1. Thế nào là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật ?

Kính gửi Công ty Luật Minh Khuê! Tôi có một câu hỏi liên quan tới việc nghỉ không hưởng lương rồi tiến tới nghỉ hẳn việc như sau:

Hiện tôi đang làm việc với hợp đồng 2 năm tại một tổ chức (tới tháng 12/2017), tôi đã hỏi một đồng nghiệp đã nghỉ không hưởng lương và được biết tổ chức cho nghỉ không hưởng lương khoảng vài tháng và phải tự đóng bảo hiểm xã hội. Tổ chức có quy định nếu muốn nghỉ việc phải báo trước 30 ngày. Do đó tôi có câu hỏi như sau: Tôi hiện có cơ hội thử sức ở tổ chức khác nhưng chưa chắc chắn về tương lai. Tôi muốn nghỉ không lương 1 thời gian (khoảng 2 tháng) rồi sau đó sẽ báo nghỉ việc hẳn, trong thời gian đó vẫn đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ. Nếu như vậy thì tôi có vi phạm luật lao động không? Và nếu có tôi sẽ phải bồi thường gì? Nếu không muốn vi phạm luật lao động thì tôi có thể dùng cách nào khác để nghỉ việc sớm không?

Cám ơn Luật sư và mong nhận hồi âm sớm từ Luật sư!

Tư vấn về việc nghỉ không hưởng lương rồi tiến tới nghỉ hẳn việc

Luật sư tư vấn Luật lao động trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Kính chào bạn ! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Tổ chức nơi bạn đang làm việc có quy định nếu muốn nghỉ việc phải báo trước 30 ngày vì HĐLĐ của bạn là HĐLĐ xác định thời hạn (2 năm). Điều này được pháp luật quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 38 Bộ luật lao động năm 2012.

Theo Khoản 3 Điều 116 Bộ luật lao động năm 2012 thì bạn có thể được nghỉ không lương trong trường hợp "người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương". Theo đó, nếu bạn muốn nghỉ việc không lương trong thời gian 2 tháng thì bạn phải thỏa thuận với người sử dụng lao động.

- Trường hợp người sử dụng lao động cho phép bạn nghỉ việc không lương:

Theo nguyên tắc của pháp luật thì nguyên tắc đóng và mức đóng BHXH của người lao động và người sử dụng lao động được căn cứ vào tiền lương của NLĐ.

Ngoài ra, tại khoản 1.7 Điều 38 Quyết định số 959/QĐ-BHXH năm 2015 quy định: “Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng BHXH, trừ trường hợp nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.”.

Như vậy, nếu bạn xin nghỉ việc không lương thì không phải đóng BHXH nên bạn không cần đóng BHXH trong 02 tháng nghỉ không lương. Theo thông tin bạn cung cấp trong thời gian nghỉ bạn vẫn đóng BHXH đầy đủ nhưng cơ sở của việc đóng BHXH, BHYT là HĐLĐ, bảng lương. Do đó, bạn nghỉ không lương đương nhiên sẽ không có tên trong bảng lương đơn vị nên không có căn cứ để đóng BHXH, tức bạn không thuộc diện đóng BHXH.

- Trong trường hợp người sử dụng lao động không cho phép bạn nghỉ việc không lương nhưng bạn vẫn nghỉ việc. Điều này đồng nghĩa với việc bạn đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật và đương nhiên bạn sẽ phải bồi thường cho tổ chức bạn đang làm việc.

Theo Điều 43 Bộ luật lao động năm 2012 thì khi bạn đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật thì phải có nghĩa vụ sau:

"Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này."

- Trường hợp nghỉ việc sớm nhưng không vi phạm luật lao động:

+ Về phía bạn, bạn có quyền chấm dứt HĐLĐ theo Khoản 1 Điều 37 Bộ luật lao động năm 2012 trong các trường hợp sau nhưng phải báo trước ít nhất 30 ngày làm việc:

"Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục."

+ Về phía tổ chức bạn đang làm việc, nếu bạn thực hiện một trong các trường hợp sau thì tổ chức nơi bạn đang làm việc có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ với bạn:

"Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng."

Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên bạn có thể nghỉ việc sớm nhưng không vi phạm pháp luật khi bạn hoặc tổ chức nơi bạn đang làm việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email:Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng.!.

2. Trách nhiệm pháp lý khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Công ty tôi trước đây là DNNN, năm 2008 cổ phần hóa, năm 2014 chuyển sang chỉ có 3 cổ đông chính. Tôi là nhân viên kế toán, sau khi sắp xếp lại công việc, giám đốc cho tôi xuống làm thống kê phân xưởng. khi làm ở vị trí này do đơn giá giữa T8 và T9/16 khác nhau công nhân có hỏi về đơn giá, tôi có trả lời thì giám đốc bảo tôi là tuyên truyền đơn giá và bảo rằng hiện tại chưa sắp xếp được công việc cho tôi và tạm thời tôi cứ nghỉ việc, tôi yêu cầu có quyết định nhưng không đưa ra được quyết định.
Vậy cho hỏi luật sư việc cty làm có đúng không và những quyền lợi liên quan ?
xin cảm ơn

Trả lời:

Chào bạn! Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi tới mục tư vấn của công ty chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Theo quy định Khoản 1 Điều 129 Bộ luật Lao động năm 2012 thì Người sử dụng lao động có quyền tạm đình chỉ công việc của người lao động khi vụ việc vi phạm có những tình tiết phức tạp, nếu xét thấy để người lao động tiếp tục làm việc sẽ gây khó khăn cho việc xác minh. Việc tạm đình chỉ công việc của người lao động chỉ được thực hiện sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.

Như vậy, việc giám đốc buộc bạn nghỉ việc tạm thời là không có căn cứ. Bạn có quyền gửi đơn tới Hòa giải viên lao động yêu cầu giải quyết. Các quyền lợi của bạn sẽ được giải quyết theo Nội quy lao động, Thỏa ước lao động tập thể.

Thưa luật sư, anh cho em hỏi trường hợp của em sắp hết hợp đồng , thì công ty thông báo trước 30 ngày nhưng công ty thông báo bằng miệng không có văn bản cụ thể , và sau đó em nghỉ việc em thông báo cho công ty bết trước 3 ngày rồi em viết đơn xin nghỉ nhưng công ty không cho em nghỉ luôn bắt em phải làm hết thời hạn của hợp đồng . như vậy anh chị cho em hỏi là trường hợp của em có sai không và khi em có việc mới em nghỉ luôn như vậy là đúng hay sai ?

BLLĐ 2012 quy định:

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Như vậy, bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn đảm bảo các căn cứ trên thì được coi là đúng pháp luật. Còn lại sẽ là trái pháp luật

Đối với đơn phương chấm dứt HĐ trái pháp luật, nghĩa vụ của bạn như sau:

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động

xin chào anh chị, tôi muốn nhờ anh chị tư vấn giúp tôi một việc như sau. tôi làm việc cho một siêu thị ở tp Nam Định, lương thử việc là 3 triệu một tháng. sau một thời gian, doanh nghiệp này yêu cầu tôi kí hợp đồng. tôi viết đơn đề nghị kí hợp đồng. doanh nghiệp hỗ trợ tiền trách nhiệm và lương chính thức cho tôi là 4 triệu một tháng. đồng thời giữ tiền kí quỹ 4 triệu của tôi với cam kết sẽ trả lại sau khi kí hợp đồng được 1 năm. tôi chưa kí hợp đồng chính thức. sau khi làm việc được tổng cộng 6 tháng, tôi xin nghỉ việc đúng theo quy định và yêu cầu trả lại toàn bộ tiền lương tiền kí quỹ, nhưng doanh nghiệp này đã truy thu lại tiền hỗ trợ mỗi tháng 1 triệu và trừ vào lương tháng cuối cùng của tôi. đồng thời cũng không trả lại tiền kí quỹ trong khi chưa có hợp đồng chính thức được kí, mong anh chị tư vấn giúp tôi nên giải quyết thế nào cho đúng

Trường hợp của bạn có thể gửi đơn đến Hòa giải viên lao động để yêu cầu giải quyết quyền lợi. Nếu không hòa giản được, bạn có quyền nộp đơn khởi kiện đến TAND cấp huyện để được giải quyết.

Cách đây 10 tháng, tôi có ký kết hợp đồng lao động với công ty A có thời hạn 1 năm. Sau đó công ty giải thể để thành lập công ty mới (là công ty B). Công ty B này có người đại diện pháp luật (Giám đốc) là người khác công ty A. Công ty B chuyển toàn bộ nhân viên sang công ty này, nhưng không có ký kết hợp đồng lao động mới. Bây giờ tôi muốn nghỉ việc ở công ty B này, mà so với công ty A tôi còn 2 tháng hợp đồng, vậy nếu tôi nghỉ việc, có cần phải bồi thường hợp đồng không? Mong được tư vấn. Xin cám ơn !

Bạn chỉ phải bồi thường nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Còn trong các trường hợp bình thường, bạn sẽ được đơn phương chấm dứt nếu công ty đồng ý hoặc thuộc các trường hợp sau:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

Thưa luật sư, Tôi là nhân viên thiết bị tại trường THCS, tôi đã đóng bảo hiểm được 9 năm . Nay do hoàn cảnh gia đình tôi xin nghỉ việc . Vậy tôi sẽ được hưởng các chế độ như thế nào?

Theo quy định tại điều 45 Luật viên chức năm 2010 quy định về chế độ thôi việc như sau:

Điều 45. Chế độ thôi việc

1. Khi chấm dứt hợp đồng làm việc, viên chức được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Viên chức không được hưởng trợ cấp thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Bị buộc thôi việc;

b) Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc mà vi phạm quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 29 của Luật này;

c) Chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định tại khoản 5 Điều 28 của Luật này
”.

Nếu bạn xin nghỉ việc, và việc xin nghỉ việc đúng với quy định tại khoản 4, 5, 6 Điều 29 Luật Viên chức 2010 thì chị sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc, chế độ bảo hiểm thất nghiệp và được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

Điều 29. Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc

4. Viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhưng phải thông báo bằng văn bản cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập biết trước ít nhất 45 ngày; trường hợp viên chức ốm đau hoặc bị tai nạn đã điều trị 06 tháng liên tục thì phải báo trước ít nhất 03 ngày.

5. Viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp sau:
a) Không được bố trí theo đúng vị trí việc làm, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm các điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng làm việc;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc không được trả lương đúng thời hạn theo hợp đồng làm việc;

c) Bị ngược đãi; bị cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình thật sự có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng;

đ) Viên chức nữ có thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở chữa bệnh;

e) Viên chức ốm đau hoặc bị tai nạn đã điều trị từ 03 tháng liên tục mà khả năng làm việc chưa hồi phục.

6. Viên chức phải thông báo bằng văn bản về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập biết trước ít nhất 03 ngày đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và e khoản 5 Điều này; ít nhất 30 ngày đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 5 Điều này
”.

- Thứ nhất, về khoản trợ cấp thôi việc.

Điều 48. Trợ cấp thôi việc
1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc”.

Do chị không cung cấp đầy đủ thông tin, nên chị đối chiếu với trường hợp của chị để tính trợ cấp thôi việc. Tuy nhiên, chị cần chú ý tới “ thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc” để tính chính xác khoản trợ cấp này.

Thời gian thực tế người lao động làm cho người sử dụng lao động như sau:

“ a) Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội”.

- Thứ hai, về chế độ bảo hiểm thất nghiệp

Điều 81. Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Người thất nghiệp được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi thất nghiệp;

2. Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội;

3. Chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều này.”.


Bạn đã đủ điều kiện để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, khoản trợ cấp này bạn sẽ không được hưởng nếu chị không tìm kiếm việc làm sau khi thôi việc. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp vẫn được bảo lưu để được hưởng khi chị hoàn thiện hồ sơ và tiếp tục tìm kiếm việc làm nhưng không tìm được hoặc để đóng tiếp khi chị tiếp tục làm việc ở nơi làm việc mới.

- Thứ ba, về thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

“Điều 57. Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội

Người lao động khi nghỉ việc mà chưa đủ điều kiện để hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 50 và Điều 51 hoặc chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội”.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng ./.

3. Tư vấn trợ cấp thôi việc sau khi chấm dứt hợp đồng lao động ?

Thưa luật sư, Xin kính nhờ tư vấn giúp tôi một việc như sau: Tôi là Hoàng Tuấn, nguyên là nhân viên của CGVDT có trụ sở đặt tại quận 3 TP.HCM. Tôi bắt đầu làm việc tại đây từ ngày 15.08.2009.

Sau 6 năm, hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng vào ngày 15.08.2015. Xin kính nhờ tư vấn giúp:

1.- Khi tôi nghỉ việc vào ngày 15.08.2015, CGVDT có phải thanh toán tiền trợ cấp thôi việc mỗi năm là nửa tháng lương cho tôi theo luật định không? Cơ sở pháp lý để người sử dụng lao động thanh toán tiền trợ cấp thôi việc, hoặc không thanh toán tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động được thực hiện theo điều khoản nào?

2.- Nếu người sử dụng lao động vẫn từ chối thanh toán tiền trợ cấp thôi việc cho tôi, thì tôi phải làm gì?

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc về cho chúng tôi, với vấn đền của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Thứ nhất, bạn có được hưởng trợ cấp thôi việc không?

Căn cứ quy định tại điều 48 của Bộ luật lao động 2012 hợp đồng lao động chấm dứt theo những trường hợp sau thì người sử dụng lao động phải chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động:

- Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

- Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

- Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

- Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

- Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

- Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo những trường hợp nêu trên thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương. Do đó, trong trường hợp của bạn, bạn có thời gian làm việc tại CGVDT 6năm và thỏa thuận chấm dứt hợp đồng theo khoản 3 Điều 36 thuộc các trường hợp tại Điều 48 BLLĐ bạn sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp, CGVDT có trách nhiệm cũng như nghĩa vụ phải trả trợ cấp thôi việc cho bạn theo quy định của pháp luật.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

Cụ thể:

Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số nội dung của bộ luật lao động 2012 quy định về thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc như sau:

- Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;

- Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật

- Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.

Thứ hai, nếu CGVDT không trả trợ cấp thôi việc thì bạn nên làm gì?

Nếu công ty không đồng ý chi trả cho bạn khoản trợ cấp thôi việc trên, thì theo điều 200 Bộ luật lao động, bạn có thể yêu cầu hòa giải viên hoặc khởi kiện ra tòa án để giải quyết tranh chấp.

Theo khoản 1 điều 201 BLLĐ, trong trường hợp này, bạn có thể yêu cầu tòa án giải quyết mà không cần phải thông qua thủ tục hòa giải. Bạn cần gửi đơn khởi kiện đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi có trụ sở của CGVDT yêu cầu giải quyết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, hy vọng có thể giúp bạn giải quyết được những vướng mắc của mình. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.6162.

Chúc bạn thành công, Trân trọng!

4. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có được nhận đủ lương không ?

Chào luật sư, em có vấn đề sau mong luật sư tư vấn. Hơn 1 tháng trước em cùng 4 người bạn có đi làm công trình tại 1 khu Chung cư cho 1 công ty thầu bên điện. Bọn em làm từ ngày 15 tháng 5 đến ngày 6 tháng 7. Khi xin vào làm bọn em có nộp hồ sơ gồm chứng minh nhân dân, giấy khám sức khỏe, sơ yếu lý lịch. Nửa tháng đầu bọn em được tính lương công nhân là 200 ngàn 1 ngày.Sau đó người chỉ huy trưởng nói với bọn em là từ tháng sau bọn em sẽ lãnh lương theo lương của công ty. Lương cơ bản và thử việc là 3tr100 ngàn/ tháng (làm đủ 26 ngày) cùng với phụ cấp 75 ngàn/ngày. Công ty này có 2 đợt trả lương cho công nhân đó là ngày 5,6 ( thanh toán lương cơ bản) và ngày 15,16 (thanh toán phần phụ cấp). Và 5 người bọn em làm đến ngày 6 tháng 7 thì đượcnhận phần lương cơ bản của tháng 6 và nhận được 80% lương cơ bản (họ nói lương thử việc). 5 người bọn em không đồng ý với mức lương đó do tháng trước người chỉ huy trưởng có nói là lương cơ bản của bọn em cũng chính là lương thử việc nhưng khi thanh toán lương họ chỉ trả 80% lương. vì thế nên 5 người bọn em đã quyết xin nghỉ luôn từ ngày 6/7.
Và đến ngày 16 tháng 7 thì bọn em lên nhận phần trợ cấp thì công ty chỉ thanh toán cho bọn em 50% trợ cấp. Anh chị cho em hỏi là có phải do bon em nghỉ nên công ty chỉ thanh toán cho 50% không, và trong trường hợp này em bọn em có mất quyền lợi gì không mong anh, chị có thể giải đáp thắc mắc giúp em ?
Em xin chân thành cảm ơn!

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có được nhận đủ lương không ?

Luật sư tư vấn Luật lao động trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Để xác định được công ty trả lương cho bạn như vậy là đúng hay sai thì bạn cần căn cứ vào loại hợp đồng và các thỏa thuận bên trong hợp đồng của bạn. Vì thế chúng tôi chia ra hai trường hợp sau:

Thứ nhất, loại hợp đồng mà các bạn ký với công ty là hợp đồng thử việc:

Bộ luật lao động năm 2012 quy định như sau:

Điều 26. Thử việc

1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thoả thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc.

Điều 28. Tiền lương trong thời gian thử việc

Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

Theo quy định trên nếu loại hợp đồng bạn ký là hợp đồng thử việc và công ty phải trả các bạn lương ít nhất bằng 85% mức lương của công việc đó, chứ không phải 80%.

Thứ hai, nếu loại hợp đồng bạn ký là hợp đồng lao động

Điều 15. Hợp đồng lao động

Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Nếu bạn và công ty ký hợp đồng lao động thì trong nội dung hợp đồng đã quy định cụ thể về mức lương hàng tháng và các khoản khác bao gồm cả phụ cấp nếu có, thì bạn sẽ được nhận đầy đủ tiền lương và phụ cấp như trong hợp đồng.

Và trong cả hai trường hợp này các bạn đều không được trả lương đầy đủ. Theo quy định của pháp luật bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng với người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 37 Bộ luật lao động và người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước 3 ngày:

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

Do bạn mới làm việc từ 15 tháng 5 đến ngày 6 tháng 7 nên chưa đủ điều kiện để hưởng trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm theo quy định của Điều 48, 4 Bộ luật lao động 2012

Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Điều 49. Trợ cấp mất việc làm

1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.

Tuy nhiên, trường hợp này bạn vẫn được hưởng đủ lương và trợ cấp như thỏa thuận đối với hợp đồng lao động và 85% lương đối với hợp đồng thử việc trong các tháng bạn đi làm đầy đủ.

Trường hợp công ty cố tình không trả hoặc trả thiếu tiền cho bạn thì bạn có thể làm đơn khởi kiện ra Tòa án cấp huyện nơi công ty có trụ sở để được giải quyết.

Hồ sơ khởi kiện bao gồm :

- Đơn khởi kiện

- Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng thử việc và các tài liệu khác.

-Các tài liệu khác liên quan đến tiền công được trả và xác nhận của công ty mức tiền bạn đã nhận

- Giấy xác nhận của cơ quan nhà nước về địa chỉ cư trú, làm việc của bị đơn;

- Chứng minh nhân dân và Hộ khẩu của người khởi kiện;

- Giấy tờ chứng minh vụ việc vẫn còn thời hiệu khởi kiện (nếu có).

- Tài liệu về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc cử người đại diện doanh nghiệp (bản sao có sao y) nếu là pháp nhân;

- Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Thời hạn giải quyết vụ án :

- Thời hạn hòa giải và chuẩn bị xét xử là từ 4-6 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án

- Thời hạn mở phiên tòa : Trong thời hạn tối đa 02 tháng, kể từ ngày đưa vụ án ra xét xử.

- Thời hạn hoãn phiên toà : không quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa

Lệ phí:

1/ Án phí dân sự bao gồm án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm, án phí dân sự phúc thẩm (Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 về Án phí, lệ phí tòa án)

2/ Mức án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm đối với các vụ án dân sự không có giá ngạch là 200.000 đồng.

3/ Mức án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm đối với các vụ án dân sự có giá ngạch được quy định như sau:

Mức án phí

a) từ 4.000.000 đồng trở xuống (Mức án phí: 200.000 đồng)

b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng (Mức án phí:5% giá trị tài sản có tranh chấp)

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng (Mức án phí: 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng)

d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng (Mức án phí:36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng)

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng (Mức án phí: 72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng)

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng (Mức án phí: 112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.)

>> Xem thêm: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê