Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục tư vấn của công ty chúng tôi. Chúng tôi xin phép được trả lời câu hỏi của bạn như sau

1. Cơ sở pháp lý:  

Luật thi hành án hình sự 2010

Bộ luật hình sự 2009 (sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự 1999)

Nghị quyết 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt

Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật thi hành án hình sự về truy nã

2. Nội dung tư vấn:

Khi tòa án ra quyết định thi hành án với người tại ngoại thì văn bản hướng dẫn trách nhiệm việc theo dõi người bị thi hành án có thực hiện việc thi hành án hay không được quy định tại Luật thi hành án hình sự 2010

Khoản 4 Điều 22 Luật thi hành án hình sự 2010 quy định

"Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại thì trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, người chấp hành án phải có mặt tại trụ sở cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu được chỉ định trong quyết định thi hành án. Quá thời hạn trên mà người đó không có mặt, Cảnh sát hỗ trợ tư pháp hoặc Cảnh vệ tư pháp thực hiện áp giải thi hành án"

Khoản 4 Điều 22 Luật thi hành án hình sự còn được hướng dẫn bởi Khoản 1 Điều 10 Thông tư liên tịch13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC 

"Người bị kết án phạt tù đang được tại ngoại, khi có quyết định thi hành án nhưng bỏ trốn thì Tòa án đã ra quyết định thi hành án có văn bản yêu cầu Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người bị kết án phạt tù được tại ngoại ra quyết định truy nã."

Nếu như Công an không thông báo cho Tòa án biết người bị kết án không thực hiện việc thi hành án thì trách nhiệm thuộc về Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người bị kết án phạt tù được tại ngoại.

Khoản 1 Điều 61 Bộ luật Hình sự quy định có 04 trường hợp người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt. Trong đó, có căn cứ người bị xử phạt tù bị bệnh nặng được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục.

Đối với việc xác định người bị xử phạt tù bị bệnh nặng để được hoãn chấp hành hình phạt tù, điểm a tiểu mục 7.1 Mục 7 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt quy định  

“Người bị bệnh nặng” là người “bị bệnh đến mức không thể đi chấp hành hình phạt tù được và nếu bắt đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ; do đó, cần thiết phải cho họ được hoãn chấp hành hình phạt tù để họ có điều kiện chữa bệnh; ví dụ: ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ chướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3 trở lên, suy thận độ 4 trở lên, HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu... Phải có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về việc người bị xử phạt tù bị bệnh nặng và nếu bắt họ đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ.”

Như vậy, bệnh tim sẽ được tính là bệnh nặng nếu như suy tim độ 3 trở lên và phải có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về việc người bị thi hành án bị bệnh nặng và nếu chấp hành hình phạt tù thì sẽ gây nguy hiểm tính mạng của họ.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê