1. Thế nào là khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm?

 Dựa trên quy định tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư 12/2022/TT-NHNN, khái niệm về khoản vay nước ngoài được xác định như sau:

- Khoản vay nước ngoài không được Chính phủ bảo lãnh, được gọi là khoản vay tự vay, tự trả.

- Khoản vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh thông qua các hợp đồng như hợp đồng vay, hợp đồng nhập khẩu hàng hóa trả chậm, hợp đồng ủy thác cho vay, hợp đồng cho thuê tài chính, hoặc phát hành công cụ nợ trên thị trường quốc tế.

Hiện nay, doanh nghiệp thực hiện khoản vay nước ngoài thông qua hai hình thức: vay bằng tiền mặt và hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm. Đây là hoạt động tạo cơ hội cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, từ quan điểm quản lý, đây là khoản vay nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh, và doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm vay và trả. Điều đó đồng nghĩa với việc nó là nguồn vốn vay và trả nợ bằng ngoại tệ. Vì vậy, cần có sự quản lý nhằm đảm bảo việc sử dụng hiệu quả và phát triển thị trường ngoại hối, đồng thời đảm bảo an ninh tiền tệ quốc gia theo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và yêu cầu thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Liên quan đến việc quy định về vay nợ nước ngoài, cũng có các quy định liên quan đến việc doanh nghiệp phải thực hiện đăng ký khoản vay. Các quy định này cung cấp thông tin chi tiết, bao gồm yêu cầu về việc đăng ký xác nhận với NHNN và quy trình thủ tục liên quan (đối với khoản vay bằng tiền mặt).

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Thông tư số 12/2022/TT-NHNN ngày 30/9/2022, trong việc quản lý ngoại hối đối với việc vay và trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp, khoản vay nước ngoài trong hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm được định nghĩa là khoản nhập khẩu hàng hóa có ngày rút vốn đầu tiên trước ngày thanh toán cuối cùng.

 

2. Ngày rút vốn của khoản vay nước ngoài dưới hình thức trả chậm được xác định như thế nào?

Dựa trên quy định tại Điều 4 Thông tư 12/2022/TT-NHNN về nguyên tắc quản lý ngoại hối đối với các khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm quy định khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm được xác định như sau:

- Ngày rút vốn của khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm là:

  • Trường hợp ngân hàng cung ứng dịch vụ tài khoản yêu cầu bộ chứng từ thanh toán phải có chứng từ vận tải: Ngày thứ 90 tính từ ngày phát hành chứng từ vận tải.
  • Trường hợp ngân hàng cung ứng dịch vụ tài khoản không yêu cầu bộ chứng từ thanh toán phải có chứng từ vận tải: Ngày thứ 45 tính từ ngày hoàn thành kiểm tra ghi trên tờ khai hải quan đã được thông quan.

- Ngày thanh toán cuối cùng được xác định như sau:

  • Trường hợp có hợp đồng quy định thời hạn thanh toán: Ngày thanh toán cuối cùng theo hợp đồng.
  • Trường hợp không thực hiện theo hợp đồng hoặc hợp đồng không quy định cụ thể thời hạn thanh toán: Ngày thanh toán thực tế cuối cùng.

- Thời hạn khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm được tính từ ngày rút vốn đầu tiên đến ngày thanh toán cuối cùng.

Không bắt buộc thực hiện các giao dịch chuyển tiền trả nợ (gốc, lãi) và trả phí liên quan đến khoản vay nước ngoài dưới hình thức nhập khẩu hàng hóa trả chậm qua tài khoản vay hoặc trả nợ nước ngoài.

Dựa trên quy định trên, ta có thể rút ra ngày rút vốn của khoản vay nước ngoài dưới hình thức trả chậm sẽ được xác định như sau:

- Trường hợp ngân hàng cung ứng dịch vụ tài khoản yêu cầu bộ chứng từ thanh toán phải có chứng từ vận tải: Ngày thứ 90 tính từ ngày phát hành chứng từ vận tải.

- Trường hợp ngân hàng cung ứng dịch vụ tài khoản không yêu cầu bộ chứng từ thanh toán phải có chứng từ vận tải: Ngày thứ 45 tính từ ngày hoàn thành kiểm tra ghi trên tờ khai hải quan đã được thông quan.

Điều này cho thấy sự linh hoạt và đa dạng trong việc xác định ngày rút vốn của khoản vay nước ngoài dưới hình thức trả chậm, phụ thuộc vào yêu cầu cụ thể từ ngân hàng cung ứng dịch vụ tài khoản và quá trình kiểm tra thông quan hải quan.

 

3. Trách nhiệm thực hiện khoản vay nước ngoài sau khi bên đi vay bị chia, tách, hợp nhất hoặc sáp nhập

Theo quy định tại Điều 6 của Thông tư 12/2022/TT-NHNN về việc thực hiện khoản vay nước ngoài sau khi bên đi vay bị chia, tách, hợp nhất hoặc sáp nhập có các nội dung sau đây:

- Khi bên đi vay bị chia, tách, hợp nhất hoặc sáp nhập, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ liên quan đến khoản vay nước ngoài sẽ tiếp tục thực hiện trách nhiệm của bên đi vay theo quy định của Thông tư này.

- Trong trường hợp chỉ có một tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ liên quan đến khoản vay nước ngoài của bên đi vay bị chia, tách, bên cho vay, tổ chức mới thành lập sau khi chia, tổ chức bị tách và tổ chức được tách phải thỏa thuận bằng văn bản để xác định tổ chức nào sẽ kế thừa quyền, nghĩa vụ của bên đi vay bị chia, tách trong khoản vay nước ngoài, đảm bảo không vi phạm các quy định của pháp luật liên quan.

- Trong trường hợp sau khi chia, tách có nhiều tổ chức cùng chịu trách nhiệm về nghĩa vụ trả nợ khoản vay nước ngoài:

  • Các tổ chức này phải thỏa thuận bằng văn bản về việc ủy quyền cho một tổ chức thực hiện các thủ tục hành chính và chế độ báo cáo liên quan đến khoản vay nước ngoài theo quy định của Thông tư này.
  • Các tổ chức này phải cùng mở một tài khoản thanh toán chung làm tài khoản vay và trả nợ nước ngoài. Trong trường hợp không mở tài khoản thanh toán chung, các tổ chức này phải đảm bảo mở các tài khoản vay và trả nợ nước ngoài tại cùng một ngân hàng cung cấp dịch vụ tài khoản để tiếp tục trả nợ khoản vay nước ngoài.
  • Trong trường hợp một trong các tổ chức cùng chịu trách nhiệm về nghĩa vụ trả nợ khoản vay nước ngoài là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, việc sử dụng tài khoản để trả nợ khoản vay sẽ tuân theo quy định tại Điều này. Ngân hàng mở tài khoản trả nợ khoản vay nước ngoài không bắt buộc phải là ngân hàng nơi mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.

- Ngân hàng cung cấp dịch vụ tài khoản của bên đi vay bị chia, tách, hợp nhất hoặc sáp nhập có trách nhiệm phối hợp và cung cấp thông tin về tình hình rút vốn, trả nợ của khoản vay nước ngoài khi được yêu cầu từ tổ chức kế thừa trách nhiệm trả nợ khoản vay nước ngoài và/hoặc ngân hàng cung cấp dịch vụ tài khoản của tổ chức kế thừa trách nhiệm trả nợ khoản vay nước ngoài, để các bên có cơ sở tiếp tục thực hiện khoản vay và đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật về vay và trả nợ nước ngoài.

Sau khi bên đi vay bị chia, tách, hợp nhất hoặc sáp nhập, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ sẽ phải chịu trách nhiệm đối với các khoản vay nước ngoài mà bên đi vay đã thực hiện trước khi bị chia, tách, hợp nhất hoặc sáp nhập.

Để tìm hiểu thêm thông tin liên quan, mời quý bạn đọc tham khảo những bài viết dưới đây của Luật Minh Khuê:

Hy vọng với những khách hàng có băn khoản, thắc mắc về vấn đề ngày rút vốn của khoản vay nước ngoài dưới hình thức trả chậm được xác định như thế nào thì bài viết trên đây có thể đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu về vấn đề này. Ngoài ra, mời quý khách hàng liên hệ đến số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để chúng tôi có thể hỗ trợ quý khách hàng giải quyết những vấn đề về pháp lý mà quý khách đang gặp trục trặc. Xin chân trọng cảm ơn sự quan tâm và dành thời gian của khách hàng để theo dõi và đồng hành cùng Luật Minh Khuê.