1. Các loại thư tín dụng thương mại

        Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ đã được lựa chọn nhiều nhất làm phương thức thanh toán quốc tế. Tuy nhiên, để phù hợp với từng tình huống hoàn cảnh cụ thể nảy sinh giữa các bên trong quá trình thanh toán quốc tế do đặc thù tập quán các nước, do điều kiện và mối quan hệ hợp tác khác nhau, theo quy ước quốc tế có nhiều loại thư tín dụng khác nhau để chúng ta có thể lựa chọn loại thư tín dụng phù hợp nhất với từng yêu cầu thanh toán cụ thể. 
Một số vấn đề về vai trò của phương thức tín dụng chứng từ trong thanh toán quốc tế?

1.1 Phân loại theo tính chất 

Căn cứ vào tính chất có các loại thư tín dụng sau:
      - Thư tín dụng có thể hủy ngang (Revocable L/C): Là một thư tín dụng mà sau khi được mở thì tổ chức nhập khẩu có thể sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho người hưởng lợi L/C. Loại thư tín dụng này ít được sử dụng bởi vì L/C có thể hủy bỏ chỉ là một lời hứa không có cam kết đảm bảo một cách chắc chắn.
   -  Thư tín dụng không thể hủy ngang (Irrevocable letter of credit): Là loại thư tín dụng mà sau khi được mở thì ngân hàng mở L/C phải chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho tổ chức xuất khẩu và tổ chức nhập khẩu sẽ không được tự ý sửa đổi, bổ sung hay hủy bỏ những nội dung của L/C nếu không có sự đồng ý của tổ chức xuất khẩu. Loại L/C không hủy ngang đảm bảo quyền lợi cho bên xuất khẩu và hiện nay đang được sử dụng phổ biến. Một điểm cần chú ý rằng nếu L/C không ghi là hủy hay không được hủy bỏ, thì nó đương nhiên được thừa nhận là không thể hủy bỏ (Điều 3 UCP 600-ICC 2006)

1.2 Phân loại theo thòi hạn thanh toán

Căn cứ vào thời hạn thanh toán, có hai loại thư tín dụng sau:
- Thư tín dụng trả ngay (L/C at sight): Là loại thư tín dụng trong đó người xuất khẩu sẽ được thanh toán ngay khi xuất trình các chứng từ phù hợp với điều khoản quy định trong Thư tín dụng tại ngân hàng chỉ định thanh toán. Trong trường hợp này người xuất khẩu sẽ ký phát hối phiếu trả ngay để yêu cầu thanh toán.
- Thư tín dụng trả chậm (Deffered payment L/C): Là loại thư tín dụng không hủy ngang trong đó quy định ngân hàng mở L/C cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán toàn bộ số tiền L/C vào thời hạn cụ thể trong tương lai ghi trên L/C sau khi nhận được chứng từ và không cần hối phiếu. Khi chỉ định một ngân hàng thanh toán trả chậm, ngân hàng phát hành cho phép ngân hàng đó thực hiện thanh toán bộ chứng từ được xuất trình phù hợp với quy định trong Thư tín dụng vào một thời điểm xác định trong tương lai đã nêu trong thư tín dụng. Đồng thời, ngân hàng phát hành cũng cam kết bồi hoàn cho ngân hàng thanh toán đúng thời hạn.

2. Một số loại thư tín dụng đặc biệt

- Thư tín dụng không thể hủy ngang có xác nhận (Confirmed irrevocable letter of credit): Là loại thư tín dụng không thể hủy ngang và được một ngân hàng thứ ba đứng ra bảo đảm việc trả tiền theo thư tín dụng đó cùng với ngân hàng mở L/C. Điều đó có nghĩa là Ngân hàng xác nhận chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho người xuất khẩu, nếu như Ngân hàng mở thư tín dụng không trả tiền được. Sở dĩ có loại thư tín dụng này là do phòng trường hợp tổ chức xuất khẩu không hoàn toàn tin tưởng vào nhà nhập khẩu cũng như Ngân hàng mở L/C và giá trị L/C tương đối lớn.
- Thư tín dụng không thể hủy ngang và không được truy đòi lại tiền (Irrevocable without recourse letter of credit): Là loại thư tín dụng không thể hủy bỏ trong đó quy định Ngân hàng mở L/C sau khi đã thanh toán cho tổ chức xuất khẩu thì không được quyền truy đòi lại tiền với bất cứ lý do nào. Khi sử dụng loại L/C này tổ chức xuất khẩu khi ký phát hối phiếu phải ghi câu “không được truy đòi lại tiền người ký phát” (Without recourse to drawers)
- Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving letter of credit): Là loại L/C không thể hủy bỏ, sau khi sử dụng hết kim ngạch hoặc hết hiệu lực của L/C thì nó có lại tự động có giá trị như cũ và cứ như vậy L/C tuần hoàn đến khi nào hoàn tất trị giá hợp đồng. Loại L/C này thường được áp dụng khi hai bên xuất khẩu và nhập khẩu có quan hệ thường xuyên và đối tượng thanh toán không thay đổi. Nếu sử dụng L/C này tổ chức nhập khẩu sẽ không bị động vốn và giảm được phí tổn do việc mở L/C.
- Thư tín dụng giáp lưng (Back to back letter of credit): Là loại thư tín dụng không thể hủy bỏ do người xuất khẩu yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một thư tín dụng phát hành một thư tín dụng khác cho người khác hưởng căn cứ vào một thư tín dụng đã được phát hành trước đó làm đảm bảo. Loại thư tín dụng này thường được sử dụng trong những trường hợp như L/C gốc (Master L/C) không cho phép chuyển nhượng, khi các chứng từ cần có theo L/C gốc không trùng hợp với các chứng từ của L/C thứ hai, hay khi người trung gian muốn bí mật một số thông tin. Nội dung thư tín dụng gốc và thư tín dụng thứ hai hoàn toàn độc lập với nhau. Nghiêp vụ thư tín dụng giáp lưng rất phức tạp, đòi hỏi phải có sự kết hợp khéo léo và chính xác các điều kiện của thư tín dụng gốc và thư tín dụng giáp lưng. Loại thư tín dụng này thường được sử dụng trong mua bán hàng hóa trung gian.
-  Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C): Là lọai L/C không thể hủy bỏ, chỉ có giá trị khi một L/C khác đối ứng với nó được mở. Loại L/C đối ứng được sử dụng trên cơ sở hàng đổi hàng hoặc gia công hàng hóa.
- Thư tín dụng với điều khoản đỏ (Red clause L/C): Là loại thư tín dụng có điều khoản đặc biệt, trong đó người yêu cầu phát hành thư tín dụng thông qua ngân hàng phát hành đồng ý cho phép tổ chức xuất khẩu được quyền tháo khoán trước một số tiền nhất định trước khi họ xuất trình đầy đủ chứng từ hợp lệ theo đúng thời gian quy định. Loại thư tín dụng này thường được sử dụng trong quan hệ mua bán giữa hai công ty mẹ-con, tài trợ cho người xuất khẩu để chuẩn bị hàng hóa.
- Thư tín dụng dự phòng (Stand – by L/C): Để đảm bảo quyền lợi cho người nhập khẩu tránh trường hợp người xuất khẩu không giao hàng đúng hợp đồng, đơn vị nhập khẩu yêu cầu đơn vị xuất khẩu mở một thư tín dụng dự phòng trong đó cam kết Ngân hàng mở thư tín dụng dự phòng sẽ thanh toán tiền đền bù thiệt hại cho đơn vị nhập khẩu nếu người xuất khẩu không đảm bảo nghĩa vụ giao hàng theo Thư tín dụng quy định.
- L/C có thể chuyển nhượng được (Irrevocable Tranferable L/C): là loại L/C không thể hủy ngang, trong đó quy định quyền được chuyển nhượng một phần hay toàn bộ trị giá L/C cho một hay nhiều người khác theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên. Tuy nhiên việc chuyển nhượng chỉ được phép tiến hành một lần, do vậy không thể chuyển nhượng theo yêu cầu của người hưởng lợi thứ hai cho bất kỳ người hưởng lợi thứ ba nào khác. Điều đó có nghĩa là chỉ cho phép tái chuyển nhượng cho người thứ nhất trừ khi trong L/C có quy định không hạn chế chuyển nhượng (theo điều 38 UCP 600). L/C này thường được sử dụng khi mua hàng qua các đại lý, mua hàng qua trung gian, hàng do các công ty con, chi nhánh giao nhưng người hưởng lợi là công ty mẹ. Trong trường hợp người thứ hai không giao hàng hoặc giao hàng không đúng hay chứng từ không hoàn hảo, thì người hưởng lợi thứ nhất phải chịu trách nhiệm về phía bên xuất khẩu theo hợp đồng đã ký vì thế cho nên loại thư tín dụng này chứa nhiều rủi ro cho người mở thư tín dụng cũng như người được chuyển nhượng do không có sự hiểu biết lẫn nhau. Tuy nhiên loại thư tín dụng chuyển nhượng hiện nay được áp dụng rộng rãi và phổ biến trong thanh toán quốc tế, ngoài ra sau khi gia nhập WTO hoạt động kinh doanh mua bán hàng qua trung gian ở nước ta cũng đang trên đà phát triển. Vì vậy, Ngân hàng cần tích cực nghiên cứu và áp dụng để đa dạng hóa sản phẩm phục vụ và bắt kịp với hoạt động thanh toán quốc tế của thế giới.

3. Đặc  điểm và vai trò của phương thức tín dụng chứng từ

3.1 Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ liên quan đến ba quan hệ hợp đồng độc lập

Quan hệ giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu.
        Là mối quan hệ được thể hiện thông qua hợp đồng mua bán. Hợp đồng này làm cơ sở cho việc phát hành thư tín dụng. Theo hợp đồng này, người nhập khẩu phải mở thư tín dụng đúng thời hạn và phù hợp với nội dung của hợp đồng mua bán cho người xuất khẩu hưởng, bên cạnh đó người xuất khẩu cũng có nghĩa vụ giao hàng theo đúng hợp đồng và lập bộ chứng từ xuất trình cho ngân hàng để được thanh toán.
Quan hệ giữa người mở thư tín dụng với ngân hàng phát hành
     Thỏa thuận xin mở thư tín dụng giữa người mở thư tín dụng (người nhập khẩu) là một hợp đồng kinh tế dịch vụ. Người nhập khẩu phải làm đơn yêu cầu phát hành thư tín dụng, trả một khoản phí mở thư tín dụng và ký quỹ một số tiền nhất định tùy theo quy định của ngân hàng. Trong đơn phát hành thư tín dụng phải ghi rõ nội dung cụ thể về hàng hóa, điều kiện xuất trình chứng từ. Ngân hàng căn cứ vào đó mở thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng và chịu trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người xuất khẩu trình. Nếu chứng từ hoàn toàn phù hợp với L/C thì ngân hàng sẽ nhận chứng từ và thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu, tiếp đến là thu lại tiền của người nhập khẩu và giao chứng từ lại cho người nhập khẩu đi nhận hàng.
Quan hệ giữa ngân hàng phát hành với người xuất khẩu.
    Quan hệ giữa ngân hàng phát hành với người xuất khẩu thông qua thư tín dụng trong đó cam kết ngân hàng phát hành thư tín dụng cam kết trả tiền cho người hưởng lợi nếu người này thực hiện đúng những quy định đề ra trong thư tín dụng. Thư tín dụng có tính độc lập, vì vậy mặc dù được mở dựa trên cơ sở hợp đồng mua bán nhưng sau khi ra đời lại không có bất cứ sự ràng buộc nào với hợp đồng mua bán và các hợp đồng khác, thậm chí ngay cả khi thư tín dụng có dẫn chiếu đến hợp đồng đó. Tính độc lập của thư tín dụng còn thể hiện ở chỗ trách nhiệm của ngân hàng phát hành khi hợp đồng mua bán đã được hủy bỏ nhưng thư tín dụng vẫn còn hiệu lực. Nghĩa vụ của ngân hàng phát hành thư tín dụng đối với người hưởng lợi không phụ thuộc vào việc người hưởng lợi có thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đối với hợp đồng mua bán hay không mà nó phụ thuộc vào khả năng xuất trình chứng từ phù hợp với thư tín dụng của người xuất khẩu. Do đó, người xuất khẩu sau khi kiểm tra thư tín dụng nếu phát hiện ra điều khoản nào chưa phù hợp phải yêu cầu người nhập khẩu sửa đổi, bổ sung. Nếu chứng từ phù hợp với L/C, ngân hàng phải thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu. Trong điều 4 và 5 của UCP 600 nêu rõ: “Về bản chất, tín dụng là một giao dịch riêng biệt với các hợp đồng khác mà các hợp đồng này có thể làm cơ sở của tín dụng. Các ngân hàng không liên quan đến hoặc bị ràng buộc bởi các hợp đồng như thế, thậm chí ngay cả trong tín dụng có bất cứ sự dẫn chiếu nào đến các hợp đồng như thế.”

3.2 Vai trò của phương thức tín dụng chứng từ trong thanh toán quốc tế

Trong quan hệ mua bán một điều dễ nhận thấy một tâm lý chung là người mua luôn muốn nhận được hàng rồi mới trả tiền, còn người bán luôn muốn giao hàng xong là được thanh toán tiền hàng ngay. Điều đó có thể giải quyết được đối với hợp đồng nội địa, còn đối với hợp đồng mua bán ngoại thương, do khoảng cách về không gian giữa người mua và người bán nên việc giải quyết mối quan hệ này gặp không ít khó khăn. Vậy để khắc phục được những khó khăn nói trên, buộc người mua và người bán phải lựa chọn cho mình một phương thức thanh toán phù hợp sao cho có thể đảm bảo đôi bên cùng có lợi. Thế nhưng, phương thức nhờ thu và chuyển tiền rõ ràng đã bộc lộ những hạn chế của nó, vì thế người ta phải đi tới biện pháp thỏa hiệp, đó là trả tiền khi giao chứng từ chứng nhận quyền sở hữu hay quyền kiểm soát hàng hóa và có một bên thứ ba đứng ra làm trung gian được cả người xuất khẩu và nhập khẩu tín nhiệm thay họ đứng ra chịu trách nhiệm trả tiền và giao chứng từ.
Các ngân hàng với khả năng tài chính dồi dào, uy tín cao được ủy thác với vai trò trung gian nói trên, cam kết có điều kiện với người xuất khẩu là sẽ trả tiền nếu người xuất khẩu xuất trình chứng từ và tuân thủ đúng theo mọi quy định mà người nhập khẩu đề ra. Như vậy, sự tham gia của ngân hàng vào phương thức tín dụng chứng từ đã đảm bảo cho lợi ích của nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu.

3.2.1 Đối với người xuất khẩu

Như đã phân tích ở trên, phương thức tín dụng chứng từ độc lập với hợp đồng mua bán và các hợp đồng làm cơ sở cho thư tín dụng khác. Vì thế, khi nhà xuất khẩu đã giao hàng và tập hợp được bộ chứng từ phù hợp L/C, việc được thanh toán là chắc chắn. Dù bất cứ trường hợp phát sinh, ví dụ như hàng hóa bị tổn thất trên đường vận chuyển thì việc hai bên giải quyết đền bù cũng không thể cản trở việc ngân hàng phát hành thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu. Rất có thể xảy ra trường hợp người nhập khẩu gặp rủi ro dẫn đến mất khả năng thanh toán hoặc là diễn biến giá cả thị trường không có lợi, người nhập khẩu muốn trì hoãn thậm chí muốn từ chối nhận hàng và thanh toán tiền, gây bất lợi cho người xuất khẩu nhưng với phương thức tín dụng chứng từ thì người xuất khẩu vẫn chắc chắn nhận được tiền của ngân hàng. Nếu như vậy, tất cả chỉ còn phụ thuộc vào việc nhà xuất khẩu có thể xuất trình được bộ chứng từ hoàn hảo hay không. Ngân hàng phục vụ người xuất khẩu sẽ tư vấn làm sao người xuất khẩu xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với thư tín dụng.. Một điều có lợi nữa đối với người xuất khẩu là khi thư tín dụng đã được mở thì người xuất khẩu đã phải có giấy phép chuyển ngoại tệ ra nước ngoài của cơ quan quản lý ngoại hối, điều này có nghĩa là người xuất khẩu sẽ tránh được rủi ro về quản lý ngoại hối của nước nhập khẩu. Còn đối với các phương thức thanh toán khác như phương thức chuyển tiền (sau khi giao hàng) hay phương thức nhờ thu thì nếu có sự thay đổi nào về quản lý ngoại hối tại nước nhập khẩu đối với đồng tiền thanh toán đã thỏa thuận thì người xuất khẩu sẽ hoàn toàn phải gánh chịu rủi ro này.

3.2.2 Đối với nhà nhập khẩu

Khi người xuất khẩu và người nhập khẩu chưa có sự tín nhiệm lẫn nhau, chắc chắn một điều là người xuất khẩu không muốn giao hàng trước khi nhận được tiền. Tất nhiên, người nhập khẩu cũng không hề muốn trả tiền khi chưa nhận được hàng, như thế sẽ nắm đường chuôi nếu bên xuất khẩu không giao hàng, mặt khác nếu là loại hàng hóa nhà xuất khẩu phải sản xuất xong mới có thể giao hàng được thì người nhập khẩu sẽ bị chiếm dụng vốn trong một thời gian dài. Một lần nữa phương thức thanh toán quốc tế tín dụng chứng từ lại chứng tỏ tính ưu việt nổi trội, ngoài việc đứng ra cam kết thanh toán tiền cho người xuất khẩu, Ngân hàng cũng sẽ tư vấn cho nhà nhập khẩu về những điều khoản trong hợp đồng để xây dựng một thư tín dụng chặt chẽ, có lợi, đảm bảo nhận được hàng đúng thời hạn được đề ra. Ngân hàng sẽ kiểm tra bộ chứng từ đó có phù hợp với thông lệ quốc tế và luật pháp của từng nước hay không, đồng thời người nhập khẩu cũng kiểm soát được chất lượng cũng như xuất xứ hàng hóa thông qua chứng từ do nhà xuất khẩu xuất trình do cơ quan kiểm định độc lập cấp. 
Ngoài ra, một điều mà chúng ta chỉ có thể đạt được ở phương thức thanh toán chứng từ là sau khi nhà nhập khẩu đã tạo được sự tín nhiệm với ngân hàng thì thông thường họ sẽ được Ngân hàng cấp cho một hạn mức miễn ký quỹ mở L/C cho khách hàng. Được Ngân hàng đứng ra đảm bảo sẽ giúp nhà nhập khẩu tránh được việc ứ đọng vốn cũng như tránh được rủi ro sẽ bị chiếm dụng vốn.
Nói chung, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán sòng phẳng đảm bảo quyền lợi một cách hợp lý cho cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu, mà lợi ích lớn nhất là lợi ích đối kháng của cả hai bên thông qua việc làm cho thời gian trả tiền phù hợp với thời hạn giao hàng. Ngày nay, thương mại quốc tế đang phát triển với quy mô và tốc độ chóng mặt, các mối quan hệ mua bán trao đổi hàng hóa ngày càng mở rộng, do vậy các hình thức giao dịch ngày càng phong phú và đa dạng, điều đó kéo theo nhiều thách thức và rủi ro phát sinh. Một trong những rủi ro thường xảy ra là rủi ro liên quan đến việc thanh toán. Các ưu điểm đặc trưng của phương thức tín dụng chứng từ đã lý giải lý do tại sao phương thức này được sử dụng phổ biến rộng rãi và đã trở thành một tác nhân quan trọng giúp phát triển buôn bán quốc tế và nền kinh tế quốc gia nói chung và nâng cao uy tín, vị trí và năng lực dich vụ thanh toán của ngân hàng nói riêng.

3.2.3 Đối với ngân hàng

Độc lập với hợp đồng mua bán ngoại thương được ký kết giữa các bên, các ngân hàng tham gia phương thức thanh toán tín dụng chứng từ với tư cách là bên cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế, vì vậy, ngân hàng hoàn toàn không bị ràng buộc bởi các tranh chấp liên quan tới tình trạng hàng hoá cũng như các tranh chấp phát sinh xảy ra giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu sau khi người nhập khẩu đã thanh toán tiền cho ngân hàng.
Các quy định ký quỹ L/C cho các doanh nghiệp mở L/C còn giúp ngân hàng phát hành có được một nguồn vốn đáng kể, đặc biệt đối với những trường hợp ký quỹ 100% giá trị L/C sẽ thúc đẩy các hoạt động tín dụng cho vay của ngân hàng như là cho vay xuất nhập khẩu, bảo lãnh, xác nhận v.v… Bởi vì, các doanh nghiệp thường không thể xoay vòng vốn được ngay mà bắt buộc phải vay tại ngân hàng phát hành L/C, một mặt để tiến hành quy trình thanh toán được thuận lợi, mặt khác sẽ tạo được mối quan hệ lâu dài giữa ngân hàng và các doanh nghiệp.
Ngoài ra, thông qua nghiệp vụ thanh toán bằng L/C nên ngân hàng sẽ có một nguồn thu ổn định từ việc mở, sửa đổi, điều chỉnh L/C, phí thông báo, xác nhận L/C. Nhìn vào quy trình thanh toán L/C cho thấy nghiệp vụ thanh toán L/C khá phức tạp, đòi hỏi trình độ nghiệp vụ cao, có thể nói là cao nhất trong các nghiệp vụ ngân hàng, do đó, các khoản phí liên quan khá cao, tạo nên một dịch vụ độc quyền và nguồn thu đáng kể cho ngân hàng.
  Tuy nhiên, điều lớn nhất mà phương thức thanh toán L/C mang lại cho ngành ngân hàng là tham gia phương thức này sẽ làm cơ sở để ngân hàng cũng cố mối quan hệ với các ngân hàng nước ngoài, từ đó có cơ hội phát triển, quảng bá, mở rộng mạng lưới mang tính toàn cầu. Đồng thời, giúp ngân hàng đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ ngân hàng thông qua các mối quan hệ, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm và đặc biệt thông qua cạnh tranh để hệ thống ngân hàng trên toàn thế giới không ngừng hoàn thiện để theo kịp sự phát triển chung, nâng cao uy tín và tầm quan trọng trên thị trường tài chính Tín dụng quốc tế.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật thuế - Công ty luật Minh Khuê