1. Các quỹ dự trữ, dự phòng trong ngân hàng

Việc trích lập dự phòng của ngân hàng về bản chất cũng giống như các khoản trích lập dự phòng khác. Tuy nhiên, do đặc thù của lĩnh vực tài chính ngân hàng nên việc trích lập dự phòng sẽ có những đặc thù riêng.

Các quỹ dự trữ mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải lập và duy trì bao gồm: Quỹ dự phòng rủi ro, trích lập dự phòng rủi ro theo quy định tại Điều 131 Luật Các tổ chức tín dụng 2010. Đây là quỹ được trích lập để sử dụng nhằm xử lý các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Khoản dự phòng rủi ro này, theo quy định, sẽ được tính vào chi phí hoạt động của đơn vị. Trường hợp đơn vị thu hồi vốn đã bỏ ra để thanh lý bằng một khoản dự phòng thì khoản thu hồi này được coi là doanh thu của đơn vị. Dự phòng rủi ro bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung. Trong đó trích lập dự phòng cụ thể để xử lý rủi ro có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể. Tương tự, lập dự phòng chung để xử lý rủi ro có thể xảy ra nhưng chưa xác định được rủi ro cụ thể.

  Các loại quỹ dự phòng quy định tại Điều 139 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 bao gồm các loại quỹ sau:

- Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: dùng để bổ sung vốn điều lệ, vốn cấp của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

- Quỹ dự phòng tài chính: dùng để bồi thường những mất mát, hư hỏng tài sản phát sinh trong quá trình kinh doanh còn lại sau khi tổ chức, cá nhân gây thiệt hại đã bồi thường, bồi thường bằng tiền hoặc được công ty bảo hiểm chi trả. Quỹ dự phòng tài chính còn được sử dụng để trích lập vào chi phí và sử dụng cho các mục đích khác theo quy định của pháp luật.

- Các quỹ dự phòng khác theo quy định của pháp luật như:

+ Quỹ đầu tư phát triển được sử dụng để mở rộng quy mô kinh doanh, hoạt động, đổi mới công nghệ, thiết bị,… hoặc bổ sung vốn điều lệ cho tổ chức tín dụng;

+ Quỹ khen thưởng: dùng để khen thưởng theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của tổ chức tín dụng, ngân hàng nước ngoài;

+ Quỹ phúc lợi khác: dùng để dành kinh phí đầu tư, xây dựng các công trình phúc lợi của đơn vị hoặc các công trình dùng chung với các tổ chức khác theo thoả thuận;

+ Chi thể thao, văn nghệ, sinh hoạt tập thể;

+ Trợ cấp cho cán bộ khó khăn của tổ chức; chi cho các hoạt động phúc lợi khác. 

2. Mức trích lập dự phòng chung của các tổ chức tín dụng

Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 11/2021/TT-NHNN về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Thông tư yêu cầu TCTC, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải có biện pháp và thường xuyên thực hiện việc thu thập, khai thác thông tin, số liệu về khách hàng, bao gồm cả thông tin từ Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam (CIC), công ty thông tin tín dụng theo quy định của pháp luật để theo dõi, đánh giá tình hình tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng sau khi đã xếp hạng theo hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, có biện pháp quản lý rủi ro, quản lý chất lượng tín dụng phù hợp; thực hiện tự phân loại nợ, cam kết ngoại bảng, trích lập dự phòng rủi ro và sử dụng dự phòng rủi ro theo quy định.

Căn cứ theo quy định tại Thông tư 11/2021/TT-NHNN về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài mức trích lập dự phòng chung của các tổ chức tín dụng được quy định như sau:

Số tiền dự phòng chung các TCTD phải trích được xác định bằng 0,75% tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4, trừ các khoản sau đây:

- Tiền gửi tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật và tiền gửi tại tổ chức tín dụng ở nước ngoài.

- Khoản cho vay, mua có kỳ hạn giấy tờ có giá giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

- Khoản mua kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác phát hành trong nước.

- Khoản mua bán lại trái phiếu Chính phủ trên thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật về phát hành, đăng ký, lưu ký, niêm yết và giao dịch công cụ nợ của Chính phủ trên thị trường chứng khoán

3. Tác động của dự phòng rủi ro đến các hoạt động của các TCTD

Tác động đến dòng tiền từ hoạt động

Mặc dù dự phòng rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận sau thuế của các TCTD nhưng do nó là chi phí không bằng tiền nên có tác dụng giúp các TCTD tiết kiệm được chi phí thuế thu nhập hiện hành, từ đó có tác dụng làm tăng dòng tiền từ hoạt động cho các TCTD.

Tác động đến danh mục tín dụng và tài sản Có của các TCTD

Do dự phòng rủi ro tín dụng là các ước tính kế toán cho những tổn thất tiềm năng trong hoạt động tín dụng của các TCTD nên các khoản dự phòng rủi ro tín dụng này sẽ được điều chỉnh giảm với dư nợ các khoản cấp tín dụng Bên tài sản Có của Bảng cân đối kế toán của các TCTD, các khoản mục dự phòng rủi ro tín dụng điều chỉnh giảm này sẽ giúp các TCTD xác định được dư nợ tín dụng thuần, một chỉ tiêu phản ánh chính xác chất lượng danh mục tín dụng hơn so với chỉ tiêu dư nợ tín dụng của các TCTD cũng như tài sản có hiện tại của các TCTD.

Tác động đến chi phí hoạt động và lợi nhuận trước thuế

Do khoản dự phòng rủi ro tín dụng này được hạch toán vào chi phí hoạt động nên nó có tác động làm tăng chi phí hoạt động của các TCTD, dẫn đến làm giảm tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên được đo lường bằng tỷ lệ giữa hiệu số thu nhập hoạt động và chi phí hoạt động với tổng tài sản bình quân của TCTD, khiến cho các TCTD không muốn giảm thêm lãi suất cho vay hoặc thậm chí có xu hướng muốn gia tăng lãi suất cho vay để bù đắp cho sụt giảm trong tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên của các TCTD. Chi phí hoạt động tăng cũng làm giảm lợi nhuận trước thuế của các TCTD.

Tác động đến khả năng trích lập các quỹ, vốn chủ sở hữu, tỷ lệ an toàn vốn và thị giá cổ phần

Do dự phòng rủi ro tín dụng tác động làm giảm lợi nhuận sau thuế nên nó cũng tác động làm giảm khả năng trích lập quỹ của các TCTD (Quỹ bổ sung vốn điều lệ, Quỹ đầu tư phát triển, Quỹ dự phòng tài chính và các quỹ khác). Mặt khác, lợi nhuận sau thuế giảm làm giảm lợi nhuận chưa phân phối, vì vậy, nó tác động trực tiếp làm giảm vốn chủ sở hữu của các TCTD. Vốn chủ sở hữu giảm cũng có tác động làm giảm tỷ lệ an toàn vốn của các TCTD. Ngoài ra, lợi nhuận sau thuế giảm do trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cũng tác động làm giảm khả năng chi trả cổ tức cho các cổ đông. Thông tin này cùng với thông tin về trích lập dự phòng rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận sau thuế của các TCTD, cuối cùng có tác động đến giá cổ phần của các TCTD trên thị trường.

Tác động đến chi phí thuế thu nhập và lợi nhuận sau thuế

Do dự phòng rủi ro tín dụng được hạch toán vào chi phí hoạt động nên nó có tác động làm giảm chi phí thuế thu nhập hiện hành của các TCTD.

Để tham khảo thêm thông tin về vấn đề này, quý khách hàng có thể tìm hiểu tại bài viết: Quy định mới về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro ngân hàng của Luật Minh Khuê.

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Mức trích lập dự phòng chung của các tổ chức tín dụng mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!