1. Nghỉ việc trong thời gian thử việc có được trả lương không ?

Thân chào luật sư, cho em hỏi em có thử việc tại công ty A thời gian thử việc là 02 tháng. Trong thời gian thử việc do tính chất công việc nên em xin nghỉ (em có viết email xin nghỉ gửi cho giám đốc và trưởng phòng) nhưng đến khi nhận lương thì em không được trả lương.

Em có hỏi thì công ty nói em nghỉ việc mà không bàn giao công việc nên công ty không trả lương mà còn nói em nghỉ phải báo trước 03 ngày. Mong luật sư giúp em. Em có tìm hiểu và được biết là cần báo lên Sở Lao động - Thương binh - Xã hội ?

Mong sớm nhận được tư vấn của quý luật sư, em xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Căn cứ quy định tại Điều 24 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về thử việc như sau:

"Điều 24. Thử việc

1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hp đng thử việc.

2. Nội dung chủ yếu của hợp đồng thử việc gồm thời gian thử việc và nội dung quy định tại các điểm a, b, c, đ, g và h khoản 1 Điều 21 của Bộ luật này.

3. Không áp dụng thử việc đối với người lao động giao kết hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng.

Theo như thông tin bạn cung cấp, bạn có thử việc tại Công ty A với thời hạn là 02 tháng. Nhưng vì tính chất công việc nên đang trong thời gian thử việc bạn đã xin nghỉ, bạn có viết email xin nghỉ gửi cho giám đốc và trưởng phòng nhưng đến khi nhận lương thì bạn không được trả lương. Bạn có hỏi thì công ty nói bạn nghỉ việc mà không bàn giao công việc nên công ty không trả lương mà còn nói bạn nghỉ phải báo trước 03 ngày. Do đó:

Trường hợp thứ nhất, nếu bạn có ký hợp đồng thử việc với công ty. Trong hợp đồng thử việc có nêu rõ là trong thời gian thử việc bạn muốn nghỉ việc thì bạn phải thông báo cho công ty biết trước 03 ngày. Nếu bạn không báo trước cho công ty trong thời gian 03 ngày thì bạn sẽ không được trả lương theo hợp đồng thử việc. Lúc này, công ty không trả lương cho bạn là có căn cứ.

Trường hợp thứ hai, bạn có ký hợp đồng thử việc với công ty và trong hợp đồng thử việc không nhắc đến việc muốn chấm dứt hợp đồng thử việc cần phải báo trước 03 ngày. Hoặc bạn và công ty A không ký kết hợp đồng thử việc. Lúc này, chúng ta sẽ căn cứ theo quy định tại Điều 26 và Điều 27 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định như sau:

"Điều 26. Tiền lương thử việc

Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

Điều 27. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động.

Trường hợp thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết đối với trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động hoặc phải giao kết hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc.

Trường hợp thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường."

Như vậy, theo quy định của pháp luật, trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ thỏa thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận. Chính vì vậy, việc bạn nghỉ việc mà đã báo trước qua email cho Giám đốc công ty thì được xem như là bạn đã thông báo cho công ty. Do đó, công ty có nghĩa vụ trả lương cho bạn theo đúng thỏa thuận ban đầu khi bạn mới bắt đầu vào làm việc ở công ty.

Trong trường hợp, công ty vẫn cố tình không trả lương cho bạn đối với thời gian bạn đã thử việc ở công ty thì bạn có quyền làm đơn Khiếu nại nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu điện tời Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh hoặc Sở Lao động, Thương Binh & Xã hội cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi công ty đặt trụ sở chính để yêu cầu giải quyết căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 88/2015/NĐ-CP quy định về xử phạt hành vi vi phạm quy định về tiền lương với mức hình phạt khi công ty không trả lương cho bạn đúng thời hạn tương ứng như sau:

"a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên. "

Ngoài ra, công ty A còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc trả đủ tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả, trả thiếu cho người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm nêu trên.

Bên cạnh đó, bạn cũng có thể làm Đơn Khởi kiện nộp cho Tòa án nhân dân cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh để yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề này cho bạn.

>> Xem thêm:  Nghỉ để kết hôn trong thời gian thử việc ? Xin nghỉ việc trong thời gian thử việc

2. Cách giải quyết tranh chấp giữa hợp đồng thử việc ?

Thưa luật sư ! Tôi vào làm việc cho 1 công ty từ đầu tháng 9.2015 ở vị trí quản lý bán hàng. Sau 2 tháng thử việc tôi được ký hợp đồng chính thức từ ngày 1.11.2015 nhưng sau đó tôi thông báo thôi việc và được công ty chấp thuận thôi việc ngày 30.11.2015 nhưng công ty bắt tôi phải ký thoả thuận thử việc với nội dung : + tôi phải thu hồi nợ của khách hàng trong khu vực tôi quản lý trước ngày 5.12.2015 nhưng đến hết ngày 30.11.20115 tôi đã bàn giao danh sách Công nợ khách hàng và hàng hoá cho công ty. Vì vậy nợ của khách hàng tôi chưa thu hồi do buộc phải bàn giao lại cho công ty nên tôi không thể liên hệ khách hàng để thu hồi nợ về cho công ty nữa.
+ Công ty yêu cầu tôi bàn giao số liệu, giấy tờ, thông tin khách hàng, và hàng hoá cho Công ty trước ngày 30.11.2015 và tôi đã bàn giao xong.
Trong 2 tháng thử việc công ty có giữ lại lương của tôi mỗi tháng 500.000 (gọi là tiền thế chân thay vì nộp bằng đại học gốc theo quy định của công ty). Lịch trả lương của công ty vào ngày 5 tây của tháng sau, đến nay thì nhân viên ở bộ phận khách được lãnh lương còn nhân viên sale đã nộp đơn nghỉ việc như tôi và các anh em khác không được trả lý do là khách hàng chưa trả hết nợ cho công ty, khi nào công ty nhận được khoản nợ đó thì mới trả lương. Nhưng anh em sale đã buộc phải bàn giao danh sách công nợ và không được phép liên lạc với khách hàng nữa thì làm sao biết khi nào khách hàng trả nợ cho công ty ? và khi nào tôi mới được nhận lương ?
Xin luật sư vui lòng tư vấn giúp để tôi có thể nhận lương của mình đúng theo luật lao động. Xin chân thành cảm ơn luật sư !

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định của Bộ luật lao động năm 2019 thì người lao động sau khi ký kết hợp đồng lao động với người sử dụng mà muốn nghỉ việc thì người lao động phải thông báo trước cho người sử dụng lao động và phải được người sử dụng đồng ý bằng văn bản.Trường hợp của bạn thì bạn đã được giám đốc đồng ý cho nghỉ việc.Theo quy định của pháp luật thì khi người lao động nghỉ việc thì đều được thanh toán lương kịp thời đúng thời hạn. Cụ thể theo khoản 3 Điều 34 Bộ luật lao động năm 2019:

Điều 34. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

Và khoản 2 Điều 48 Bộ luật lao động 2019:

"Điều 48. Trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:

a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

b) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;

c) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

d) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.

..."

Như vậy trong trường hợp này bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu công ty trả lương cho bạn hoặc yêu cầu công ty vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với bạn hoặc khi công ty bạn hủy bỏ hợp đồng thì bạn bồi thường thiệt hại. Khi có tranh chấp xảy ra trước tiên sẽ tuân sự thỏa thuận, thương lượng của các bên và hòa giải viên hoặc khởi kiện tại tòa án được quy định cụ thể tại các 187, 188 Bộ luật Lao động 2019:

"Điều 187. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:

1. Hòa giải viên lao động;

2. Hội đồng trọng tài lao động;

3. Tòa án nhân dân."

"Điều 188. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan quy định tại khoản 3 Điều 181 của Bộ luật này, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hòa giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể ủy quyền cho người khác tham gia phiên họp hòa giải.

4. Hòa giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ các bên thương lượng để giải quyết tranh chấp.

Trường hợp các bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành. Biên bản hòa giải thành phải có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên lao động.

Trường hợp các bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hòa giải để các bên xem xét. Trường hợp các bên chấp nhận phương án hòa giải thì hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành. Biên bản hòa giải thành phải có chữ ký của các bên tranh chấp và hòa giải viên lao động.

Trường hợp phương án hòa giải không được chấp nhận hoặc có bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải không thành. Biên bản hòa giải không thành phải có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hòa giải viên lao động.

5. Bản sao biên bản hòa giải thành hoặc hòa giải không thành phải được gửi cho các bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản.

6. Trường hợp một trong các bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành thì bên kia có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết.

7. Trường hợp không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải quy định tại khoản 1 Điều này hoặc trường hợp hết thời hạn hòa giải quy định tại khoản 2 Điều này mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc trường hợp hòa giải không thành theo quy định tại khoản 4 Điều này thì các bên tranh chấp có quyền lựa chọn một trong các phương thức sau để giải quyết tranh chấp:

a) Yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật này;

b) Yêu cầu Tòa án giải quyết."

Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.

Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.

Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.

Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

"Điều 190. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

2. Thời hiệu yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

3. Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

4. Trường hợp người yêu cầu chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do khác theo quy định của pháp luật mà không thể yêu cầu đúng thời hạn quy định tại Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do đó không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân."

>> Xem thêm:  Nghỉ việc trong thời gian thử việc có cần báo trước không ?

3. Đòi quyền lợi của người lao động đối với thời gian thử việc ?

Chào luật sư công ty luật Minh Khuê. Em có một vấn đề liên quan đến hợp đồng lao động mong được luật sư tư vấn. Tháng 12/2015 em có xin vào làm trong công ty với vị trí nhân viên hành chính nhân sự, khi vào nhân viêc công ty có gửi cho em 1 thư mời nhân việc với vị trí nhân viên nhân sự mức lương thử việc là 4.000.000 đồng thử việc trong vòng 2 tháng.
Sau khi thử việc sẽ điều chỉnh lương theo năng lực, đến khoảng đầu tháng 3/2016 em do không thấy tăng lương nên em có làm báo cáo thử việc gửi lên phòng Nhân sự nhưng P.NS đánh giá em không đạt yêu cầu và tiếp tục chuyển em qua bộ phận C&B (thử việc ở vị trí nhân viên tuyển dụng), làm ở vị trí C&B công ty vẫn không tăng lương cho em đến tháng 7/2016 do không thấy tăng lương nên em được hướng dẫn làm thêm 1 báo cáo thử việc để được tăng lương, nhưng P.NS đánh giá em không đạt yêu cầu nên chấm dứt công việc của em, và đồng ý bồi thường cho em 1 tháng tiền lương nhưng em không đồng ý vì thế nên công ty vẫn chấm dứt công việc với em và báo trước cho em 30 ngày. Đúng thời hạn 30 ngày sau em chính thức thôi việc. Nhưng tháng lương cuối cùng trước khi nghỉ việc em không được lãnh, em có đến công ty hỏi thì có thông báo là do đợt tính lương tháng 8(thanh toán vào ngày 15 tây tháng 9/2016, em chính thức thôi việc từ ngày 01/08/2016,công ty bắt đầu tính lương từ ngày 1 tây đến ngày 15 tây trong khi đó hết ngày 1 em đã kết thúc công việc) có sai xót nên sẽ lấy tiền lương của em bù cho những sai xót trong việc tính lương tháng 8. Vì lý do đó nên công ty đã không thanh toán tiền lương tháng nghỉ việc cho em. Luật sư tư vấn giúp em công ty làm như vậy là đúng hay sai ?
Em phải làm gì để đòi lại quyền lợi của mình ( thử việc quá thời gian quy định, lương thử việc thấp hơn lương chính thức..) em phải làm sao để lấy lại tiền lương của mình Mong nhận được phản hồi từ phái luật sự. Em chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

- Hợp đồng thử việc và thời gian thử việc.

Tại điều 24 Bộ luật lao động 2019 có quy định:

"Điều 24. Thử việc

1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hp đng thử việc.

2. Nội dung chủ yếu của hợp đồng thử việc gồm thời gian thử việc và nội dung quy định tại các điểm a, b, c, đ, g và h khoản 1 Điều 21 của Bộ luật này.

3. Không áp dụng thử việc đối với người lao động giao kết hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng."

Như vậy theo quy định trên trước khi bạn trở thành nhân viên hành chính nhân sự chính thức của công ty bạn phải trải qua gian đoạn thử việc và việc thử việc phải được ghi nhận bằng hợp đồng thử việc để đảm bảo tính pháp lí, nhất là khi phát sinh tranh chấp giữa hai bên.

- Đối với thời gian thử việc.

Tại điều 25 Bộ luật lao động năm 2019 , thời gian thử việc sẽ căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;

2. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đng trở lên;

3. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;

4. Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác.

Với trường hợp của bạn, bạn vào làm việc tại công ty với vị trí nhân viên hành chính nhân sự thì đây là công việc có chức danh ngành nghề chuyên môn kĩ thuật từ cao đẳng trở lên do vậy công ty đề nghị bạn thử việc với thời gian 2 tháng. Bạn đã thử việc bắt đầu từ tháng 12/2015, trong câu hỏi bạn không nêu rõ ngày cụ thể thử việc tại công ty, nhưng nếu bạn thử việc vào cuối tháng 12 /2015 đến đầu tháng 3/2016 thì thời gian thử việc sẽ là 2 tháng và hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2 điều 25 Bộ luật lao động năm 2019.

Tuy nhiên, tại khoản 1 điều 7 Nghị định 05/2015/ NĐ-CP của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động quy định:

Điều 7. Thông báo kết quả về việc làm thử

1. Trong thời hạn 03 ngày trước khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động.

Theo quy định trên, trước khi thời gian thử việc kết thúc công ty phải thông báo cho bạn biết kết quả thử việc nhưng công ty không thông báo mà vẫn để cho bạn tiếp tục làm việc cho đến khi bạn làm báo cáo thử việc lên phòng nhân sự. Việc không thông baó cho người lao động biết về kết qủa thử việc trước khi thời gian thử việc kết thúc là trái với quy định của pháp luật.

- Lương thử việc.

"Điều 26. Tiền lương thử việc

Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó."

Trường hợp của bạn, công ty thoả thuận trả cho ban mức lương là 4.000.000 đồng trong thời gian thử việc, thông thường lương thử việc sẽ thấp hơn lương chính thức nhưng ít nhất phải bằng 85% lương chính thức của công việc bạn đang làm.

Trong câu hỏi bạn có nhắc đến tới tháng lương cuối cùng bạn không được công ty thanh toán khi bạn chấm dứt làm việc tại công ty. Theo quy định của pháp luật thì tiền lương của người lao động phải được thanh toán đầy đủ và đúng hạn. Như thông tin bạn cung cấp thì Bạn vẫn tiếp tục làm việc trong thời gian báo trước là 30 ngày tại công ty thì bạn vẫn được thanh toán tiền lương trong khoảng thời gian đó.

>> Xem thêm:  Sử dụng người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có phải đóng bảo hiểm xã hội không, thử việc có cần giấy phép lao động?

4. Tư vấn việc đòi quyền lợi của người lao động thử việc ?

Chào các luật sư của công ty luật Minh Khuê. Xin luật sư cho tôi hỏi. Tôi là điều dưỡng cao đẳng được nhận vào làm việc tại công ty tư nhân với mức lương 3tr500ngàn và thỏa thuận là thử việc 2tháng thì ký hợp đồng lao động và thời gian làm việc giờ hành chánh.
Đến ngày 20/04 cơ quan phân công tôi đi ca thì tôi chấp hành theo (làm ca 24h nghỉ 24h). Đến ngày 24/04 tôi có hỏi giám đốc là tôi đã chấp hành theo sự phân công nhưng từ thỏa thuận ban đầu là tôi làm hành chánh trong thời gian thử việc tôi đi theo ca thì lương tôi sẽ thế nào? Giám đốc nói là không có thay đổi gì và tôi làm thì làm không làm thì nghỉ. Vì tuổi trẻ nông nổi nên tôi đã nghỉ việc. Tới ngày 4/05 tôi lên lãnh lương thì giám đốc bảo tôi suy nghĩ kỹ và có thể đi làm lại. Thì ngày 6/05 tôi bắt đầu làm việc trở lại và lúc này không có thêm thỏa thuận nào.
Từ đó tới nay tôi luôn chấp hành tốt nội quy của công ty. Tới ngày 30/07 sau khi lãnh lương tôi lên hỏi giám đốc là tôi đã ký hợp đồng chưa? ( vì đã quá 2tháng thử việc) thì được giám đốc trả lời là vì tôi nhỏ nên theo đặc thù công việc tôi không thể trực đêm 1mình được nên việc ký hợp đồng là hơi khó. Nếu ký hợp đồng mà tôi đi hành chánh và mức lương tôi bằng mấy cô trực 24h nghỉ 24h sẽ phân bì. Giám đốc bảo tôi tạm thời nghỉ 1tháng không lương chờ tháng 9 sẽ triển khai chương Methadon thì tôi vào làm. Nhưng thử hỏi trong tháng nghỉ chờ việc như thế tôi sẽ ăn gì? Tiền nhà ở thế nào? Và còn khoản khác nữa.
Xin luật sư cho tôi hỏi :

1. Tôi đã được xem là đã ký hợp đồng lao động chưa?

2. Tôi nghỉ như vậy có được hưởng lương không?

3. Nếu tôi không chấp nhận nghỉ không lương mà tôi nghỉ để tìm việc mới thì tôi có được quyền lợi gì không?

4. Tôi muốn đòi hỏi quyền lợi mà người lao động như tôi thì tôi phải làm thế nào?

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Đối với vấn đề bạn thắc mắc chúng tôi xin được trả lời như sau:

Theo Điều 27 Bộ luật Lao động 2019 quy định về việc kết thúc thời gian thử việc như sau:

'' Điều 27. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động.

Trường hợp thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết đối với trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động hoặc phải giao kết hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc.

Trường hợp thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường."

Nghị định số 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều luật của Bộ luật Lao động hướng dẫn về thông báo kết quả thử việc như sau:

"1. Trong thời hạn 03 ngày trước khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động.

2. Khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động".

Theo quy định sau khi hết 60 ngày thử việc công ty có nghĩa vụ phải ký hợp đồng lao động với bạn. theo quy định về chế độ thử việc, khi hết thời gian thử việc mà Công ty không ký kết hợp đồng lao động cho người lao động, người lao động không được thông báo kết quả thử việc mà vẫn tiếp tục làm việc thì người đó đương nhiên được làm việc chính thức.

Tuy nhiên pháp luật không có quy định cụ thể trường hợp đương nhiên được làm việc chính thức sẽ tương ứng với loại hợp đồng lao động có xác định thời hạn bao lâu, do đó cần thiết phải căn cứ vào thỏa thuận tại hợp đồng thử việc để biết trường hợp sau khi thử việc đạt yêu cầu thì hai bên sẽ ký hợp đồng lao động loại gì, dùng làm cơ sở xác định trách nhiệm thực hiện hợp đồng lao động đã được xác lập đương nhiên sau thời gian thử việc.

Với trường hợp này, khi kết thúc thời gian thử việc Công ty không ký kết hợp đồng lao động cho người lao động, nhưng người lao động vẫn tiếp tục làm việc cho Công ty thì hợp đồng lao động đương nhiên được xác lập.

Về việc tạm nghỉ việc theo quy định tại Điều 99 Bộ luật Lao động 2019, trong trường hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau:

'' Trường hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau:

1. Nếu do lỗi của người sử dụng lao động thì người lao động được trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động;

2. Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc thì được trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu;

3. Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy him, địch họa, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế thì hai bên thỏa thuận về tiền lương ngừng việc như sau:

a) Trường hợp ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở xuống thì tiền lương ngừng việc được thỏa thuận không thấp hơn mức lương tối thiểu;

b) Trường hợp phải ngừng việc trên 14 ngày làm việc thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu.''

Bên cạnh đó tại Điều 35 của Bộ luật Lao động 2019 cũng quy định về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:

'' Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.''

Như vậy theo các quy định nêu trên thì bạn có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng vì không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Trước khi chấm dứt hợp đồng bạn phải báo trước cho người sử dụng lao động 3 ngày làm việc.

>> Xem thêm:  Hỏi về hoàn thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với hợp đồng thử việc ?

5. Yêu cầu thanh toán lương thử việc thực hiện như thế nào ?

Thưa luật sư, Em là sinh viên mới ra trường, thấy thông tin tuyển dụng của công ty TNHH MTV Kỹ thuật thương mại và dịch vụ A, em đến phỏng vấn và đã được công ty tuyển dụng.
Trong thời gian thử việc là 2 tháng, em cảm thấy công việc không phù hợp nên đã nộp đơn xin thôi việc và được chị quản lý trực tiếp của em - là vợ của giám đốc đồng ý cho nghỉ ngay ngày hôm đó và bảo đến ngày 15 thì e tới công ty nhận lương. Nhưng đến tối về, anh giám đốc có gọi điện cho em, lấy lý do là em nghỉ đột xuất, không báo trước cho công ty trước 1 tháng theo quy định của công ty (trong khi em mới làm được có hơn 1 tháng) nên công ty sẽ không trả lương. E đã tham khảo Điều 32 của Bộ Luật Lao động :
"Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận làm thử mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận."
Vậy em muốn hỏi là trong trường hợp này em có quyền đòi lương không? Mà công ty lại không hề cho nhân viên ký hợp đồng thử việc?

Luật sư tư vấn:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến của Công ty Luật Minh Khuê . Với thắc mắc của bạn, Công ty Luật Minh Khuê xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Đối với việc bạn đưa ra quy định tại Điều 32 Bộ Luật Lao động: “Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận làm thử mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.". Điều này được quy định trong Bộ luật Lao động 1994. Nay Bộ luật Lao động 1994 đã hết hiệu lực. Bạn có thể tham khảo quy điịnh về thử việc tại Điều 24 Booh luật lao động 2019:

"Điều 24. Thử việc

1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hp đng thử việc.

2. Nội dung chủ yếu của hợp đồng thử việc gồm thời gian thử việc và nội dung quy định tại các điểm a, b, c, đ, g và h khoản 1 Điều 21 của Bộ luật này.

3. Không áp dụng thử việc đối với người lao động giao kết hợp đồng lao động có thời hạn dưới 01 tháng."

Như vậy, ở đây điều luật quy định các bên “có thể” giao kết hợp đồng nếu có thỏa thuận về việc làm thử. Có thể thấy việc công ty có kí hợp đồng thử việc với bạn hay không không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bạn.

Về vấn đề kết thúc thời gian thử việc thì tại khoản 2 Điều 27 Bộ Luật Lao động có quy định như sau: “Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.”

Theo quy định trên thì bạn hoàn toàn có thể hủy bỏ thỏa thuận thử việc mà không cần báo trước như theo lý do của công ty đưa ra là cần phải báo trước 1 tháng theo quy định của công ty. Bạn hoàn toàn có thể yêu cầu công ty trả tiền lương thử việc đối với thời gian thử việc mà bạn đã thực hiện. Tiền lương thử việc của bạn ở đây có thể theo thỏa thuận giữa bạn và công ty, tuy nhiên phải đáp ứng được mức lương thử việc được quy định tại Điều 26 Bộ Luật Lao động 2019 như sau: “Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.”

Khi công ty cố tình không trả tiền lương cho bạn, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bạn có thể gửi đơn đến Phòng Lao động – Thương binh và xã hội nơi công ty có trụ sở yêu cầu cử Hòa giải viên lao động, Thanh tra lao động can thiệp thanh toán tiền lương cho bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thử việc bao lâu thì phải ký hợp đồng lao động ? Các chế độ được hưởng khi thử việc