1. Có cần thông báo khi nghỉ việc trong thời gian thử việc ?

Thưa luật sư, tôi có vấn đề như sau cần được sự hỗ trợ từ phía luật sư: em trai tôi vừa tốt nghiệp lớp 12 và xin vào làm nhân viên tại cửa hàng đồ ăn nhanh X. Khi xin vào thì họ có yêu cầu em trai tôi phải thử việc trong thời gian hai tháng trước khi ký hợp đồng lao động chính thức.

Sau một thời gian thử việc thì em trai tôi xin nghỉ vì cửa hàng yêu cầu làm thêm quá nhiều mà trong hợp đồng thử việc không hề quy định về việc đó. Nhưng khi làm đơn xin nghỉ thì chủ cửa hàng không đồng ý và nói sẽ không trả tiền lương trong thời gian thử việc và yêu cầu em trai tôi phải báo trước 20 ngày trước khi nghỉ. Vậy chủ cửa hàng nói vậy có đúng không thưa luật sư?

Mong nhận được hồi âm từ phía Luật sư.

Kính chúc Luật sư sức khỏe.

>> Luật sư tư vấn quy định pháp luật về thử việc, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời:

Hiện nay theo quy định của Bộ luật lao động 2019 về thử việc như sau:

Điều 24. Thử việc

1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hp đng thử việc.

2. Nội dung chủ yếu của hợp đồng thử việc gồm thời gian thử việc và nội dung quy định tại các điểm a, b, c, đ, g và h khoản 1 Điều 21 của Bộ luật này.

3. Không áp dụng thử việc đối với người lao động giao kết hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng.

Ngoài ra bạn có cung cấp thông tin là em bạn phải thử việc trong thời gian 2 tháng. Như vậy chủ cửa hàng đã vi phạm quy định về thời gian thử việc như sau:

Điều 25. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:

1. Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;

2. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đng trở lên;

3. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;

4. Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác.

Như vậy thử việc 2 tháng chỉ áp dụng đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên mà em bạn mới tốt nghiệp lớp 12 và làm việc trong cửa hàng thức ăn nhanh nên yêu cầu thử việc 2 tháng là vi phạm quy định của luật lao động.

Về việc em bạn nghỉ việc và chủ cửa hàng yêu cầu phải thông báo trước 20 ngày là vi phạm pháp luật, hiện nay Bộ luật lao động 2019 có quy định:

Điều 27. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động.

Trường hợp thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết đối với trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động hoặc phải giao kết hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc.

Trường hợp thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường.

Như vậy khi không đạt yêu cầu về việc làm thử thì em trai bạn có quyền nghỉ mà không cần phải báo trước và không phải bồi thường.

Về việc chủ cửa hàng không chịu trả lương là vi phạm vì theo Điều 48 Bộ luật lao động 2019 có quy định:

Điều 48. Trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:

a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

b) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;

c) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

d) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.

2. Tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động được ưu tiên thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:

a) Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tkhác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động;

b) Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu. Chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động trả.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến: 1900.6162 Chúng tôi sẵn sàng giải đáp. Trân trọng!

>> Xem thêm:  Quy định về chế độ nghỉ việc riêng không hưởng lương trong thời gian thử việc ?

2. Hết thời gian thử việc công ty không ký hợp đồng lao động có vi phạm không ?

Kính thưa Luật sư. Tôi ký HĐLĐ thử việc với một Công ty Cổ phần với thời gian 60 ngày theo quy định, tuy nhiên sau 17 ngày kể từ ngày kết thúc 60 ngày thử việc thì Công ty mới thông báo kết thúc hợp đồng và chấm dứt công việc thử việc với lý do không phù hợp.

Như vậy, xin Luật sư trả lời Tư vấn giúp tôi:

1- Công ty đã thực hiện đúng hay sai các quy định của Luật Lao động , người LĐ có được đền bù hay khắc phục hậu quả không?

2- Sau thời gian thử việc đã kết thúc trên nhưng công ty chưa ký HĐLĐ thì tôi thuộc diện LĐ gì ? ( thử việc hay chính thức ...?)?

3- Tôi có thể thắc mắc, khởi kiện Công ty đến cơ quan nào và quy trình nào ?

Trân trọng cảm ơn Luật Sư tư vấn !

Công ty không kí hợp đồng lao động sau khi đã hết thời gian thử việc

Luật sư tư vấn luật lao động về hợp đồng, gọi1900.6162

Trả lời:

Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Thứ nhất, về việc công ty không kí HĐLĐ khi hết thời hạn thử việc

Theo quy định tại điều , Bộ luật lao động năm 2019 thì:

Điều 27. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động.

Trường hợp thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết đối với trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động hoặc phải giao kết hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc.

Trường hợp thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường.

Căn cứ vào quy định trên thì việc công ty bạn thông báo kết thúc hợp đồng và chấm dứt công việc thử việc với lý do không phù hợp sau 17 ngày kể từ sau khi bạn đã hoàn thành 60 ngày thử việc là không đúng theo quy định của pháp luật.

Mặt khác, như Điều 7 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP đã quy định:

"Điều 7. Thông báo kết quả về việc làm thử

1. Trong thời hạn 03 ngày trước khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động.

2. Khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động."

Căn cứ vào các quy định trên thì khi hết thời gian thử việc, mà Công ty không ký kết HĐLĐ cho bạn, bạn không được thông báo kết quả thử việc mà vẫn tiếp tục làm việc thì người đó đương nhiên được làm việc chính thức.Tuy nhiên pháp luật không có quy định cụ thể trường hợp đương nhiên được làm việc chính thức sẽ tương ứng với loại HĐLĐ có xác định thời hạn bao lâu, do đó cần thiết phải căn cứ vào thỏa thuận tại hợp đồng thử việc để biết trường hợp sau khi thử việc đạt yêu cầu thì hai bên sẽ ký HĐLĐ loại gì, dùng làm cơ sở xác định trách nhiệm thực hiện HĐLĐ đã được xác lập đương nhiên sau thời gian thử việc.

Ngoài ra, hành vi không giao kết HĐLĐ sau khi hết thời gian thử việc của công ty được xác định là hành vi vi phạm pháp luật và phải bị xử lý theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo khoản 5 Điều 1 Nghị định số 88/2015/NĐ-CP) như sau:

"Điều 6. Vi phạm quy định về thử việc

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi sau đây:

a) Yêu cầu thử việc đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ;

b) Không thông báo kết quả công việc người lao động đã làm thử theo quy định của pháp luật.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người lao động thử việc quá 01 lần đối với một công việc;

b) Thử việc quá thời gian quy định;

c) Trả lương cho người lao động trong thời gian thử việc thấp hơn 85% mức lương của công việc đó;

d) Kết thúc thời gian thử việc, người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà người sử dụng lao động không giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc trả đủ 100% tiền lương của công việc đó cho người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 1, Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều này."

Một lưu ý nhỏ là mức phạt tại điều này áp dụng đối với người sử dụng lao động là cá nhân, trường hợp người sử dung lao động là tổ chức thì mức phạt trở thành 4 - 10 triệu đồng. Hay nói cách khác, công ty bạn sẽ bị phạt 7 triệu đồng.

Trường hợp của bạn, khi kết thúc thời gian thử việc Công ty không ký kết HĐLĐ cho bạn, nhưng bạn vẫn tiếp tục làm việc cho Công ty thì HĐLĐ đương nhiên được xác lập. Việc công ty thông báo chấm dứt HĐLĐ là đơn phương chấm dứt HĐLĐ và phải tuân thủ các quy định của pháp luật về căn cứ chấm dứt và nghĩa vụ thông báo. Trong trường hợp công ty đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái quy định của pháp luật thì theo quy định tại điều 41, bộ luật lao động 2019, công ty phải thực hiện các nghĩa vụ sau:

Điều 41. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trlại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trtrợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Về việc khởi kiện:

Điều 187, Bộ luật lao động 2019 quy định cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là:

Điều 187. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:

1. Hòa giải viên lao động;

2. Hội đồng trọng tài lao động;

3. Tòa án nhân dân.

Điều 188. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan quy định tại khoản 3 Điều 181 của Bộ luật này, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hòa giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể ủy quyền cho người khác tham gia phiên họp hòa giải.

4. Hòa giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ các bên thương lượng để giải quyết tranh chấp.

Trường hợp các bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành. Biên bản hòa giải thành phải có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên lao động.

Trường hợp các bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hòa giải để các bên xem xét. Trường hợp các bên chấp nhận phương án hòa giải thì hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành. Biên bản hòa giải thành phải có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên lao động.

Trường hợp phương án hòa giải không được chấp nhận hoặc có bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải không thành. Biên bản hòa giải không thành phải có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hòa giải viên lao động.

5. Bản sao biên bản hòa giải thành hoặc hòa giải không thành phải được gửi cho các bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản.

6. Trường hợp một trong các bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành thì bên kia có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết.

7. Trường hợp không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải quy định tại khoản 1 Điều này hoặc trường hợp hết thời hạn hòa giải quy định tại khoản 2 Điều này mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc trường hợp hòa giải không thành theo quy định tại khoản 4 Điều này thì các bên tranh chấp có quyền lựa chọn một trong các phương thức sau để giải quyết tranh chấp:

a) Yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật này;

b) Yêu cầu Tòa án giải quyết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Nghỉ để kết hôn trong thời gian thử việc ? Xin nghỉ việc trong thời gian thử việc

3. Hỏi về ràng buộc hợp đồng thử việc, hợp đồng học nghề, học việc tại công ty ?

Thưa luật sư, Tôi có ký hợp đồng học việc với một công ty, thời gian học việc từ ngày 01/02/2018 đến hết 28/02/2018. Trong hợp đồng có ràng buộc rằng trong thời gian học việc nếu không hợp thì có thể xin nghỉ, nhưng sau khi học việc xong thì phải cam kết làm cho công ty ít nhất 1 năm kể từ sau ngày kết thúc hợp đồng học việc, nếu đơn phương chấm dứt thì phải đền bù 3 tháng lương khởi điểm. Hợp đồng này có hiệu lực từ ngày 01/02/2018 đến 28/02/2018. Tôi vừa học việc xong nhưng không chịu được áp lực nên xin nghỉ thì công ty yêu cầu bồi thường, tôi có nói rằng hợp đồng đã hết hiệu lực nhưng họ không đồng ý.
Vậy xin hỏi công ty làm vậy có trái pháp luật không. Hợp đồng này có còn giá trị pháp lý không. Hiện tại tôi vẫn đang đi làm, nhưng chưa ký hợp đồng thử việc hay hợp đồng lao động nào cả ?
Xin cảm ơn.

Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Khuê của chúng tôi, trường hợp của bạn được tư vấn như sau:

Căn cứ vào Bộ luật lao động năm 2019, Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014 và Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn cần xác định rõ một số nội dung sau để giải quyết vấn đề của mình:

Việc bạn có ký hợp đồng học việc 1 tháng ở công ty là hợp đồng học việc hay học nghề thì hai bên phải ký kết hợp đồng đào tạo nghề trong trường hợp người lao động được đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động.

Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp.

Về bản chất người sử dụng lao động phải bỏ ra các khoản chi phí gồm: các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học để đào tạo, dạy nghề cho người lao động để làm việc cho mình gọi là chi phí đào tạo. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài. Tuy nhiên hoạt động của bạn chỉ được tiến hành trong nước và diễn ra ngắn ngày tại công ty. Lúc ban đầu khi bạn vào công ty thì hai bên cũng đã ký kết hợp đồng học việc.

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hợp đồng học nghề, đào tạo nghề ( học việc) phải đảm bảo có đủ các nội dung sau:

a) Nghề đào tạo;

b) Địa điểm đào tạo, thời hạn đào tạo;

c) Chi phí đào tạo;

d) Thời hạn người lao động cam kết phải làm việc cho người sử dụng lao động sau khi được đào tạo;

đ) Trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo;

e) Trách nhiệm của người sử dụng lao động.

Như vậy pháp luật cũng vẫn thừa nhận và đặt ra trách nhiệm của hai bên phải xây dựng điều khoản về thời hạn người lao động cam kết phải làm việc cho người sử dụng lao động khi được đào tạo và trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo. Việc công ty bạn đưa ra yêu cầu buộc bạn phải bồi thường khoản chi phí 3 tháng tiền lương nếu sau khi hoàn thành xong chương trình đào tạo mà không làm việc trong công ty của họ được coi là trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo cho công ty thì việc đưa ra yêu cầu trong cam kết ban đầu hoàn toàn là hợp pháp và được thực hiện trên cơ sở pháp luật hiện hành và mức chi trả như đã thỏa thuận. Còn đây không phải là khoản tiền phạt mà là tiền bồi thường chi phí đào tạo. Việc phạt vi phạm hợp đồng là một hình thức cấm, cụ thể:

Những quy định cấm khí xử lý kỷ luật lao động:

1. Xâm phạm thân thể, nhân phẩm của người lao động.

2. Dùng hình thức phạt tiền, cắt lương thay việc xử lý kỷ luật lao động.

3. Xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động có hành vi vi phạm không được quy định trong nội quy lao động.

Tuy nhiên đối với trường hợp bạn nêu ra không rơi vào trường hợp bi cấm này, mà là một trường hợp khác được pháp luật lao động cho phép về khoản chi phí bồi thường chi phí đào tạo nghề.

Nếu hiện tại do công việc quá áp lực bạn không thể tiếp tục thực hiện thì bạn sẽ phải hoàn trả cho phía bên công ty là 3 tháng tiền lương tương ứng với tiền bồi thường chi phí đào tạo nghề. Nếu bạn làm việc lâu dài ở công ty trên 3 tháng thì công ty phải ký kết hợp đồng lao động với bạn bằng văn bản. Việc giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói chỉ đặt ra nếu bạn giao kết hợp đồng lao động dưới 3 tháng với công ty.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Nghỉ việc trong thời gian thử việc có cần báo trước không ?

4. Thử việc có phải đóng bảo hiểm xã hội không ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một số vấn đề về luật lao động và BHXH mong các luật sư giải đáp như sau:

1. Em vào làm tại một công ty, nhưng chỉ thỏa thuận bằng lời nói chứ không được kí kết hợp đồng thử việc, như vậy có đúng luật lao động?

2. Người thỏa thuận về vấn đề tiền lương thử việc với em nghỉ việc sau khi em đã vào làm, và ban quản lý trả lương không đúng như thỏa thuận ban đầu với lí do người trực tiếp thỏa thuận đã nghỉ việc nên thỏa thuận không còn hiệu lực, như vậy là đúng hay sai?

3. Em không có hợp đồng thử việc và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, nhưng bên phía công ty vẫn tự ý đóng BHXH và trừ vào tiền lương của em ( em thấy trong bảng lương ghi là phí đóng BH 10.5%), em hỏi thì phía công ty trả lời luật bây giờ là như vậy và tất cả mọi người làm ở bộ phận của em đều bị trừ như vậy. Như vậy có đúng với luật BHXH không?

Kính mong các luật sư tư vấn giúp em. Em xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: T.P

Trả lời:

1. Về thỏa thuận thử việc:

Điều 24 Bộ luật lao động số 2019 quy định về thử việc như sau:

Điều 24. Thử việc

1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hp đng thử việc.

2. Nội dung chủ yếu của hợp đồng thử việc gồm thời gian thử việc và nội dung quy định tại các điểm a, b, c, đ, g và h khoản 1 Điều 21 của Bộ luật này.

3. Không áp dụng thử việc đối với người lao động giao kết hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng.

Về hình thức của hợp đồng thử việc thì BLLĐ 2019 không có quy định thỏa thuận về thử việc phải được lập bằng văn bản cho nên thỏa thuận thử việc có thể thực hiện bằng lời nói.

2. Người thỏa thuận về vấn đề tiền lương thử việc với em nghỉ việc sau khi em đã vào làm, và ban quản lý trả lương không đúng như thỏa thuận ban đầu với lí do người trực tiếp thỏa thuận đã nghỉ việc nên thỏa thuận không còn hiệu lực, như vậy là đúng hay sai?

Điều 26. Tiền lương thử việc

Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

Điều 27. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động.

Trường hợp thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết đối với trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động hoặc phải giao kết hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc.

Trường hợp thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường

Nếu người thỏa thuận với bạn được giao nhiệm vụ thay mặt công ty thực hiện việc tuyển dụng thử việc hoặc được ủy quyền thì đó là thỏa thuận giữa bạn và công ty chứ không phải thỏa thuận giữa bạn và cá nhân người đó cho nên khi người đó nghỉ việc mà công việc tuyển dụng, giao kết hợp đồng thử việc được chuyển giao cho người khác thì người này phải có trách nhiệm như đã thỏa thuận ban đầu.

Nếu người đã thỏa thuận thử việc ban đầu với bạn không có nhiệm vụ giao kết hợp đồng thử việc, không được ủy quyền thì thỏa thuận đó sẽ không có hiệu lực.

5. Công ty có được tự ý đóng bảo hiểm

Em không có hợp đồng thử việc và không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, nhưng bên phía công ty vẫn tự ý đóng BHXH và trừ vào tiền lương của em (em thấy trong bảng lương ghi là phí đóng BH 10.5%), em hỏi thì phía công ty trả lời luật bây giờ là như vậy và tất cả mọi người làm ở bộ phận của em đều bị trừ như vậy. Như vậy có đúng với luật BHXH không?

Theo khoản 1 điều 2 Luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:

a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;

b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;

Và theo khoản 2 điều 24 BLLĐ 2019:

2. Nội dung chủ yếu của hợp đồng thử việc gồm thời gian thử việc và nội dung quy định tại các điểm a, b, c, đ, g và h khoản 1 Điều 21 của Bộ luật này.

Căn cứ các quy định trên thì thời gian thử việc theo hợp đồng thử việc, người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội nên việc công ty tự ý đóng BHXH và trừ vào tiền lương của bạn là không đúng quy định.

Khoản 3 Điều 186 Bộ luật Lao động quy định, đối với người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp thì ngoài việc trả lương theo công việc, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền cho người lao động tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.

Do đó, công ty có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương cho bạn một khoản tiền tương đương với tỷ lệ mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thuộc phần trách nhiệm của công ty được quy định tại Quyết định 959/QĐ-BHXH thu bảo hiểm xã hội y tế thất nghiệp quản lý sổ bảo hiểm thẻ bảo hiểm y tế 2015 là 22% (bao gồm: bảo hiểm xã hội 18%, bảo hiểm y tế 3%, bảo hiểm thất nghiệp 1%).

Việc công ty bắt bạn phải trích tiền lương thử việc để đóng BHXH, bạn có thể khiếu nại việc này của công ty theo Trình tự, thủ tục khiếu nại về lao động ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Sử dụng người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có phải đóng bảo hiểm xã hội không, thử việc có cần giấy phép lao động?