1. Đề xuất hợp đồng xây dựng được điều chỉnh khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Theo quy định tại Điều 35 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP quy định hợp đồng xây dựng chỉ được điều chỉnh trong các trường hợp quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 143 Luật Xây dựng năm 2014 đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 62/2020/QH14. Trong khi, Bộ luật Dân sự cho phép các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Luật Xây dựng được ban hành trước Bộ luật Dân sự năm 2015, vì vậy chưa bao quát hết các trường hợp được sửa đổi/điều chỉnh hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thực tế, có những hợp đồng xây dựng tại thời điểm ký kết không lường trước được các yếu tố rủi ro, chưa được tính toán đủ các chi phí tại thời điểm dự thầu, ký hợp đồng như: chi phí phòng chống dịch, giá nguyên vật liệu tăng đột biến, thời gian thực hiện hợp đồng thay đổi do áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch…, nếu không cho phép điều chỉnh hợp đồng thì dẫn đến nhiều doanh nghiệp xây dựng phải đối mặt với nguy cơ vi phạm tiến độ hợp đồng; nhà thầu, chủ đầu tư tăng chi phí quản lý, chi phí gián tiếp để thực hiện việc chi trả các khoản duy trì công trường… Trong khi đó, Điều 420, Điều 421 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho phép được thay đổi/điều chỉnh hợp đồng.
Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung Nghị định số 37/2015/NĐ-CP để bảo đảm phù hợp với Luật Xây dựng, vừa phù hợp với quy định mới của Bộ luật Dân sự và tháo gỡ vướng mắc trên thực tế.
Theo đó, cần bổ sung quy định về hợp đồng xây dựng được điều chỉnh khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, trong trường hợp này, việc điều chỉnh hợp đồng xây dựng được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.
Ngoài ra, một số ý kiến đề xuất xem xét, bổ sung trường hợp giá vật liệu xây dựng chủ yếu (như: sắt, cát, xi măng, nhựa đường…) biến động với tỷ lệ hợp lý vào quy định các trường hợp bất khả kháng để làm cơ sở điều chỉnh giá hợp đồng nhằm giảm thiệt hại cho các bên khi giá vật liệu xây dựng diễn biến phức tạp, làm vượt tầm kiểm soát của nhà thầu xây dựng, ảnh hưởng đến tiến độ công trình thi công, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công.
2. Nghị định 50/2021 sửa đổi Nghị định 37/2015 về hợp đồng xây dựng
Ngày 01/4/2021, Chính phủ ban hành Nghị định 50/2021/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 37/2015/NĐ-CP hướng dẫn về hợp đồng xây dựng.
Kể từ ngày Nghị định 50/2021/NĐ-CP có hiệu lực (ngày 01/4/2021) các quy định tại Nghị định 37/2015/NĐ-CP được sửa đổi như sau:
- Các hợp đồng xây dựng đã ký và đang thực hiện trước ngày 01/4/2021 thì thực hiện theo quy định về hợp đồng xây dựng trước ngày 01/4/2021 và nội dung hợp đồng đã ký.
- Các hợp đồng xây dựng đang trong quá trình đàm phán, chưa được ký kết nếu có nội dung chưa phù hợp với quy định tại Nghị định 50/2021/NĐ-CP thì báo cáo người có thẩm quyền quyết định đầu tư xem xét, quyết định trên nguyên tắc bảo đảm chất lượng, tiến độ, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng và không làm phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
- Nội dung về hợp đồng xây dựng trong các hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu đã phê duyệt nhưng chưa phát hành nếu có nội dung nào chưa phù hợp với quy định tại Nghị định 50/2021/NĐ-CP thì phải điều chỉnh lại cho phù hợp;
Trường hợp đã phát hành hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu nhưng chưa đóng thầu, nếu có thay đổi nội dung liên quan đến hợp đồng cho phù hợp với các quy định của Nghị định 50/2021, thì phải thông báo cho tất cả các nhà thầu đã mua hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu biết để điều chỉnh các nội dung hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất cho phù hợp; trường hợp đã đóng thầu thì thực hiện theo quy định nêu trên.
3. Sửa đổi quy định điều chỉnh đơn giá hợp đồng xây dựng
Theo điểm b khoản 2 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP quy định điều chỉnh đơn giá hợp đồng xây dựng, trường hợp khối lượng công việc thực tế thực hiện tăng hoặc giảm lớn hơn 20% khối lượng công việc tương ứng ghi trong hợp đồng hoặc khối lượng phát sinh chưa có đơn giá trong hợp đồng thì các bên thống nhất xác định đơn giá mới theo nguyên tắc đã thỏa thuận trong hợp đồng về đơn giá cho các khối lượng này để thanh toán.
Tại Nghị định 50/2021/NĐ-CP, quy định tại điểm b khoản 2 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung như sau: Trường hợp khối lượng công việc thực tế thực hiện tăng hoặc giảm lớn hơn 20% khối lượng công việc tương ứng ghi trong hợp đồng, đồng thời làm thay đổi trên 0,25% giá trị hợp đồng và trên 1% đơn giá của công việc đó hoặc khối lượng phát sinh chưa có đơn giá trong hợp đồng thì các bên thống nhất xác định đơn giá mới theo nguyên tắc đã thỏa thuận trong hợp đồng về đơn giá cho các khối lượng này để thanh toán.
Trường hợp khối lượng công việc thực tế thực hiện tăng lớn hơn 20% khối lượng công việc tương ứng ghi trong hợp đồng, đơn giá mới chỉ được áp dụng cho phần khối lượng thực tế thực hiện vượt quá 120% khối lượng ghi trong hợp đồng.
Trường hợp khối lượng công việc thực tế thực hiện giảm lớn hơn 20% khối lượng công việc tương ứng ghi trong hợp đồng, đơn giá mới được áp dụng cho toàn bộ khối lượng công việc thực tế hoàn thành được nghiệm thu.
4. Điều chỉnh tên gọi một số loại Hợp đồng xây dựng theo Nghị định 50/2021/NĐ-CP
Khoản 2 Điều 1 Nghị định 50/2021/NĐ-CP điều chỉnh lại tên gọi của một số loại hợp đồng xây dựng sau:
- "Hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ” đổi thành “Hợp đồng mua sắm vật tư, thiết bị”;
- "Hợp đồng thiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ” đổi thành “Hợp đồng thiết kế và mua sắm vật tư, thiết bị” - (EP);
- “Hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình” đổi thành “Hợp đồng mua sắm vật tư, thiết bị và thi công xây dựng công trình” (PC);
- “Hợp đồng thiết kế - cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình” đổi thành “Hợp đồng thiết kế - mua sắm vật tư, thiết bị - thi công xây dựng công trình” (EPC).
Riêng Hợp đồng EPC được ưu tiên áp dụng đối với dự án phức tạp, có yêu cầu kỹ thuật, công nghệ cao và phải tuân thủ chặt chẽ tính đồng bộ, thống nhất từ khâu thiết kế đến khâu cung cấp thiết bị, thi công, đào tạo chuyển giao công nghệ;
Trước khi quyết định áp dụng loại hợp đồng EPC, người quyết định đầu tư có trách nhiệm tổ chức đánh giá các yêu cầu về kỹ thuật, công nghệ, rút ngắn thời gian thực hiện của dự án, tính đồng bộ từ khâu thiết kế, cung cấp thiết bị, thi công xây dựng công trình đến khâu đào tạo vận hành, chuyển giao công trình để đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của dự án được phê duyệt và đảm bảo tính khả thi của việc áp dụng hợp đồng EPC so với các loại hợp đồng khác.
Đây cũng không hoàn toàn là các quy định mới, bởi các tiêu chí này đã được quy định rải rác trong các thông tư, hướng dẫn về việc áp dụng Hợp đồng EPC hay hướng dẫn lập hồ sơ mời thầu gói thầu EPC. Có thể việc bổ sung quy định này tại Nghị định 50/2021/NĐ-CP là để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật và tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân liên quan áp dụng pháp luật.
Tuy nhiên, bởi có quy định bổ sung liên quan đến việc áp dụng Hợp đồng EPC nên Nghị định 50/2021/NĐ-CP cũng đã có những quy định mới liên quan đến quyền và trách nhiệm của bên giao thầu, bên nhận thầu EPC cũng như việc quản lý thực hiện loại Hợp đồng này.
Để tham khảo thêm thông tin về vấn đề này, quý khách hàng có thể tìm hiểu tại bài viết: Hồ sơ, thủ tục thanh toán hợp đồng xây dựng năm 2023 của Luật Minh Khuê.
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Nghị định 50/2021 sửa Nghị định 37/2015 về hợp đồng xây dựng mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!