1. Bán thuốc hết hạn sử dụng có bị cấm không?

Việc bán thuốc đã hết hạn sử dụng là một hành vi mà pháp luật nghiêm cấm với mục đích bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của người tiêu dùng. Theo quy định của khoản 31 Điều 2 Luật Dược 2016, hạn dùng của thuốc được xác định là thời gian sử dụng ấn định cho mỗi loại thuốc, và sau khi hạn dùng này kết thúc, thuốc không còn được phép sử dụng nữa.

Hạn dùng của thuốc được biểu diễn thông qua một khoảng thời gian tính từ ngày sản xuất đến ngày hết hạn, hoặc thông qua ngày, tháng, năm hết hạn. Trong trường hợp hạn dùng chỉ được thể hiện bằng tháng và năm, thì hạn dùng sẽ được tính đến ngày cuối cùng của tháng hết hạn.

Bên cạnh đó, theo quy định của Điều 6 Luật Dược 2016, các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực dược bao gồm:

- Kinh doanh dược mà không có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược.

- Kinh doanh dược tại nơi không phải là địa điểm kinh doanh dược đã đăng ký.

- Kinh doanh các loại thuốc không đúng mục đích hoặc không cung cấp đúng đối tượng mà cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép.

- Kinh doanh dược không thuộc phạm vi chuyên môn được ghi trong Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược.

Và một trong những hành vi bị nghiêm cấm đó là bán thuốc đã hết hạn sử dụng, thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng, hoặc thuốc đã có thông báo thu hồi từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều này là để đảm bảo rằng người tiêu dùng chỉ sử dụng những sản phẩm dược phẩm an toàn và có hiệu quả.

Vi phạm hành vi này cũng sẽ chịu một loạt các biện pháp xử lý nghiêm khắc, nhằm đảm bảo tuân thủ luật pháp và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng

 

2. Xử phạt thế nào đối với tổ chức sử dụng trang thiết bị y tế đã hết hạn sử dụng 

Tổ chức sử dụng trang thiết bị y tế đã hết hạn sử dụng có thể phải đối mặt với mức phạt vi phạm hành chính theo quy định của Điều 79 Nghị định 117/2020/NĐ-CP. Cụ thể, theo đó:

- Nếu tổ chức không báo cáo về các trường hợp trang thiết bị y tế có lỗi và các thông tin khác theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức này có thể bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

- Trong trường hợp tổ chức không lập, quản lý, lưu trữ đầy đủ hồ sơ về trang thiết bị y tế; không thực hiện hạch toán kịp thời, đầy đủ trang thiết bị y tế về hiện vật và giá trị theo quy định hiện hành của pháp luật về kế toán, thống kê và quy định khác của pháp luật có liên quan hoặc sử dụng, vận hành trang thiết bị y tế không theo đúng hướng dẫn của chủ sở hữu trang thiết bị y tế, tổ chức này có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

- Trong trường hợp không thực hiện định kỳ bảo dưỡng, kiểm định, hiệu chuẩn theo hướng dẫn của chủ sở hữu trang thiết bị y tế hoặc quy định của pháp luật, tổ chức này có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

- Nếu sử dụng trang thiết bị y tế không có giấy đăng ký lưu hành, giấy phép nhập khẩu, đã hết hạn sử dụng, không bảo đảm chất lượng, tổ chức này có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 4 Nghị định 117/2020/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với tổ chức sẽ là gấp đôi mức phạt tiền đối với cá nhân. Do đó, tổ chức sử dụng trang thiết bị y tế đã hết hạn sử dụng có thể phải đối mặt với mức phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng

 

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xử phả tổ chức sử dụng trang thiết bị y tế đã hết hạn sử dụng không?

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện được ủy quyền một loạt các thẩm quyền, trong đó bao gồm quyền xử phạt các tổ chức vi phạm hành chính trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực y tế. Căn cứ vào quy định tại Điều 103 Nghị định 117/2020/NĐ-CP, đã được sửa đổi bởi điểm b khoản 27 Điều 2 Nghị định 124/2021/NĐ-CP, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xử phạt các tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế với mức phạt tiền có thể lên đến 50.000.000 đồng.

Theo quy định cụ thể, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền xử phạt tiền đối với các vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, bao gồm cả việc sử dụng trang thiết bị y tế đã hết hạn sử dụng. Với hành vi này, mức phạt tiền có thể lên đến 50.000.000 đồng đối với cá nhân và gấp đôi tức là 100.000.000 đồng đối với tổ chức, như đã quy định tại khoản 6 Điều 4 Nghị định 117/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 4 Điều 2 Nghị định 124/2021/NĐ-CP.

Trong trường hợp cụ thể của tổ chức sử dụng trang thiết bị y tế đã hết hạn sử dụng, với mức phạt tiền tối đa là 60.000.000 đồng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xử phạt tổ chức này với mức phạt tương ứng. Điều này có thể thực hiện dựa trên quyền hạn của Chủ tịch như quy định trong pháp lý, mà nói rõ về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và các biện pháp khác nhằm đảm bảo tuân thủ luật pháp và góp phần vào sự quản lý chặt chẽ hơn trong lĩnh vực y tế.

Với sự chặt chẽ trong việc áp dụng và tuân thủ các quy định pháp lý, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tuân thủ các quy định về sử dụng trang thiết bị y tế, đặc biệt là việc ngăn chặn việc sử dụng các trang thiết bị đã hết hạn sử dụng. Điều này cũng góp phần vào việc bảo vệ sức khỏe của cộng đồng và tăng cường an ninh y tế.

 

4. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức sử dụng trang thiết bị y tế đã hết hạn sử dụng

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với các tổ chức sử dụng trang thiết bị y tế đã hết hạn sử dụng là một khía cạnh quan trọng trong quá trình thi hành pháp luật. Theo quy định của điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, được điều chỉnh và bổ sung bởi điểm a khoản 4 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được cụ thể hóa.

Trong hầu hết các trường hợp, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức sử dụng trang thiết bị y tế đã hết hạn sử dụng là 01 năm. Điều này áp dụng cho đa số các lĩnh vực và hoạt động kinh doanh, trừ một số trường hợp đặc biệt được quy định cụ thể. Chẳng hạn, vi phạm hành chính liên quan đến kế toán, hóa đơn, phí, lệ phí, kinh doanh bảo hiểm, quản lý giá, chứng khoán, sở hữu trí tuệ, xây dựng, thủy sản, lâm nghiệp, điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước, hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác, bảo vệ môi trường, năng lượng nguyên tử, quản lý, phát triển nhà và công sở, đất đai, đê điều, báo chí, xuất bản, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa, sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả, và quản lý lao động ngoài nước.

Trong những trường hợp nêu trên, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm. Điều này nhấn mạnh tới sự nghiêm túc và phức tạp của các vi phạm hành chính trong các lĩnh vực như thuế và quản lý tài nguyên. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính cụ thể hơn trong các lĩnh vực cụ thể được quy định bởi pháp luật về quản lý thuế.

Với việc xác định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, cơ quan chức năng có thể tiến hành các biện pháp xử lý đúng thời hạn và đảm bảo tính công bằng trong quá trình thi hành pháp luật. Điều này không chỉ giúp duy trì trật tự, an toàn xã hội mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và phát triển bền vững của đất nước

 

Bài viết liên quan: Mức phạt người vận hành trang thiết bị y tế không theo đúng hướng dẫn

Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn