luật pháp đến các nước theo hệ thống thông luật như Vương quốc Anh, Liên Bang Australia, Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ và một số nước Châu á mà hệ thống pháp luật có sự ảnh hưởng của hệ thống thông luật. Một trong những nội dung được các thành viên của đoàn đề cập đến là vấn đề án lệ: từ lịch sử hình thành, khái niệm, nguyên tắc áp dụng, cách thức xác lập và áp dụng án lệ trong hệ thống Tòa án. Với sự thiếu vắng của hoạt động nghiên cứu khoa học về học thuyết án lệ như đã nói ở trên mà kết quả là nhận thức chung của xã hội về vấn đề này còn chưa được xác lập, đặc biệt trong giới các nhà khoa học hoạt động trong lĩnh vực lập pháp vấn đề này còn tồn tại ở nhiều mức độ hiểu biết khác nhau, thì sẽ là quá vội vàng và thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn để đề nghị rằng nên có một bước cải cách trong hoạt động xét xử của Tòa án về việc áp dụng pháp luật, theo đó án lệ được xác định là một nguồn luật chính thức tương tự như ở các nước theo hệ thống pháp luật thông luật. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị đã xác định phát triển án lệ là một trong những nội dung của cải cách tư pháp. Việc triển khai thực hiện nội dung này đã có chuyển biến mới trên thực tế khi Tòa án nhân dân tối cao đang tiến hành tổ chức nghiên cứu học thuyết án lệ của các nước theo hệ thống thông luật và các nước khác có sử dụng án lệ. Mặc dù chỉ mới dừng ở mức đề tài khoa học cấp bộ nhưng là hoạt động nghiên cứu khoa học đầu tiên có quy mô lớn nhất, bài bản nhất từ trước tới nay ở Việt Nam nhằm đưa ra phương hướng, cách thức tiếp cận với vấn đề này trong bối cảnh thực tiễn của Việt Nam. Hiện nay, hoạt động nghiên cứu khoa học về vấn đề án lệ đang được Tòa án nhân dân tối cao tiến hành khẩn trương. Ngoài việc tiến hành nghiên cứu lý luận, thực tiễn hoạt động của hệ thống Tòa án của Việt Nam từ năm 1945 đến nay chắc chắn sẽ được nghiên cứu, đánh giá nhằm tìm ra những cách thức, kinh nghiệm cụ thể, đúng đắn và phù hợp để thực hiện hoạt động cải cách tư pháp “phát triển án lệ” theo Nghị quyết của Bộ Chính trị. Trên cơ sở so sánh thực tiễn xác lập, áp dụng nguyên tắc án lệ với tư cách là hoạt động hướng dẫn..?

1. Án lệ là hướng dẫn áp dụng pháp luật mang tính bắt buộc

Ở các nước theo hệ thống pháp luật thông luật thì án lệ bắt buộc là án lệ do Tòa án cấp cao nhất xác lập và các Tòa án cấp thấp hơn trong cùng một hệ thống Tòa án phải tuân thủ và áp dụng cho những vụ án có những tình tiết quan trọng tương tự như vụ án đã xét xử với án lệ đã được xác lập. Khi xét xử những vụ án này, các Tòa án cấp dưới không được bỏ qua các án lệ của Tòa án cao nhất (Tòa án tối cao, Tòa phúc thẩm của Tòa án tối cao…) mà không đưa ra các căn cứ giải thích tại sao án lệ đó không được áp dụng. Hậu quả của việc không áp dụng án lệ là việc Tòa án cấp trên sẽ hủy bỏ các phán quyết của Tòa án cấp dưới.
Đối với Việt Nam, có thể khẳng định rằng từ trước đến nay các Tòa án nhân dân cấp quận, huyện và cấp tỉnh không bắt buộc phải tuân thủ và áp dụng các phán quyết của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao khi xét xử các vụ án có những nội dung tranh chấp và các tình tiết khách quan quan trọng tương tự như những vụ án đã được Tòa án nhân dân tối cao, Tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao xét xử. Lý do được ủng hộ rộng rãi là xuất phát từ nguyên tắc “Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” được ghi nhận trong Hiến Pháp năm 1959 (Điều 100); Hiến Pháp năm 1980 (Điều 131); Hiến Pháp năm 1992 (Điều 130); Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1959 (Điều 4); Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 (Điều 6); Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992 (Điều 5); Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 (Điều 5). Nguyên tắc này còn bảo đảm cho các Tòa án địa phương cũng không bắt buộc tuân theo các nhận định trong các bản án của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao xét xử hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại; hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm, phúc thẩm lại. Đồng thời, một lý do khác không kém phần quan trọng là Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao không có thẩm quyền giải thích nội dung các điều luật hoặc các nguyên tắc pháp luật trong các bản án, quyết định như Tòa án tối cao, Tòa phúc thẩm ở các nước theo hệ thống pháp luật thông luật vẫn thực hiện. Việc Tòa án áp dụng các quy định của pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành là xu hướng truyền thống của Việt Nam. Đây cũng là xu thế phát triển của hoạt động xét xử ở các nước theo hệ thống thông luật như Mỹ và Australia khi vai trò sử dụng án lệ đang giảm dần và thay thế vào đó là việc Tòa án tăng cường sử dụng văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành trong việc xét xử như đã phân tích ở phần trên về án lệ tại Australia. Tuy nhiên, cần chú ý là án lệ bắt buộc của Tòa án trong hệ thống pháp luật thông luật thực chất là cách giải thích luật pháp, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật mà Tòa án cao nhất của các nước này có thẩm quyền xác lập. Điều này có thể thấy rõ qua các vụ án Dow Jones v Gutnick và vụ án R kiện Davidson như đã phân tích ở các phần trên. Trong vụ án Dow Jones v Gutnick thì án lệ là việc giải thích của Tòa án tối cao Liên Bang Australia về việc xác định thế nào là hành vi xuất bản ấn phẩm xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của nguyên đơn và lý do tại sao Tòa án tối cao bang Victoria có thẩm quyền xét xử vụ án này. Trong vụ án R kiện Davidson thì án lệ là cách giải thích của Tòa án tối cao bang Victoria thế nào là hành vi nạo thai hợp pháp. Do đó, nếu nhìn nhận án lệ ở góc độ là việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật thì Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực chất cũng là án lệ bắt buộc bởi việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật này nhằm để hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật. Trong trường hợp này, án lệ bắt buộc và Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đều có điểm chung là có tính áp dụng bắt buộc đối với toàn bộ các tòa án cấp dưới. Sự khác nhau nếu có giữa án lệ bắt buộc và Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là ở hình thức văn bản và cơ quan ban hành: án lệ bắt buộc được xác lập trong các bản án của Tòa án tối cao, các Tòa phúc thẩm hoặc Tòa án tối cao Liên Bang, Tòa án Liên Bang, Tòa phúc thẩm Liên Bang, Tòa án gia đình Liên Bang và các Tòa án tối cao tiểu bang, Tòa phúc thẩm tiểu bang (trường hợp Australia) và có thể do một Thẩm phán hoặc một Hội đồng xét xử (từ 3 Thẩm phán trở lên) xác lập; trong khi Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do cơ quan xét xử cao nhất của hệ thống Tòa án Việt Nam ban hành và Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành; các Tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao không có thẩm quyền ban hành bất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào.

2. Án lệ là hướng dẫn áp dụng pháp luật mang tính tham khảo

Theo hệ thống pháp luật thông luật thì khi xét xử, Tòa án cấp dưới có thể dẫn chiếu, áp dụng các án lệ mang tính tham khảo được xác lập trong các phán quyết của các Tòa án tối cao, Tòa phúc thẩm của Tòa án tối cao. Đây là các ý kiến bảo lưu của các thẩm phán và các ý kiến khác mang tính tổng quát về một vấn đề chung của pháp luật có liên quan hoặc được bổ sung hoặc những vấn đề không quan trọng trong vụ án. Án lệ tham khảo còn là những án lệ có tính hướng dẫn áp dụng pháp luật phù hợp với việc áp dụng để giải quyết vụ án của Tòa án nhưng không mang tính bắt buộc phải tuân thủ bởi vì án lệ đó được xác lập bởi các Tòa án không cùng trong một hệ thống Tòa án (Tòa án được tổ chức theo kiểu Liên Bang và tiểu bang là một ví dụ điển hình) hoặc được xác lập bởi các Tòa án nước ngoài thuộc hệ thống pháp luật thông luật. Đối với Việt Nam, như đã nói ở trên, trong khi hoạt động xét xử của các Tòa án địa phương không bị rằng buộc bởi các phán quyết của Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao thì trên thực tế các Tòa án địa phương khi xét xử có thể có sự tham khảo ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao thông qua các công văn trao đổi nghiệp vụ, hướng dẫn áp dụng pháp luật, Kết luận của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết công tác hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao hoặc các bản án, quyết định giám đốc thẩm được Tòa án nhân dân tối cao công bố trong vài năm gần đây. Nếu xét về nội dung thì công văn trao đổi nghiệp vụ, công văn hướng dẫn áp dụng pháp luật, Kết luận của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đều là những hướng dẫn áp dụng pháp luật mặc dù những văn bản này không được thừa nhận chính thức là văn bản quy phạm pháp luật. Các văn bản này còn có một cách gọi khác là các văn bản hướng dẫn “đường lối xét xử”, trên thực tế đã phát huy được vai trò tích cực trong việc hướng dẫn các tòa án địa phương áp dụng thống nhất pháp luật. Trên thực tế, trước khi Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự và nhiều bộ luật, Luật quan trọng khác được ban hành thì việc ban hành các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao cũng khá hạn chế. Do đó, các Tòa án địa phương trong hoạt động xét xử thường tham khảo các hướng dẫn áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao dưới hình thức các công văn trao đổi nghiệp vụ và Báo cáo kết luận của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết công tác hàng năm. Tuy nhiên, sau khi các bộ luật quan trọng nói trên ra đời thì hoạt động “xác lập án lệ” của Tòa án nhân dân tối cao đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ với việc ban hành khá nhiều Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao. Nếu tính từ khi Bộ luật hình sự năm 1999 được ban hành đến nay thì đã có 22 Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao được ban hành để hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong các lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự; dân sự, hôn nhân và gia đình và tố tụng dân sự.

3. Việc xuất bản các phán quyết của Tòa án

Trước đây tại các nước theo hệ thống pháp luật thông luật thì việc xuất bản các phán quyết phải được Tòa án tối cao duyệt (trường hợp của Anh hoặc Australia). Việc lựa chọn phán quyết thường được các luật sư danh tiếng hoặc các giáo sư giảng dạy luật thực hành trong các trường đại học danh tiếng thực hiện trên cơ sở các vụ án đó có ý nghĩa quan trọng trong việc hướng dẫn áp dụng pháp luật. Ngày nay, việc xuất bản các tuyển tập bản án không bắt buộc phải có ý kiến của Tòa án tối cao và được tiến hành thường xuyên hơn trong năm dưới các hình thức truyền thống là in ấn và đưa lên các trang cơ sở dữ liệu về luật trên Internet. Việc xuất bản các tuyển tập các phán quyết được phân chia thành hai loại: một loại có giá trị chính thức để sử dụng trong việc dẫn chiếu, áp dụng trong hoạt động xét xử và giảng dạy và một loại chỉ có giá trị tham khảo-không được sử dụng trong các hoạt động nói trên. Đối với Việt nam, nếu xem việc ban hành các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao như là việc xác lập án lệ bắt buộc và việc ban hành các công văn trao đổi nghiệp vụ, Báo cáo kết luận của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết công tác hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao như là việc xác lập án lệ tham khảo thì các văn bản này đã được Tòa án nhân dân tối cao xuất bản trong cuốn sách “Hệ thống hóa các văn bản pháp luật” được xuất bản hàng năm và cung cấp cho các Tòa án nhân dân trên toàn quốc. Trong những năm gần đây khi điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sự phát triển và phổ biển rộng rãi của hệ thống Internet, Tòa án nhân dân tối cao đã tiến hành công bố bản án, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao trên trang web của Tòa án nhân dân tối cao để tạo điều kiện cho các Tòa án nhân dân địa phương thuận tiện trong việc tham khảo cũng như để phục vụ sự quan tâm của các đối tượng khác.

4. Kinh nghiệm nào cho Việt Nam trong việc phát triển án lệ

Từ việc nghiên cứu chế định án lệ của Australia, cũng như so sánh, đánh giá thực tiễn hoạt động hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của Tòa án các nước theo hệ thống pháp luật thông luật với thực tiễn hoạt động hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật Tòa án nhân dân tối cao, tác giả cho rằng cần lưu lý một số vấn đề sau đây khi triển khai nghiên cứu án lệ:
(i). Nên xác định án lệ là việc Tòa án cấp cao nhất hướng dẫn các Tòa án cấp dưới áp dụng thống nhất pháp luật trong việc xét xử. Với cách tiếp cận này thì việc xác lập án lệ là việc Hội đồng Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao ban hành các Nghị quyết, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư Liên tịch để hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật. Hiện nay, việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật tại Tòa án nhân dân tối cao vẫn tồn tại dưới hai hình thức: đó là việc Hội đồng Thẩm phán của Tòa án nhân dân tối cao ban hành các Nghị quyết, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư Liên tịch để hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật và việc Tòa án nhân dân tối cao ban hành các công văn trao đổi nghiệp vụ, công văn hướng dẫn áp dụng pháp luật. Thực tiễn cho thấy rằng, trong nhiều trường hợp, việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao đối với các Tòa án địa phương thông qua các công văn nói trên đã phát huy được hiệu quả quan trọng trong việc bảo đảm cho việc xét xử của Tòa án cấp dưới đúng pháp luật. Mặc dù vậy, sự hạn chế lớn nhất của các văn bản hướng dẫn này là ở hiệu lực áp dụng: vẫn là văn bản mang tính tham khảo. Do đó, việc triển khai nghiên cứu để “phát triển án lệ” cần được tiến hành theo hướng ghi nhận hiệu lực áp dụng có tính bắt buộc của các văn bản này.
(ii) Việc xuất bản án lệ. Hiện nay việc xuất bản các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được tiến hành theo phương thức in ấn truyền thống và trực tuyến trên Internet. Trước đây, hàng năm Tòa án nhân dân tối cao đã tiến hành xuất bản cuốn “Hệ thống hóa các văn bản pháp luật” với nội dung là các văn bản quy phạm pháp luật cùng các công văn trao đổi nghiệp vụ, công văn hướng dẫn áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao. Cuốn sách này được các Tòa án các cấp cho rằng rất hữu ích để cập nhật các thông tin về các quy định của pháp luật, hướng dẫn áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử. Vì vậy, cho dù các công văn trao đổi nghiệp vụ, công văn hướng dẫn áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao có được ghi nhận có hiệu lực áp dụng bắt buộc hay không theo kết quả tiến trình “phát triển án lệ” thì Tòa án nhân dân tối cao cũng nên khôi phục lại hoạt động xuất bản cuốn “Hệ thống hóa các văn bản pháp luật” nói trên để phục vụ nhiệm vụ chung của ngành Tòa án./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Abortion Law Reform Act 2008 http://www.austlii.edu.au/au/legis/vic/consol_act/alra2008209/.

Crimes Act 1900 (NSW) http://www.austlii.edu.au/au/legis/nsw/consol_act/ca190082/

Crimes Act 1958

Michael Kirby, ‘Precedent, Practice & Trends in Australia’ (2007) 28 Australian Bar Review

Mason A F, ‘The Use and Abuse of Precedent’ (1988) 4 Australian Bar Review

Frederick Schauer, ‘Precedent’ (1987) 39 (3) Stanford Law Review

B.V. Harris, ‘Final Appellate Courts Overruling Their Own “Wrong” Precedents: The Ongoing Search for Principle’ (2002) 118 Law Quarterly Review 408

John Carvan, Understanding the Australian Legal System (LBC Information Services, 3rd,1999)

Catriona Cook et al (eds), Laying Down the Law (LexisNexis Butterworths, 6th 2005)

Sumner Lobingier C, ‘Precedent in Past and Present Legal Systems’ Michigan Law Review, 1946 (6), 955-996

Kathryn Simon, ‘Recent Developments in Abortion Law’ (2008) E-Brief, NSW Parliamentary Library Research Service

James Holland and Julian Webb, Learning Legal Rules (Oxford University Express, 7th 2010)

High Court of Australia

Federal Court of Australia http://www.fedcourt.gov.au/

Family Court of Australia http://www.familycourt.gov.au

Federal Magistrate Court of Australia http://www.fmc.gov.au/

Children by Choice http://www.childrenbychoice.org.au/nwww/auslawprac.htm.

Telstra Corporation v Treloar (2000) 102 FCR 595
Dow Jones and Company Inc v Gutnick (2002) HCA 56; 210 CLR 575; 194 ALR 433; 77 ALJR 255

R v Davidson, [1969] VR 667.

Valentine v Eid (1992) 27 NSWLR 615
Commonwealth v. Hospital Contribution Fund (1982) 150 CLR 237

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH – BÀI VIẾT DO TÁC GIẢ CUNG CẤP - LÊ MẠNH HÙNG

VIỆC SỬ DỤNG BÀI VIẾT VÀO MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI CẦN CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ

Nguồn: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com

(MINH KHUE LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Xây dựng quy chế quản lý nhân sự, chính sách tiền lương, tiền thưởng

4. Quy chế tòa án quốc tế

Điều 1. Tòa án quốc tế được thành lập theo Hiến chương Liên hợp quốc là cơ quan xét xử chính của Liên hợp quốc, được tổ chức và hoạt động theo đúng các nghị quyết dưới đây của bản quy chế này.

Quy chế tòa án quốc tế

Chương 1.

TỔ CHỨC TÒA ÁN

Điều 2. Tòa án có cơ cấu là một hội đồng các thẩm phán độc lập, được lựa chọn, không căn cứ quốc tịch, trong số những người có phẩm chất đạo đức tốt, đáp ứng các yêu cầu đề ra ở quốc gia họ để chỉ định vụ xét xử cao nhất, hoặc là những luật gia có uy tín lớn trong lĩnh vực luật quốc tế.

Điều 3.

1. Tòa án được cấu tạo gồm 15 người, trong đó không thể có 2 công dân của cùng một quốc gia.

2. Người có thể được xem xét để đưa vào thành phần của Tòa án, như công dân của một quốc gia, được coi là công dân của chính quốc gia đó, mà ở quốc gia ấy công dân này thường xuyên sử dụng các quyền công dân và các quyền chính trị của mình.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - Ảnh minh họa

Điều 4.

1. Các ủy viên Tòa án được Đại hội đồng và Hội đồng bảo an lựa chọn trong số những người có tên trong danh sách theo đề nghị của các tiểu ban dân tộc của Pháp viện thường trực quốc tế phù hợp với những nguyên tắc dưới đây.

2. Đối với các thành viên Liên hợp quốc không có đại diện trong Pháp viện Quốc tế thì các ứng cử viên do các tiểu ban dân tộc được các chính phủ của họ ủy quyền đưa ra, phải tuân thủ các điều kiện đã được điều 44 Công ước Lahay năm 1907 về việc giải quyết bằng phương pháp hòa bình các cuộc xung đột quốc tế quy định đối với các thành viên của Pháp viện thường trực quốc tế.

3. Những điều kiện mà trong đó các quốc gia thành viên của quy chế này, nhưng lại không phải là thành viên của Liên hiệp quốc, có thể tham gia vào việc lựa chọn thành viên của Tòa án, được Đại hội đồng, nếu không có một điều ước đặc biệt, quy định theo sự giới thiệu của Hội đồng bảo an.

Điều 5.

1. Ít nhất là trong vòng 3 tháng, trước khi bầu cử Tổng thư ký liên hiệp quốc gửi cho các ủy viên Pháp viện thường trực quốc tế của các quốc gia thành viên của quy chế này và cho các ủy viên của các tiểu ban dân tộc được chỉ định theo điểm 2 của điều 1 văn bản đề nghị để mỗi một tiểu ban dân tộc, trong khoảng thời hạn quy định, đưa ra những ứng cử viên có thể nhận nhiệm vụ của ủy viên Tòa án.

2. Không một tiểu ban nào được đưa ra quá 4 ứng cử viên, trong đó không quá 2 ứng viên có cùng quốc tịch của một quốc gia được tiểu ban đại diện. Số lượng ứng cử viên được tiểu ban đưa ra trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được vượt quá 2 lần số ghế bầu.

Điều 6. Điều cần thiết là mỗi tiểu ban trước khi đưa ra các ứng cử viên, phải hỏi ý kiến các cơ quan xét xử cao nhất, các khoa luật, các trường Cao đẳng tư pháp và các viện Hàn lâm của các quốc gia đó cũng như các phân viện của các viện Hàn lâm quốc tế chuyên nghiên cứu về luật.

Điều 7.

1. Tổng thư ký Liên hiệp quốc lập danh sách theo thứ tự ABC tất cả những người được đề cử, trừ những trường hợp đã nói ở điểm 2 của Điều 12, chỉ được bầu những người có tên trong danh sách đó.

2. Tổng thư ký trình bản danh sách lên Đại hội đồng và Hội đồng bảo an.

Điều 8. Đại hội đồng và Hội đồng bảo an khi bầu cử ủy viên Tòa án hoàn toàn độc lập nhau.

Điều 9. Khi bầu cử các cử tri cần phải cân nhắc không những chỉ mỗi ứng cử viên nói riêng phải thỏa mãn tất cả những yêu cầu đã nêu ra mà toàn bộ cơ cấu thành phần các thẩm phán nói chung cần phải đảm bảo đại diện của các hình thái văn hóa chủ yếu nhất và các hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới.

Điều 10.

1. Những người được coi là trúng cử là những ứng cử viên được tuyệt đại đa số phiếu bầu cử ở cả Đại hội đồng cũng như ở cả Hội đồng bảo an.

2. Bất cứ việc biểu quyết nào ở Hội đồng bảo an, cả khi bầu thẩm phán cũng như khi chỉ định ủy viên uỷ ban phối hợp đã được nêu ở điều 12 đều được tiến hành không có sự phân biệt bất kỳ nào giữa các ủy viên thường trực và không thường trực của Hội đồng bảo an.

3. Trong trường hợp nếu như tuyệt đại đa số phiếu cả ở Đại hội đồng cũng như ở Hội đồng bảo an, chọn nhiều công dân của cùng một quốc gia trùng nhau thì người được công nhận trúng cử là người nhiều tuổi hơn

Điều 11. Nếu sau phiên họp thứ nhất triệu tập để bầu cử có một hoặc vài ghế trống thì phải triệu tập phiên thứ hai, trong trường hợp cần thiết phải triệu tập phiên thứ ba.

Điều 12.

1. Nếu sau phiên thứ 3 có một hay vài ghế trống thì trong bất kỳ thời gian nào, theo yêu cầu của Đại hội đồng hay Hội đồng bảo an, ủy ban phối hợp có thể được triệu tập với thành phần gồm 6 ủy viên: 3 ủy viên theo sự chỉ định của Đại hội đồng, 3 ủy viên theo sự chỉ định của Hội đồng bảo an để bầu lấy một người thế vào mỗi ghế trống với số phiếu chiếm tuyệt đại đa số và đệ trình người được đề cử lên Đại hội đồng và Hội đồng bảo an xem xét.

2. Nếu ủy ban phối hợp nhất trí để một người nào đó ứng cử mà thỏa mãn mọi yêu cầu thì tên người đó có thể được ghi vào danh sách ứng cử viên ở điều 7.

3. Khi ủy ban phối hợp thấy rằng việc bầu cử không tổ chức được thì lúc đó các thành viên của Tòa án đã được bầu cử bước vào giai đoạn đã được Hội đồng bảo an quy định, lựa chọn các thành viên của Tòa án trong số các ứng cử viên có số phiếu trùng nhau hoặc ở Đại hội đồng hoặc ở Hội đồng bảo an để thế vào ghế trống.

4. Trong trường hợp phiếu của các thẩm phán bằng nhau thì phiếu của người có số tuổi cao hơn sẽ có ưu thế.

Điều 13.

1. Các thành viên của Tòa án được bầu cử cho thời hạn 9 năm và có thể được bầu lại, tuy nhiên với một điều kiện là thời hạn toàn quyền của 5 thẩm phán khóa đầu tiên sẽ hết sau 3 năm và thời hạn toàn quyền của 5 thẩm phán kia sẽ hết sau 6 năm.

2. Tổng thư ký ngay sau khi kết thúc bầu cử khóa đầu tiên, phải xác định bằng cách rút thăm ai trong số các thẩm phán được trúng cử vào các nhiệm kỳ 3 năm và 6 năm đã nêu trên.

3. Các thành viên của Tòa án tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của mình cho đến khi họ được thay, thậm chí sau khi bị thay thế họ phải có nhiệm vụ kết thúc những việc đang làm dở.

4. Trong trường hợp thành viên tòa án đệ đơn về hưu, đơn đó được gửi đến cho Chủ tịch Tòa án để chuyển cho Tổng thư ký. Sau khi Tổng thư ký nhận được đơn thì vị trí đó coi như khuyết.

Điều 14. Những ghế trống được bổ sung theo trình tự đã được quy định đối với lần bầu cử đầu và phải tuân theo các nguyên tắc dưới đây: trong vòng một tháng sau khi có ghế khuyết, Tổng thư ký gửi giấy mời như đã nêu ở điều 5, còn ngày bầu cử do Hội đồng bảo an ấn định.

Điều 15. Thành viên của Tòa án được bầu để thay thế một thành viên khác mà thời hạn toàn quyền của người đó chưa hết vẫn ở trọng trách cho đến khi mãn hạn của người mình thay thế.

Điều 16.

1. Thành viên Tòa án không được thực hiện một nhiệm vụ chính hoặc hành chính nào và không tự cho mình làm một việc nào khác có tính chất nghề nghiệp.

2. Những điều nghi vấn về vấn đề này do Tòa án xác định và giải quyết.

Điều 17.

1. Không một người nào trong số các thành viên của Tòa án được làm nhiệm vụ chánh án, luật sư hay trạng sư trong bất kỳ vụ án nào.

2. Không một người nào trong số các thành viên của Tòa án được tham gia vào việc giải quyết một vụ việc mà trước đó trong vụ việc này người đó từng tham gia với tư cách là chủ tịch, luật sư hay trạng sư cho một trong các bên, hoặc là thành viên của Tòa án quốc gia hay Tòa án quốc tế, là nhân viên của ủy ban điều tra hay các tư cách nào khác.

3. Những nghi ngờ về vấn đề này được Tòa án xác định và giải quyết.

Điều 18.

1. Thành viên của Tòa án không được bỏ nhiệm vụ, trừ khi theo ý kiến nhất trí của các thành viên khác, thành viên đó không còn thỏa mãn các yêu cầu đã nêu ra.

2. Về việc này, Tổng thư ký phải được thư ký của Tòa án thông báo

3. Ngay sau khi nhận được thông báo, ghế đó coi là khuyết.

Điều 19. Các thành viên của Tòa án trong khi thực hiện nhiệm vụ xét xử được sử dụng quyền ưu đãi và quyền bất khả xâm phạm về ngoại giao.

Điều 20. Mỗi thành viên của Tòa án có nghĩa vụ trước khi nhận nhiệm vụ phải trịnh trọng tuyên bố trong phiên họp công khai của Tòa án là sẽ thừa hành nhiệm vụ một cách vô tư và tận tình.

Điều 21.

1. Tòa án bầu chủ tịch và phó chủ tịch, nhiệm kỳ 3 năm, Chủ tịch và phó chủ tịch có thể được bầu lại.

2. Tòa án cử thư ký của mình và có thể áp dụng những biện pháp để cử những người giữ những trách nhiệm khác cần thiết như thế.

Điều 22.

1. Trụ sở của Tòa án là La Hay. Tuy nhiên điều đó không cản trở việc Tòa án có thể họp hay thực hiện chức năng của mình ở các địa điểm khác trong mọi trường hợp mà Tòa án xét thấy chỗ đó là cần thiết.

2. Chủ tịch và thư ký Tòa án phải ở tại trụ sở của Tòa án.

Điều 23.

1. Tòa án họp thường kỳ ngoại trừ trong những kỳ nghỉ mà thời hạn và thời điểm các kỳ nghỉ này do Tòa án xác định.

2. Ủy viên Tòa án có quyền nghỉ phép theo định kỳ, thời hạn và thời điểm do Tòa án quy định trong đó có sự lưu ý về khoảng cách từ La Hay, đến quê quán của mỗi thẩm phán.

3. Các ủy viên của Tòa án có nghĩa vụ chịu sự điều hành của Tòa án trong bất kỳ thời gian nào, trừ thời gian đang nghỉ phép và vắng mặt do ốm đau hoặc do những lý do nghiêm trọng khác cần được giải thích cho chủ tịch Tòa án biết.

Điều 24.

1. Nếu vì một lý do nào đặc biệt đó thành viên của Tòa án thấy rằng họ không cần phải tham gia vào việc giải quyết một vụ việc nhất định thì báo cáo điều đó cho Chủ tịch.

2. Nếu Chủ tịch Tòa án nhận thấy rằng một thành viên nào đó của Tòa án vì một lý do đặc biệt nào đó không cần thiết phải tham gia vào việc họp bàn về một vụ việc nhất định thì Chủ tịch báo trước cho thành viên về điều đó.

3. Nếu trong vấn đề này nảy sinh sự bất đồng giữa Chủ tịch và ủy viên của Tòa án thì sự bất đồng này sẽ được Tòa án xác định và giải quyết.

Điều 25.

1. Ngoài những trường hợp đã nêu trong quy chế này, Tòa án họp phiên toàn thể.

2. Trong điều kiện mà số lượng thẩm phán có mặt để lập Tòa án không dưới 11 người, quy chế này của Tòa án có thể cho phép là một hay vài thẩm phán, do hoàn cảnh riêng có thể tham dự, vào các phiên họp một cách hợp lệ.

3. Số lượng thẩm phán hợp lệ để lập phiên họp xét xử là 9 người.

Điều 26.

1. Mức độ cần thiết Tòa án có thể lập ra một hay nhiều ban gồm 3 thẩm phán hay nhiều hơn nữa theo sự suy xét của Tòa án để phân tích các phạm trù nhất định của vụ việc, chẳng hạn, vụ việc về lao động và các vụ việc liên quan đến quá cảnh và liên lạc.

2. Tòa án, bất kỳ trong thời gian nào, có thể thành lập một ban để phân tích một vụ việc nhất đỉnh. Số lượng thẩm phán để thành lập một ban như vậy do Tòa án quy định với sự nhất trí của các bên.

3. Các vụ việc sẽ được các ban nêu trong điều này, nghe và giải quyết nếu như các bên yêu cầu.

Điều 27. Quyết định, nghị quyết của một số các ban nêu ở điều 26 và 29 được coi là quyết định, nghị quyết của Tòa án.

Điều 28. Các ban đã nêu ở điều 26 và 29, với sự đồng ý của các bên, có thể họp và thực hiện nhiệm vụ của mình ở các địa điểm khác ngoài La Hay.

Điều 29. Nhằm mục đích thúc đẩy việc giải quyết các vụ việc, mỗi năm Tòa án lập ra một ban có thành phần gồm 5 thẩm phán, theo yêu cầu của các bên, ban này có thể xem xét giải quyết vụ việc theo trình tự xét xử sơ bộ. Được chọn thêm 2 thẩm phán để thay những thẩm phán thấy mình không có thể tham gia vào các phiên họp.

Điều 30.

1. Tòa án vạch ra nội quy quy định nguyên tắc thực hiện chức năng của mình, Tòa án còn quy định các nguyên tắc xét xử.

2. Trong nội quy của Tòa án có thể nêu lên việc tham gia của các phụ phẩm vào các phiên họp của Tòa án hay của các ban của Tòa án những không có quyền biểu quyết.

Điều 31.

1. Các Thẩm phán có quốc tịch của một trong các bên được quyền tham gia vào các phiên họp về một vụ việc đang được Toà án tiến hành.

2. Nếu trong thành phần có mặt xét xử của một Thẩm phán có quốc tịch của một bên thì bên kia có thể cử một người theo sự lựa chọn của mình để tham gia vào việc xét xử. Người đó được lựa chọn trong số những người được đưa ra ứng cử theo như đã nêu ở điều 4 và 5.

3, Nếu trong thành phần có mặt xét xử không có một Thẩm phán nào của các bên thì mỗi bên có thể chọn Thẩm phán theo như đã nêu ở điểm 2 của điều này.

4. Quyết nghị của điều này được áp dụng trong trường hợp đã được nêu ở các điều 26 và 29, trong trường hợp ấy Chủ tịch yêu cầu một hay, trong trường hợp cần thiết, 2 thành viên của Tòa án trong thành phần của các ban dành chỗ của mình cho ủy viên của Toà án có quốc tịch của các bên hữu quan; hay khi những người này vắng mặt, trong trường hợp không thể tham gia, sẽ dành chỗ cho các thẩm phán được các bên lựa chọn.

5. Nếu ở một bên có một vấn đề chung thì các bên, do điều đó có liên quan đến việc áp dụng các nghị quyết trước, được xem như là một bên. Trong trường hợp có các mối nghi ngờ về vấn đề này thì nó sẽ được Tòa án xác định và giải quyết.

6. Các thẩm phán được lựa chọn theo điểm 2, 3, 4 của điều này cần phải thỏa mãn các điều kiện đòi hỏi của điều 2 và điểm 2 của điều 17 và các điều 20, 24 của bản quy chế này. Họ được tham gia một cách bình đẳng với các đồng sự của họ trong việc tham gia nghị quyết.

Điều 32.

1. Các ủy viên của Tòa án lĩnh lương cả năm.

2. Chủ tịch Tòa án lĩnh phụ cấp đặc biệt cả năm.

3. Phó Chủ tịch lĩnh phụ cấp đặc biệt từng ngày trong thời gian thừa hành chức vụ Chủ tịch.

4. Những Thẩm phán được lựa chọn theo như đã nêu ở điều 31 mà không phải là ủy viên của Tòa án thì lĩnh thù lao từng ngày của họ thừa hành nhiệm vụ chức trách của mình.

5. Các khoản lương, phụ cấp, thù lao do Đại hội đồng ấn định. Nó có thể ít hơn trong thời gian phục vụ.

6. Lương của thư ký do Đại hội đồng ấn định theo đề xuất của Tòa án.

7. Các nguyên tắc do Đại hội đồng đặt ra quy định các điều kiện trong đó các ủy viên của Tòa án và thư ký Tòa án được hưởng tiền hưu trí khi họ về hưu cũng như các điều kiện mà các ủy viên và thư ký Tòa án lĩnh phí tổn đi đường.

8. Các khoản lương, phụ cấp, thù lao đã nêu ở trên đây được miễn mọi khoản đóng góp.

Điều 33. Liên hợp quốc chịu chi phí của Tòa án theo như Đại hội đồng đã quy định.

Chương 2.

QUYỀN HẠN CỦA TÒA ÁN

Điều 34.

1. Chỉ các quốc gia mới là các bên trong các vụ tranh chấp được Tòa án giải quyết.

2. Với các điều kiện của bản quy chế này, Tòa án có thể được hỏi các tổ chức quốc tế công khai về những tin tức có liên quan đến vụ tranh chấp mà Tòa án đang xem xét, cũng như thu nhập các tin tức cần thiết được tổ chức đó chuyển đến theo sáng kiến riêng của họ.

3. Khi có một vụ tranh chấp đang được Tòa án giải quyết. Tòa án phải giải thích văn kiện pháp lý cho một tổ chức quốc tế nào đó hay một điều ước quốc tế đã công nhận hiệu lực của văn bản đó. Thư ký Tòa án thông báo và gửi cho tổ chức quốc tế đó bản sao tất cả các hồ sơ giấy tờ đó.

Điều 35.

1. Tòa án giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia là thành viên của quy chế này.

2. Các điều kiện Tòa án giải quyết tranh chấp đối với các quốc gia khác sẽ do Hội đồng bảo an quy định theo các điều khoản cụ thể từ các điều ước quốc tế hiện hành. Các điều kiện này trong mọi trường hợp không được để các bên ở vị trí bất bình đẳng trước Tòa án.

3. Khi có một quốc gia không phải là thành viên của Liên hiệp quốc nhưng lại là một bên trong một vụ tranh chấp thì Tòa án quy định số tiền mà bên đó phải đóng góp vào việc chi phí của Tòa án. Quyết định này không áp dụng nếu như quốc gia đó đã tham gia vào việc chi phí của Tòa án.

Điều 36.

1. Tòa án tiến hành xét tất cả các vụ tranh chấp mà các bên đưa ra và tất cả các vấn đề được nêu riêng trong hiến chương Liên hợp quốc hay các điều ước quốc tế hiện hành.

2. Các quốc gia thành viên của quy chế này bất kỳ lúc nào cũng có thể tuyên bố rằng họ thừa nhận vô điều kiện (ifso facto) đối với mỗi quốc gia khác bất kỳ đã nhận nhiệm vụ như vậy: thẩm quyền xét xử của Tòa án là nghĩa vụ xét xử về tất cả vấn đề tranh chấp pháp lý có liên quan đến:

a. Giải thích điều ước.

b. Vấn đề bất kỳ liên quan đến Luật quốc tế.

c. Có sự kiện, nếu về sau xác định được vi phạm nghĩa vụ quốc tế.

d. Tính chất mà mức độ bồi hoàn do vi phạm nghĩa vụ quốc tế.

3. Những tuyên bố nêu trên có thể là không điều kiện hay trong điều kiện có thiện cảm từ phía các quốc gia này hay quốc gia khác hay trong thời gian nhất định.

4. Những bản tuyên bố đó được chuyển tới Tổng thư ký bảo quản. Tổng thư ký gửi các bản sao cho các thành viên của quy chế này và cho thư ký Tòa án.

5. Các tuyên bố dựa trên cơ sở của điều 36 quy chế của Thường trực Pháp viện quốc tế vẫn còn có hiệu lực, thì trong quan hệ giữa các thành viên của quy chế này, các tuyên bố đó được coi như công nhận thẩm quyền xét xử của Tòa án quốc tế và là nghĩa vụ đối với mình trong thời hiện tại có hiệu lực của các tuyên bố và phù hợp với các điều kiện đã trình bày trong đó.

6. Trong trường hợp tranh chấp về quyền xét xử được đưa đến Tòa án thì vấn đề đó sẽ được Tòa án xác định và giải quyết.

Điều 37. Trong tất cả các trường hợp khi điều ước quốc tế hiện hành dự kiến chuyển vụ tranh chấp cho một tòa án được Hội quốc liên hay Thường trực pháp viện quốc tế thiết lập thì vụ tranh chấp giữa các quốc gia thành viên của quy chế này phải được chuyển đến Tòa án quốc tế.

Điều 38.

1. Tòa án, với chức năng là giải quyết phù hợp với luật quốc tế các vụ tranh chấp được chuyển đến Tòa án, sẽ áp dụng:

a. Các điều ước quốc tế, chung hoặc riêng, đã quy định về những nguyên tắc được các bên đang tranh chấp thừa nhận;

b. Các tập quán quốc tế như những chứng cứ thực tiễn chung, được thừa nhận như những quy phạm pháp luật;

c. Nguyên tắc chung của luật được các quốc gia văn minh thừa nhận

d. Với những điều kiện nêu ở điều 59, các án lệ và các học thuyết của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật quốc tế của các quốc gia khác nhau được coi là phương tiện để xác định các qui phạm pháp luật.

2. Quyết định này không nằm ngoài quyền giải quyết vụ việc của Tòa án, xác định như vậy (ex aequo et bono), nếu các bên thỏa thuận điều này.

Chương 3.

THỦ TỤC XÉT XỬ

Điều 39.

1. Ngôn ngữ chính thức của Tòa án là tiếng Pháp và Anh. Nếu các bên thỏa thuận tiến hành giải quyết vụ việc bằng tiếng Pháp thì ra nghị quyết bằng tiếng Pháp. Nếu các bên thỏa thuận tiến hành giải quyết vụ việc bằng tiếng Anh thì ra nghị quyết bằng tiếng Anh.

2. Khi không có thỏa thuận nào về việc sẽ dùng ngôn ngữ nào thì mỗi bên được sự gợi ý của Tòa án, có thể dùng ngôn ngữ mà bên đó thích. Nghị quyết của Tòa án được làm bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. Trong trường hợp này Tòa án đồng thời xác định văn bản nào trong số 2 văn bản đó là chính thức.

3. Theo yêu cầu của một bên bất kỳ nào, Tòa án có nhiệm vụ cho bên đó có quyền dùng một ngôn ngữ khác ngoài tiếng Pháp và tiếng Anh.

Điều 40.

1. Các vụ tranh chấp được đưa đến Tòa án, không phụ thuộc vào các tình tiết, hay là dựa vào các thỏa thuận đặc biệt, hay là dựa vào đơn viết gửi cho thư ký Tòa án. Trong cả 2 trường hợp cần phải nêu rõ đối tượng của sự tranh chấp và các bên tranh chấp.

2. Thư ký Tòa án nhanh chóng báo cáo cho tất cả các bên hữu quan.

3. Thư ký Tòa án cũng thông báo cho các thành viên Liên hợp quốc thông qua Tổng thư ký Liên hợp quốc, và bất cứ quốc gia nào khác đều có quyền tham gia phiên tòa.

Điều 41.

1. Nếu như, theo ý kiến của Tòa án, các tình tiết đòi hỏi, Tòa án có quyền nêu rõ những biện pháp tạm thời cần thiết để đảm bảo quyền của mỗi bên.

2. Từ lúc này cho đến khi có quyết định cuối cùng phải thông báo về các biện pháp đã đề xuất được chuyển đến các bên và Hội đồng bảo an.

Điều 42.

1. Các bên phát biểu thông qua đại diện của mình.

2. Họ có thể sử dụng trước Tòa án sự giúp đỡ của trạng sư, luật sư.

3. Các đại diện, luật sư, trạng sư đại diện cho các bên ở Tòa án được sử dụng quyền ưu đãi và bất khả xâm phạm cần thiết để họ thực hiện được nhiệm vụ của mình.

Điều 43.

1. Thủ tục xét xử bao gồm 2 phần: thủ tục viết và thủ tục nói.

2. Thủ tục viết bao gồm viết thông báo cho Tòa án và cho các bên các bản bị vong lục, và nếu cần, những câu trả lời các vấn đề đó cũng như tất cả các giấy tờ và tài liệu xác nhận các bản đó.

3. Tất cả các thông báo này được chuyển qua thư ký theo trình tự và thời hạn mà Tòa án đã quy định.

4. Mọi giấy tờ của một trong các bên đệ trình cần phải được báo cho phía bên kia bằng bản sao có chứng thực.

5. Thủ tục nói là Tòa án nghe các nhân chứng, các giám định viên, các đại diện, các luật sư và các trạng sư.

Điều 44.

1. Để chuyển tất cả các thông báo cho những người khác trừ các đại diện, luật sư, trạng sư thì Tòa án phải gửi trực tiếp cho chính phủ của quốc gia mà trên lãnh thổ quốc gia đó Tòa án muốn chuyển thông báo.

2. Nguyên tắc ấy cũng được áp dụng trong trường hợp khi cần thiết phải áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ tại chỗ.

Điều 45. Việc nghe vụ án được tiến hành dưới sự chủ trì của Chủ tịch hay nếu Chủ tịch không thể chủ trì được thì Phó Chủ tịch. Nếu như không có Chủ tịch, Phó Chủ tịch và không có ai có thể chủ trì thì Thẩm phán nhiều tuổi nhất có mặt sẽ chủ trì.

Điều 46. Việc nghe vụ án ở Tòa án được tiến hành công khai, nếu như không theo một quyết nghị khác của Tòa án hay nếu như các bên yêu cầu không cho phép khán giả được đến dự.

Điều 47.

1. Mỗi phiên họp xét xử đều ghi biên bản được Thư ký hay Chủ tịch ký.

2. Chỉ có biên bản đó mới là chính thức.

Điều 48. Tòa án điều khiển hướng đi của vụ án, xác định hình thức và thời hạn mà trong đó mỗi bên cần phải trình bày hết lý lẽ của mình, và áp dụng mọi biện pháp có liên quan đến vụ việc thu thập chứng cứ.

Điều 49. Thậm chí trước khi bắt đầu nghe vụ án, Tòa án có thể yêu cầu các đại diện đưa ra văn bản bất kỳ hay một sự giải thích, trong trường hợp từ chối phải lập biên bản.

Điều 50. Tòa án trong thời gian bất kỳ có thể giao việc tiến hành điều tra hay giám định cho một người bất kỳ, cho đồng sự, cho phòng, ủy ban hay cho một tổ chức nào khác do mình lựa chọn.

Điều 51. Trong khi nghe vụ án, tất cả các câu hỏi có liên quan đến vụ án được nêu ra cho các nhân chứng và các giám định viên phải theo đúng các điều kiện đã được Tòa án quy định trong Quy chế đã được nhắc tới trong điều 30.

Điều 52. Sau khi đã thu thập chứng cứ, trong thời hạn đã được ấn định để làm việc đó. Tòa án có thể không nhận tất cả các chứng cứ giấy tờ và lời nói mà một trong các bên muốn đưa ra không có sự thỏa thuận của bên kia.

Điều 53.

1. Nếu một trong các bên không trình diện trước Tòa án không đưa ra lý lẽ của mình thì bên kia có thể yêu cầu Tòa án giải quyết theo hướng có lợi cho mình.

2. Trước khi xác nhận lời thỉnh cầu đó, Tòa án có nhiệm vụ phải biết rõ không phải sự cần thiết của vụ án đối với Tòa án, theo các điều 36 và 37, mà cần phải thấy rõ là yêu sách đó có đủ cơ sở thực tế và pháp lý hay không.

Điều 54.

1. Khi các đại diện, các luật sư, trạng sư dưới sự chủ trì của Tòa án, trình bày xong lời giải thích của mình về vụ án, Chủ tịch tuyên bố là đã nghe hết.

2. Tòa án sẽ nghỉ để thảo luận quyết định.

3. Phần nghị án của Tòa án được tiến hành bằng các phiên họp không công khai và được giữ bí mật.

Điều 55.

1. Tất cả các vấn đề được quyết định bằng đại đa số số phiếu của Thẩm phán có mặt.

2. Trong trường hợp ngang bằng số phiếu thì phiếu của Chủ tịch hay Thẩm phán thay thế Chủ tịch có giá trị quyết định.

Điều 56.

1. Trong phán quyết cần phải đưa vào những ý kiến mà trên cơ sở đó ra phán quyết.

2. Phán quyết ghi tên các thẩm phán là những người thông qua phán quyết đó.

Điều 57. Nếu trong phán quyết từng phần hay toàn phần không biểu thị được ý kiến nhất trí của các Thẩm phán thì mỗi Thẩm phán có quyền nêu ý kiến riêng của mình.

Điều 58. Phán quyết được Chủ tịch và Thư ký Tòa án ký. Nó được đọc trong các phiên họp công khai của Tòa án sau khi thông báo chính thức cho các đại diện các bên.

Điều 59. Phán quyết của Tòa án chỉ có hiệu lực đối với các quốc gia tham gia vào vụ tranh chấp và coi trọng vụ tranh chấp đó.

Điều 60. Phán quyết đã làm xong thì không kháng cáo trong trường hợp có sự tranh cãi về ý nghĩa hay về phạm vi phán quyết thì Tòa án phải giải thích các vấn đề đó theo yêu cầu của bất kỳ bên nào.

Điều 61.

1. Yêu cầu phúc thẩm phán quyết có thể đưa ra trên cơ sở đó những tình tiết mới được phát hiện mà về tính chất của nó có ảnh hưởng quyết định đến xuất phát điểm của vụ tranh chấp và những tình tiết đó cả Tòa án, cả bên yêu cầu xem xét lại để không biết, với điều kiện tất yếu là việc không biết đó không phải là hậu quả của sự thiếu thận trọng.

2. Việc mở phúc thẩm là do quyết định của Tòa án khi xác nhận có tình tiết mới công nhận tính chất làm cơ sở cho việc phúc thẩm vụ tranh chấp và do đó thông qua yêu cầu về phúc thẩm.

3. Tòa án có thể yêu cầu để các điều kiện của phán quyết được thi hành, trước khi Tòa án tiến hành phúc thẩm vụ án

4. Yêu cầu phúc thẩm vẫn phải được công bố thời hạn chậm nhất là 6 tháng sau khi phát hiện ra các tình tiết mới.

5. Không một yêu cầu nào về phúc thẩm được xét sau 10 năm kể từ lúc ra phán quyết.

Điều 62.

1. Nếu như một quốc gia nào đó thấy rằng phán quyết về vụ tranh chấp có thể động chạm đến lợi ích nào đó có tính chất pháp lý của quốc gia đó thì nước đó có thể yêu cầu Tòa án quyết định cho tham gia vào vụ việc đó.

2. Quyết định một yêu cầu như vậy thuộc về Tòa án.

Điều 63.

1. Trong trường hợp xảy ra các vấn đề phải giải thích bản điều ước mà trong đó, trừ các bên hữu quan của vụ tranh chấp có các quốc gia khác tham gia, thư ký Tòa án phải nhanh chóng báo cho tất cả các quốc gia này.

2. Mỗi quốc gia trong số các quốc gia này sau khi đã nhận được thông báo, có quyền tham gia vào vụ việc, và nếu quốc gia đó sử dụng quyền này, thì việc giải thích được ghi trong phán quyết cũng nhất thiết như nhau.

Điều 64. Khi không có một quy định nào khác của Tòa án thì mỗi bên phải chịu án phí của riêng mình.

Chương 4.

NHỮNG KẾT LUẬN TƯ VẤN

Điều 65.

1. Tòa án có thể có những kết luận tư vấn về một vấn đề pháp luật bất kỳ nào theo yêu cầu của một cơ quan bất kỳ được chính Hiến chương Liên hợp quốc hay theo đúng bản quy chế này, cho toàn quyền được yêu cầu.

2. Các vấn đề mà kết luận tư vấn của Tòa án được sửa chữa dựa theo nó, được trình lên Tòa án bằng đơn trình bày chính xác vấn đề để yêu cầu kết luận, kèm theo tất cả tài liệu có thể dùng để làm sáng tỏ vấn đề.

Điều 66.

1. Thư ký Tòa án nhanh chóng báo tin về đơn có yêu cầu kết luận tư vấn cho tất cả các quốc gia có quyền tham gia vào Tòa án.

2.Ngoài ra, thư ký Tòa án bằng cách giữ đặc biệt và trực tiếp thông báo cho một quốc gia bất kỳ có quyền đến Tòa án cũng như cho một tổ chức quốc tế bất kỳ nào có thể (theo ý kiến của Chủ tịch Tòa án, nếu như Tòa án không họp) cung cấp những tin tức về vấn đề cụ thể nào đó, rằng Tòa án sẵn sàng nhận trong thời hạn Chủ tịch đã quy định, tất cả những tài liệu văn bản báo cáo bằng lời trong phiên họp công khai được triệu tập nhằm mục đích đó.

3. Nếu như quốc gia có quyền đến Tòa án không nhận được thông báo đặc biệt đã được nhắc nhở ở điểm 2 của điều này thì quốc gia đó có thể bày tỏ nguyện vọng được đệ trình bản báo cáo bằng văn bản hay được nghe Tòa án thông qua quyết định về các vấn đề đó.

4. Các quốc gia và các tổ chức đệ trình các bản báo cáo bằng văn bản hay bằng lời hay cả những quốc gia và những tổ chức này được phép thảo luận các bản báo cáo của các quốc gia hay các tổ chức khác ở hình thức, giới hạn và trong thời hạn do Tòa án hay nếu như Tòa án không họp, Chủ tịch Tòa án quy định trong từng trường hợp riêng biệt. Để đạt được mục đích này Thư ký Tòa án thông báo, trong thời hạn cần thiết, tất cả những bản báo cáo bằng văn bản đó cho các quốc gia và các tổ chức đã gửi những bản báo cáo tương tự.

Điều 67. Tòa án đưa ra kết luận tư vấn của mình trong phiên họp công khai đã được báo trước cho Tổng thư ký và các đại diện của các thành viên Liên hợp quốc trực tiếp có liên quan và cho đại diện của các quốc gia và các tổ chức quốc tế khác.

Điều 68. Trong khi thực hiện các chức năng tư vấn của mình. Tòa án, ngoài những điều đã nêu ra, lấy các phán quyết có liên quan đến các vụ việc tranh chấp trong quy chế này làm chủ đạo, ở mức độ mà Tòa án công nhận là chúng áp dụng được.

Chương 5.

SỬA ĐỔI

Điều 69. Những sửa đổi quy chế này được đưa vào theo đúng trình tự đã được Hiến chương Liên hợp quốc nêu lên đối với việc sửa đổi quy chế, tuy nhiên, phải tuân theo tất cả những nguyên tắc mà có thể được Đại hội đồng quy định theo đề nghị của Hội đồng bảo an về việc tham gia của các quốc gia không phải là thành viên của Liên hợp quốc nhưng lại là thành viên của quy chế.

Điều 70. Tòa án có quyền đề nghị những điều sửa đổi quy chế này mà Tòa án xét cần thiết, phải báo cáo bằng văn bản những điều đó cho Tổng thư ký để tiếp tục xem xét phù hợp với các nguyên tắc đã được trình bày ở điều 69.

NGUỒN DỊCH: LAWSOFT

>> Xem thêm:  Tư vấn xây dựng quy chế hoạt động cho doanh nghiệp

5. Nên lập tòa án hiến pháp ?

Theo các chuyên gia, tòa án này sẽ hoạt động độc lập và chỉ tuân theo Hiến pháp nhằm bảo vệ những quyền hiến định. “Ngành giáo dục từng cấm sinh viên ta tại Liên Xô (cũ) lấy vợ, lấy chồng. Đây là một quy định trái Hiến pháp, nếu có tài phán hiến pháp thì chắc chắn nó đã bị coi là vi hiến và phải bãi bỏ”

Nên lập tòa án hiến pháp ?

PGS-TS Đinh Văn Mậu (Phó Giám đốc Học viện Hành chính quốc gia) dẫn chứng trong cuộc hội thảo do Viện Nhà nước và pháp luật tổ chức mới đây khi nói về sự cần thiết phải có một cơ quan tài phán nhằm bảo vệ những quyền hiến định.

Còn những quyền chưa đi vào đời sống?

Tại cuộc hội thảo, các đại biểu đều nhất trí rằng Hiến pháp hiện hành của nước ta là một hiến pháp tiến bộ, trong đó đã ghi nhận được những quyền, nghĩa vụ thiêng liêng của công dân.

Tuy nhiên, theo PGS-TS Trương Đắc Linh (Đại học Luật TP.HCM), suốt một thời gian dài và cho đến nay vẫn còn một số quy định của Hiến pháp chưa đi vào cuộc sống. Chẳng hạn Điều 23 Hiến pháp 1992 quy định thể thức trưng mua, trưng dụng tài sản do luật định. Nhưng từ đó đến nay, việc giải tỏa đền bù tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức lại theo thể thức do nghị định của Chính phủ và quyết định của UBND cấp tỉnh quy định. Mãi đến ngày 3-6-2008, Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản mới được Quốc hội thông qua và chỉ có hiệu lực từ 1-1-2009.

Do thiếu hành lang pháp lý cụ thể nên không ít quyền hiến định đã không được bảo đảm thực thi hoặc thực thi một cách rất hạn chế. Chẳng hạn quyền được thông tin. Có vô số thông tin lẽ ra cần phải được công khai hoặc cung cấp khi yêu cầu nhưng người dân lại không được tạo điều kiện hoặc không được tiếp cận với nhiều lý do. Phải sau 17 năm Hiến pháp ghi nhận về quyền được thông tin, gần đây dự án Luật Tiếp cận thông tin mới bắt đầu được nghiên cứu, thực hiện.

Ngoài ra, theo PGS-TS Thái Vĩnh Thắng (Đại học Luật Hà Nội), một loạt quyền hiến định khác như quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý, quyền tự do lập hội… cũng chưa được cụ thể hóa để đi vào đời sống. Cạnh đó, có không ít quyền hiến định còn bị “cắt xén” bởi những văn bản pháp luật vi hiến. Một ví dụ điển hình được PGS-TS Trương Đắc Linh chỉ ra là Thông tư 02 ngày 13-1-2003 của Bộ Công an quy định mỗi người chỉ được đăng ký một xe máy. Theo ông Linh, quy định này rõ ràng trái với Điều 58 Hiến pháp 1992: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất…”. Phải hai năm sau, khi người dân kêu ca, phàn nàn và báo chí lên tiếng, Bộ Công an mới tự hủy bỏ quy định vi hiến này.

.Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Chọn mô hình bảo hiến nào?

Hiến pháp đã giao cho tất cả cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương đều có thẩm quyền bảo đảm thi hành Hiến pháp thông qua việc kiểm tra, giám sát, xử lý các văn bản vi hiến, trong đó Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao.

Thế nhưng theo PGS-TS Trương Đắc Linh, cơ chế giám sát này đã tỏ ra không hữu hiệu”. GS-TS Trần Ngọc Đường (Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội) cũng thừa nhận hoạt động bảo hiến của Quốc hội “rất khó thực hiện do lẫn lộn giữa chức năng lập pháp và tư pháp”. Đặc biệt sẽ rất khó thực hiện với chính cơ chế giám sát tối cao của Quốc hội, nghĩa là không ai ngoài Quốc hội có thể thực hiện quyền giám sát đối với Quốc hội nếu cơ quan này cũng có hành vi bất hợp hiến. Theo PGS-TS Nguyễn Đăng Dung (Đại học Quốc gia Hà Nội), trên thực tế Quốc hội chưa hủy đạo luật nào của mình vì lý do đạo luật đó bất hợp hiến mà chỉ có hoạt động sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật. “Đây đơn giản chỉ là hoạt động lập pháp của Quốc hội, không phải là một hoạt động bảo hiến” – ông Dung nhấn mạnh.

Yêu cầu bảo hiến bằng một cơ chế hữu hiệu hơn trở thành một vấn đề bức thiết. Các chuyên gia đã đưa ra ba phương án: Một, thành lập Ủy ban giám sát Hiến pháp trực thuộc Quốc hội; hai, trao quyền bảo vệ Hiến pháp cho TAND tối cao; ba, thành lập một tòa án hiến pháp độc lập.

Hầu hết các ý kiến đều đề xuất chọn phương án sau cùng. Điều này cũng phù hợp với đường lối của Đảng khi Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X (tháng 4-2006) đã đặt ra nhiệm vụ “xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp”…

Theo các chuyên gia, tòa án này sẽ có thẩm quyền phán quyết các tranh chấp liên quan đến các vấn đề hiến định trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp theo nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo Hiến pháp. Đây cũng là mô hình phổ biến của các nhà nước dân chủ trên thế giới mà với vai trò to lớn của mình, tòa hiến pháp được giới học thuật tặng cho cái tên là “vương miện” của nhà nước pháp quyền.

Để thực hiện, các chuyên gia cho rằng cần sửa đổi Hiến pháp. Ngoài ra, theo PGS-TS Nguyễn Như Phát (Viện trưởng Viện Nhà nước và pháp luật), chánh án, thẩm phán của tòa hiến pháp nên được bổ nhiệm sau khi Quốc hội chuẩn y và với nhiệm kỳ duy nhất (không tái bổ nhiệm), có thể kéo dài 10-15 năm để đảm bảo được tính độc lập trong công việc…

Tòa hiến pháp trên thế giới

Theo PGS-TS Trương Đắc Linh, tòa hiến pháp đã trở thành một mô hình phổ biến trên thế giới. Nếu như năm 1978 chỉ có 26% các bản hiến pháp trên thế giới quy định việc thành lập tòa án hiến pháp thì đến năm 2005, con số này đã là xấp xỉ 44% và có mặt tại hơn 3/4 quốc gia.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM - NGUYỄN TIẾN TÀI

Trích dẫn từ: http://www.phapluattp.vn/

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Tư vấn xây dựng quy chế cho doanh nghiệp