1. Cơ sở pháp lý về mức thuế suất thuế TNCN
Việc thu thuế thu nhập cá nhân (TNCN) không chỉ là một nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước mà còn mang lại nhiều ý nghĩa sâu rộng về mặt kinh tế và xã hội.
- Tạo nguồn thu ngân sách nhà nước: Thuế TNCN đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước. Các khoản thu từ thuế TNCN được sử dụng để tài trợ cho các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế, giao thông, và an sinh xã hội. Nhờ đó, chính phủ có thể duy trì và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, cũng như đầu tư vào các dự án phát triển hạ tầng và các lĩnh vực quan trọng khác.
- Phân phối lại thu nhập: Thuế TNCN giúp phân phối lại thu nhập từ những người có thu nhập cao sang những người có thu nhập thấp hơn. Bằng cách đánh thuế vào những cá nhân có mức thu nhập cao hơn, nhà nước có thể điều tiết nguồn lực và giảm bớt sự bất bình đẳng trong xã hội. Điều này giúp thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa các tầng lớp xã hội và tạo điều kiện cho một xã hội công bằng hơn.
- Khuyến khích công bằng và minh bạch: Hệ thống thuế TNCN thường được thiết kế để khuyến khích công bằng và minh bạch trong việc kê khai thu nhập. Việc đánh thuế theo mức thu nhập giúp làm rõ trách nhiệm tài chính của từng cá nhân và giảm thiểu tình trạng trốn thuế. Điều này cũng thúc đẩy sự tuân thủ pháp luật và bảo đảm rằng mọi cá nhân đều đóng góp phần nào cho ngân sách nhà nước theo khả năng tài chính của họ.
- Ảnh hưởng đến quyết định kinh tế cá nhân: Thuế TNCN có thể ảnh hưởng đến quyết định của cá nhân trong việc tiết kiệm, đầu tư, và tiêu dùng. Những thay đổi trong tỷ lệ thuế hoặc mức thuế miễn giảm có thể làm thay đổi hành vi tài chính của người dân. Ví dụ, nếu thuế TNCN giảm, người dân có thể có nhiều động lực hơn để tiết kiệm và đầu tư, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Đảm bảo sự phát triển bền vững: Thuế TNCN góp phần vào việc xây dựng một hệ thống tài chính bền vững bằng cách đảm bảo nguồn thu ổn định và có thể dự đoán được cho ngân sách nhà nước. Điều này giúp chính phủ có thể lập kế hoạch dài hạn và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế và xã hội một cách hiệu quả.
Tóm lại, thuế thu nhập cá nhân không chỉ đơn thuần là một nghĩa vụ tài chính mà còn là công cụ quan trọng trong việc xây dựng và duy trì một xã hội công bằng, minh bạch và phát triển bền vững.
Cơ sở pháp lý cho việc xác định mức thuế suất thuế thu nhập cá nhân (TNCN) hiện tại dựa vào quy định tại Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, cùng với các sửa đổi, bổ sung được thực hiện trong các năm 2012, 2014 và 2020. Cụ thể, trong năm 2024, toàn bộ mức thuế suất áp dụng cho thu nhập từ tiền lương và tiền công sẽ vẫn tiếp tục được thực hiện theo các quy định đã được đặt ra trong Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, không có sự thay đổi. Các điều chỉnh và bổ sung được thực hiện vào các năm 2012, 2014 và 2020 đã cập nhật các quy định liên quan đến các mức thuế suất, giảm trừ gia cảnh, và các điều kiện áp dụng khác. Do đó, dù có thể có nhiều sự thay đổi trong các văn bản pháp luật khác, nhưng mức thuế suất và các quy định liên quan đến thuế TNCN từ tiền lương, tiền công vẫn sẽ tuân theo những quy định đã được quy định trong Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 và các sửa đổi, bổ sung của nó. Việc tuân thủ cơ sở pháp lý này là cần thiết để đảm bảo việc tính toán và nộp thuế được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, đồng thời giúp người nộp thuế và các cơ quan chức năng có sự đồng thuận về mức thuế suất và các quy tắc áp dụng trong năm 2024.
2. Mức thuế suất thuế TNCN 2024 từ tiền lương, tiền công
Hiện tại, chưa có Luật Thuế thu nhập cá nhân 2024 được ban hành, do đó, trong năm 2024, toàn bộ mức thuế suất thuế thu nhập cá nhân (TNCN) từ tiền lương và tiền công sẽ tiếp tục được áp dụng theo các quy định hiện hành tại Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, bao gồm các sửa đổi và bổ sung đã được thực hiện vào các năm 2012, 2014 và 2020. Điều này có nghĩa là các quy định về thuế suất, các mức giảm trừ gia cảnh, cũng như các quy tắc khác liên quan đến việc tính toán và thu thuế TNCN sẽ giữ nguyên theo luật hiện hành. Do vậy, người nộp thuế cần tuân thủ các quy định hiện tại để đảm bảo việc kê khai và nộp thuế đúng hạn, đồng thời cập nhật những thay đổi mới nhất nếu có thông tin về luật mới trong tương lai.
Các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công phải chịu thuế TNCN 2024
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân và khoản 2 Điều 3 Nghị định 65/2013/NĐ-CP (được sửa đổi bởi khoản 2 và 3 Điều 2 Nghị định 12/2015/NĐ-CP), thu nhập từ tiền lương, tiền công mà người lao động nhận từ người sử dụng lao động phải chịu thuế thu nhập cá nhân (TNCN) bao gồm các khoản như sau:
(i) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công nhận được dưới bất kỳ hình thức nào, dù là bằng tiền hay không bằng tiền.
(ii) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, nhưng không bao gồm các loại sau: trợ cấp ưu đãi hàng tháng và một lần cho người có công, trợ cấp cho các đối tượng tham gia kháng chiến, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, khu vực, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, và các khoản trợ cấp khác theo quy định của Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội.
(iii) Tiền thù lao dưới các hình thức như tiền hoa hồng môi giới, tiền tham gia đề tài, dự án, tiền nhuận bút và các khoản thù lao khác.
(iv) Tiền nhận được từ tham gia vào các hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý, và các tổ chức khác.
(v) Các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền ngoài tiền lương, tiền công, bao gồm tiền nhà ở, điện, nước và các dịch vụ kèm theo, khoản tiền mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hưu trí tự nguyện, phí hội viên và các khoản chi dịch vụ khác phục vụ cho cá nhân.
(vi) Các khoản thưởng bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức, bao gồm cả thưởng bằng chứng khoán, ngoại trừ tiền thưởng liên quan đến danh hiệu thi đua, giải thưởng quốc gia, quốc tế, cải tiến kỹ thuật, phát hiện hành vi vi phạm pháp luật.
(vii) Các khoản không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN bao gồm: hỗ trợ khám chữa bệnh hiểm nghèo, tiền theo chế độ phương tiện đi lại, nhà ở công vụ, hoạt động Đảng, Quốc hội, tiền ăn giữa ca không vượt quá mức quy định, tiền mua vé máy bay khứ hồi cho người lao động là người nước ngoài, học phí cho con của người lao động nước ngoài học tại Việt Nam và con của người lao động Việt Nam học ở nước ngoài.
Thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công được áp dụng theo Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 22 Luật Thuế thu nhập cá nhân, cụ thể như sau:
| Bậc thuế | Phần thu nhập tính thuế/năm (triệu đồng) | Phần thu nhập tính thuế/tháng (triệu đồng) | Thuế suất (%) |
| 1 | Đến 60 | Đến 5 | 5 |
| 2 | Trên 60 đến 120 | Trên 5 đến 10 | 10 |
| 3 | Trên 120 đến 216 | Trên 10 đến 18 | 15 |
| 4 | Trên 216 đến 384 | Trên 18 đến 32 | 20 |
| 5 | Trên 384 đến 624 | Trên 32 đến 52 | 25 |
| 6 | Trên 624 đến 960 | Trên 52 đến 80 | 30 |
| 7 | Trên 960 | Trên 80 | 35 |
3. Cách tính thuế TNCN
Theo quy định tại khoản 3 Điều 7 của Thông tư 111/2013/TT-BTC, được sửa đổi bởi khoản 6 Điều 25 Thông tư 92/2015/TT-BTC, việc tính thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương và tiền công được thực hiện theo phương pháp lũy tiến từng phần. Cụ thể, thuế thu nhập cá nhân sẽ được tính bằng tổng số thuế của từng bậc thu nhập, trong đó số thuế của từng bậc được xác định bằng cách nhân thu nhập tính thuế của bậc đó với thuế suất tương ứng. Để đơn giản hóa quy trình tính toán, người nộp thuế có thể áp dụng phương pháp tính rút gọn được hướng dẫn trong Phụ lục số 01/PL-TNCN, ban hành kèm theo Thông tư 111/2013/TT-BTC. Phương pháp này giúp giảm bớt sự phức tạp và tiết kiệm thời gian trong việc tính toán số thuế phải nộp.
Giả sử Bà C có thu nhập từ tiền lương và tiền công trong tháng là 40 triệu đồng và đã đóng bảo hiểm xã hội (7%) và bảo hiểm y tế (1,5%). Bà C còn nuôi hai con dưới 18 tuổi, và không có đóng góp từ thiện hay khuyến học trong tháng. Để tính thuế thu nhập cá nhân tạm nộp trong tháng của Bà C, ta thực hiện các bước sau:
Đầu tiên, xác định thu nhập chịu thuế của Bà C là 40 triệu đồng. Sau đó, thực hiện các khoản giảm trừ, bao gồm giảm trừ gia cảnh cho bản thân là 9 triệu đồng, và giảm trừ cho hai người phụ thuộc (hai con) là 7,2 triệu đồng. Cộng với bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là 3,4 triệu đồng. Tổng cộng các khoản giảm trừ là 19,6 triệu đồng.
Thu nhập tính thuế của Bà C sau khi giảm trừ là 20,4 triệu đồng (40 triệu đồng - 19,6 triệu đồng).
Có hai cách để tính số thuế phải nộp:
Cách 1: Tính thuế theo từng bậc của Biểu thuế lũy tiến từng phần:
- Bậc 1: Thu nhập tính thuế đến 5 triệu đồng, thuế suất 5%, thuế là 0,25 triệu đồng.
- Bậc 2: Thu nhập tính thuế từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng, thuế suất 10%, thuế là 0,5 triệu đồng.
- Bậc 3: Thu nhập tính thuế từ 10 triệu đồng đến 18 triệu đồng, thuế suất 15%, thuế là 1,2 triệu đồng.
- Bậc 4: Thu nhập tính thuế từ 18 triệu đồng đến 32 triệu đồng, thuế suất 20%, thuế là 0,48 triệu đồng.
Tổng số thuế Bà C phải tạm nộp trong tháng là 2,43 triệu đồng (0,25 triệu đồng + 0,5 triệu đồng + 1,2 triệu đồng + 0,48 triệu đồng).
Cách 2: Tính thuế theo phương pháp rút gọn: Thu nhập tính thuế thuộc bậc 4, với thuế suất 20%. Số thuế phải nộp được tính là 20,4 triệu đồng × 20% - 1,65 triệu đồng = 2,43 triệu đồng.
Như vậy, số thuế thu nhập cá nhân tạm nộp trong tháng của Bà C là 2,43 triệu đồng, bằng với kết quả tính toán từ cả hai phương pháp.
Xem thêm bài viết: Có phải nộp thuế thu nhập cá nhân với khoản chia lợi nhuận sau thuế cho các thành viên góp vốn?
Khi quý khách có thắc mắc về quy định pháp luật, vui lòng liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi tư vấn đến email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn.