Căn cứ pháp lý: Luật Bình đẳng giới 2006

1. Định nghĩa về bình đẳng giới

Khái niệm bình đẳng giới ngụ ý rằng nam giới và nữ giới cần nhận được những đối xử bình đẳng trong tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội và nhân quyền|quyền con người như: giáo dục, y tế, văn hóa, hôn nhân, gia đình, việc làm, các chính sách phúc lợi... Đây là một chiến lược được Liên Hiệp quốc theo đuổi trong việc xây dựng, thực hiện, giám sát và đánh giá các chính sách để đạt mục tiêu cuối cùng là nữ giới và nam giới được bình đẳng với nhau về pháp lý.

Khái niệm này dựa trên Tuyên bố Liên Hợp Quốc về Nhân quyền, với mục tiêu cơ bản là nhằm cung cấp sự bình đẳng về mặt luật pháp cũng như bình đẳng trong vị thế xã hội, quyền bình đẳng trước pháp luật, đặc biệt là trong hoạt động bầu cử và bảo đảm trả lương công bằng giữa nam và nữ. Một ví dụ điển hình là Tu chính án Quyền Bình đẳng ở Hoa Kỳ.

2. Mục tiêu, nguyên tắc, chính sách Nhà nước về bình đẳng giới

Trước hết, xác định mục tiêu bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình (Điều 4 Luật Bình đẳng giới).

Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới được xác định: Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới. Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới. Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật. Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân.

Nhà nước xác định các chính sách về bình đẳng giới là bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển. Bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ; tạo điều kiện để nam, nữ chia sẻ công việc gia đình. Áp dụng những biện pháp thích hợp để xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu cản trở thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Khuyến khích cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới. Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; hỗ trợ những điều kiện cần thiết để nâng chỉ số phát triển giới đối với các ngành, lĩnh vực và địa phương mà chỉ số phát triển giới thấp hơn mức trung bình của cả nước.

Như vậy, ngay trong mục tiêu, nguyên tắc và chính sách chung của Nhà nước đã xác định sự bình đẳng, tạo cơ hội phát triển cho cả nam và nữ, là tiền đề để thực hiện phòng, chống tra tấn trên cơ sở giới.

3. Các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới

Để đảm bảo bình đẳng giới, thông qua 04 biện pháp thực hiện:

Một là, ban hành các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới (Điều 19). Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới gồm: Quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng tham gia, thụ hưởng; đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ năng

Hai là, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Điều 20 - 22). Bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật. Theo đó, việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới. Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới là một căn cứ quan trọng của việc rà soát để sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật. Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể: Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật bao gồm xác định vấn đề giới và các biện pháp giải quyết trong lĩnh vực mà văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh; dự báo tác động của các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khi được ban hành đối với nữ và nam; xác định trách nhiệm và nguồn lực để giải quyết các vấn đề giới trong phạm vi văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh. Cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, chuẩn bị báo cáo việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới vào quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo các nội dung quy định và phụ lục thông tin, số liệu về giới có liên quan đến dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Cơ quan thẩm định văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Nội dung đánh giá bao gồm xác định vấn đề giới trong dự án, dự thảo; việc bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong dự án, dự thảo; tính khả thi của việc giải quyết vấn đề giới được điều chỉnh trong dự án, dự thảo; việc thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng dự án, dự thảo theo các nội dung đã quy định.

Uỷ ban của Quốc hội phụ trách lĩnh vực giới có trách nhiệm tham gia với Hội đồng dân tộc, Uỷ ban khác của Quốc hội để thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới đối với các dự án luật, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước khi trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua. Nội dung thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới bao gồm: Xác định vấn đề giới trong dự án, dự thảo; việc bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong dự án, dự thảo; việc tuân thủ thủ tục và trình tự đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng dự án, dự thảo; tính khả thi của dự án, dự thảo để bảo đảm bình đẳng giới.

Ba là, thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới (Điều 23). Thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới là biện pháp quan trọng nhằm nâng cao nhận thức về giới và bình đẳng giới. Thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới được đưa vào chương trình giáo dục trong nhà trường, trong các hoạt động của cơ quan, tổ chức và cộng đồng. Thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới thông qua các chương trình học tập, các ấn phẩm, các chương trình phát thanh, truyền hình và các hình thức khác.

Bốn là, nguồn tài chính hoạt động bình đẳng giới (Điều 24).  Ngân sách nhà nước; đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân; các nguồn thu hợp pháp khác. Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới phải đúng mục đích, có hiệu quả và theo quy định của pháp luật.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về bình đẳng giới, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Cá nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới (Điều 37 và 38)

Các hành vi vi phạm về bình đẳng giới bị xử lý theo quy định pháp luật (Điều 39 và 42). Việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới dựa trên nguyên tắc: mọi hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời. Việc xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để theo đúng quy định của pháp luật. Tuỳ tính chất, mức độ vi phạm, có các hình thức sau xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới: xử lý kỷ luật; xử lý hành chính; truy cứu trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại.

4. Trách nhiệm thực hiện và bảo đảm các quy định của Luật bình đẳng giới

a) Trách nhiệm thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (Khoản 1, Điểm a, b, d và đ Khoản 2 Điều 31 Luật Bình đẳng giới)

- Trong công tác tổ chức, cán bộ:

+ Bảo đảm cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nam, nữ bình đẳng trong việc làm, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm và hưởng phúc lợi.

+ Bảo đảm việc đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trên nguyên tắc bình đẳng giới.

- Trong hoạt động:

+ Xác định thực trạng bình đẳng giới, xây dựng và bảo đảm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trong cơ quan, tổ chức mình và có báo cáo hằng năm.

+ Bảo đảm sự tham gia của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nam, nữ trong xây dựng, thực thi pháp luật, chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

+ Có biện pháp khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thực hiện bình đẳng giới trong cơ quan, tổ chức và gia đình.

+ Tạo điều kiện phát triển các cơ sở phúc lợi xã hội, các dịch vụ hỗ trợ nhằm giảm nhẹ gánh nặng lao động gia đình.

b) Trách nhiệm thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới của cơ quan, tổ chức khác (Khoản 1, Điểm b, c, d, đ, e và g Khoản 2 Điều 32 Luật Bình đẳng giới)

- Trong công tác tổ chức và hoạt động:

+ Phải bảo đảm cho nam, nữ bình đẳng trong tham gia và thụ hưởng.

+ Báo cáo hoặc cung cấp kịp thời thông tin về bình đẳng giới trong cơ quan, tổ chức theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền.

+ Đề xuất hoặc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật về bình đẳng giới liên quan đến hoạt động của cơ quan, tổ chức mình.

- Chủ động hoặc phối hợp tham gia hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới:

Bố trí cán bộ hoạt động về bình đẳng giới.

+ Tổ chức nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu nhằm tăng cường bình đẳng giới.

+ Dành nguồn tài chính cho các hoạt động bình đẳng giới. + Tổ chức hệ thống nhà trẻ phù hợp để lao động nam, nữ kết hợp hài hoà giữa lao động sản xuất và lao động gia đình.

+ Hỗ trợ lao động nữ khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổi.

+ Tạo điều kiện cho lao động nam nghỉ hưởng nguyên lương và phụ cấp khi vợ sinh con. c) Trách nhiệm thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới của gia đình (Điều 33 Luật Bình đẳng giới)

- Tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình nâng cao nhận thức, hiểu biết và tham gia các hoạt động về bình đẳng giới.

- Giáo dục các thành viên có trách nhiệm chia sẻ và phân công hợp lý công việc gia đình.

- Chăm sóc sức khoẻ sinh sản và tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện làm mẹ an toàn.

- Đối xử công bằng, tạo cơ hội như nhau giữa con trai, con gái trong học tập, lao động và tham gia các hoạt động khác.

d) Trách nhiệm thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới của công dân nam, nữ (Điều 34 Luật Bình đẳng giới)

- Học tập nâng cao hiểu biết, nhận thức về giới và bình đẳng giới;

- Thực hiện và hướng dẫn người khác thực hiện các hành vi đúng mực về bình đẳng giới; - Phê phán, ngăn chặn các hành vi phân biệt đối xử về giới;

- Giám sát việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới của cộng đồng, của cơ quan, tổ chức và công dân.

đ) Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến và giáo dục Luật bình đẳng giới (Khoản 6 Điều 25, Khoản 5 Điều 28, Khoản 4 Điều 29, điểm c Khoản 2 Điều 31, điểm a Khoản 2 Điều 32 Luật Bình đẳng giới): Chính phủ; Uỷ ban nhân dân các cấp; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên; cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và cơ quan, tổ chức khác. e) Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới (Khoản 4 Điều 25 , Khoản 6 Điều 26 , Khoản 3 Điều 27 và Khoản 4 Điều 28 Luật Bình đẳng giới): Chính phủ; cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội); Bộ và cơ quan ngang bộ; Uỷ ban nhân dân các cấp.

h) Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giám sát việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới (khoản 3 Điều 29 và Điều 36 Luật Bình đẳng giới):

Quốc hội; Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội; Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội; Hội đồng nhân dân; Đại biểu Hội đồng nhân dân; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên.

g) Cơ quan có trách nhiệm xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bình đẳng giới (Khoản 6 Điều 26 , Khoản 4 Điều 28 Luật Bình đẳng giới): cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội); Uỷ ban nhân dân các cấp; các chủ thể khác theo quy định của pháp luật về khiếu nại và tố cáo.

5. Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị

a) Nguyên tắc bình đẳng giới (Khoản 1, 2 và 3 Điều 11 Luật Bình đẳng giới năm 2006)

- Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội.

- Nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức.

- Nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

b) Biện pháp nào thúc đẩy bình đẳng giới (Khoản 5 Điều 11 Luật Bình đẳng giới năm 2006)

- Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

- Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

c) Hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị (Khoản 1 Điều 40 Luật Bình đẳng giới năm 2006 )

- Cản trở việc nam hoặc nữ tự ứng cử, được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp vì định kiến giới.

- Không thực hiện hoặc cản trở việc bổ nhiệm nam, nữ vào cương vị quản lý, lãnh đạo hoặc các chức danh chuyên môn vì định kiến giới.

- Đặt ra và thực hiện quy định có sự phân biệt đối xử về giới trong các hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc trong quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức.