1. Bị nghi ngờ là ăn trộm có bị phạt hành chính, đi tù không?

Theo quy định của pháp luật hiện hành, một cá nhân, tổ chức bị coi là tội phạm khi và chỉ khi hành vi của cá nhân, tổ chức đó được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Điều này xuất phát từ nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam, đó là nguyên tắc suy đoán vô tội, tức là, một người bị buộc tội sẽ không bị coi là có tội khi được chứng minh theo thủ tục Luật định.

Khi phát hiện một người thực hiện hành vi có dấu hiệu phạm tội, công dân có quyền tố giác hành vi của người đó lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền cụ thể là cơ quan công an cảnh sát điều tra để cơ quan này tiến hành xác minh, xử lý hành vi kịp thời và đúng pháp luật. 

Theo đó, trong trường hợp một cá nhân, tổ chức chỉ bị nghi ngờ là trộm cắp tài sản mà chưa được thực hiện chứng minh theo trình tự, thủ tục mà pháp luật hiện hành quy định thì vẫn chưa bị coi là có tội, do vậy, cũng chưa phải bị phạt hay ở tù. Tuy nhiên, nếu hành vi bị nghi ngờ là trộm cắp tài sản này bị buộc tội và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện điều tra, truy tố, chứng minh được và cấu thành tội phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm. Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà người bị nghi ngờ là trộm cắp tài sản có thể bị phạt hành chính hoặc phạt ở tù.

2. Nghi ngờ người khác ăn trộm có được lục soát người không?

Việc lục soát người đề cập đến việc kiểm tra người khác, bao gồm tìm kiếm trong người, quần áo đang mặc, và các vật phẩm họ mang theo, nhằm phát hiện và thu giữ các công cụ, phương tiện phạm tội hoặc tài sản liên quan đến việc phạm tội. Tuy nhiên, việc này là một biện pháp cưỡng chế ảnh hưởng trực tiếp đến quyền cơ bản của công dân, do đó, pháp luật hình sự quy định rất chặt chẽ việc thực hiện nó.

Theo quy định hiện hành tại Điều 192 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015, việc khám xét người, nơi ở, nơi làm việc, phương tiện, tài liệu... của một cá nhân chỉ được thực hiện khi có căn cứ nhận định, xác định rằng trong người hoặc tài liệu đó có liên quan đến vụ án điều tra hoặc khi cần thiết để phát hiện người đang bị truy nã hoặc để giải cứu nạn nhân.

Căn cứ theo các quy định trên, việc khám xét, lục soát người bị nghi ngờ có hành vi trộm cắp tài sản phải có căn cứ xác định trong người này có công cụ, phương tiện phạm tội. Đồng thời, việc khám xét sẽ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện.

Như vậy, khi nghi ngờ ăn trộm mà không có căn cứ để xác định trong người họ có phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án thì không được tự ý khám xét, lục soát.

 Tuy nhiên, yêu cầu này cần được làm rõ và cụ thể. Nếu không có bằng chứng rõ ràng về việc họ đã phạm tội, chỉ có sự nghi ngờ mà không có bằng chứng cụ thể, thì không được phép lục soát họ. Việc tiến hành lục soát mà không có căn cứ sẽ vi phạm quyền cá nhân, quyền không thể xâm phạm vào thân thể, được bảo vệ theo Điều 20 của Hiến pháp 2013.

3. Khi nào được khám xét người đối với người có hành vi trộm cắp tài sản?

Căn cứ theo quy định tại Điều 113 và Điều 193 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định việc khám xét người được thực hiện khi có lệnh khám xét của những người có thẩm quyền. Theo đó, lệnh khám xét người nêu trên phải được Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền phê chuẩn trước khi tiến hành thực hiện lệnh khám xét. Trong trường hợp khẩn cấp không thể kéo dài thời gian để chờ phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền thì những người có thẩm quyền có quyền ra lệnh khám xét nhưng phải lưu ý là trong thời hạn 24 giờ kể từ khi thực hiện khám xét xong thì người đã ra lệnh phải có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền thực hiện quyền công tố và quyền kiểm sát việc điều tra vụ án, vụ việc.

Như vậy, việc ra lệnh khám xét được thực hiện trong hai trường hợp như sau: Lệnh khám xét có phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền và Lệnh khám xét trong trường hợp khẩn cấp. Cụ thể những người có thẩm quyền ra lệnh khám xét trong những trường hợp trên như sau:

Người có thẩm quyền ra lệnh khám xét có phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền:

Người có thẩm quyền ra lệnh khám xét người được quy định tại tại khoản 1 Điều 113 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, bao gồm những đối tượng sau:

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Đối với trường hợp này lệnh khám xét của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều ra ban hành phải được Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành việc khám xét người;

- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp có thẩm quyền ban hành lệnh khám xét người;

- Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân các cấp và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp và Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra lệnh khám xét người.

- Những cá nhân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền được quy định tại khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Các cá nhân trên có thẩm quyền ra lệnh khám xét người có thẩm quyền ra lệnh khám xét người  và được Viện Kiểm sát nhân dân có thẩm quyền phê chuẩn thì mới tiến hành khám xét trên thực tế.

Người có thẩm quyền ra lệnh trong trường hợp khẩn cấp:

Những cá nhân có thẩm quyền ra lệnh khám xét trong trường hợp khẩn cấp mà không cần có sự phê chuẩn ngay lập tức của Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền được quy định tại khoản 2 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bao gồm những đối tượng sau:

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;

- Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương; Đồn trưởng Đồn biên phòng; Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng; Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng; Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng;

- Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển; Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển; Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển;

- Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;

- Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi mà tàu bay hoặc tàu biển đó đã rời khỏi sân bay, bến cảng.

Đối với những trường hợp khẩn cấp cần khám xét để ngăn chặn kịp thời hành vi tẩu thoát của người phạm tội và không thể kéo dài thời gian chờ phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền thì những cá nhân trên có quyền ra lệnh khám xét.

Lưu ý: trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, các cá nhân có thẩm quyền ra lệnh khám xét trong trường hợp khẩn cấp nêu trên phải có trách nhiệm thông báo bằng văn bản đến Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền để thực hành quyền công tố và thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc điều tra vụ án.

Xem thêm: Trường hợp nào thì công an được khám xét nhà ở của công dân?

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Nghi ngờ người khác ăn trộm được lục soát người không? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!