1. Nghĩa vụ quốc gia

Điều 4 đề cập nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc hiện thực hóa các quyền của người khuyết tật. Nhìn chung, nghĩa vụ quốc gia theo công ước này cũng bao gồm cả ba loại: nghĩa vụ tôn trọng, nghĩa vụ bảo vệ và nghĩa vụ hỗ trợ. Tuy nhiên, ngoài những nghĩa vụ thông thường được nêu trong các công ước quốc tế khác về quyền con người như sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật cho hài hòa với nội dung của Công ước; xóa bỏ những quy định pháp luật, tập quán và thông lệ có tính chất phân biệt đối xử; xây dựng các chính sách và chương trình nhằm thúc đẩy quyền... Công ước còn đề cập đến một số nghĩa vụ đặc thù bao gồm: (a) Tiến hành hoặc khuyến khích nghiên cứu, phát triển, phổ biến, sử dụng các loại hàng hóa, dịch vụ, trang bị và tiện ích được thiết kế phổ dụng để đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật; (b) Tiến hành hoặc khuyến khích nghiên cứu, phát triển, phổ biến và sử dụng các loại công nghệ mới, bao gồm công nghệ thông tin liên lạc, phương tiện và thiết bị hỗ trợ di chuyển và các công nghệ trợ giúp khác phù hợp với người khuyết tật; (c) Giúp người khuyết tật tiếp cận với thông tin về những phương tiện, thiết bị, công nghệ và mọi hình thức dịch vụ hoặc cơ sở vật chất trợ giúp cho họ; (d) Đào tạo đội ngũ cán bộ, nhân viên chuyên môn làm việc trong lĩnh vực người khuyết tật; (e) Tham khảo ý kiến và cho phép người khuyết tật, kể cả trẻ em khuyết tật, tham gia vào quá trình xây dựng và thi hành pháp luật và chính sách có liên quan đến họ. Bên cạnh những nghĩa vụ kể trên, Điều 8 Công ước đề cập một nghĩa vụ quan trọng khác và yêu cầu các quốc gia thành viên phải thực thi ngay những biện pháp hiệu quả để nâng cao nhận thức của xã hội về các quyền, năng lực, sự đóng góp cho xã hội và gia đình của người khuyết tật và để đấu tranh xóa bỏ những định kiến và tập tục có hại với người khuyết tật.

2. Các trách nhiệm chung

Các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết đảm bảo và thúc đẩy việc thực hiện đầy đủ các quyền con người và quyền tự do cơ bản của người khuyết tật mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vì lý do khuyết tật. Để đạt được điều này, các Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết: (a) Thực hiện tất cả các biện pháp hành chính, lập pháp và các biện pháp khác để thực hiện các quyền được công nhận trong Công ước này; (b) Sử dụng các biện pháp phù hợp kể cả lập pháp để sửa đổi hoặc hủy bỏ các đạo luật, quy định, phong tục tập quán và thông lệ chứa đựng các nội dung mang tính phân biệt đối xử đối với người khuyết tật; (c) Đưa việc bảo hộ và nâng cao quyền của người khuyết tật vào tất cả các chính sách và chương trình; (d) Không thực hiện hay áp dụng những hành động hay biện pháp không phù hợp với Công ước này và đảm bảo các thể chế hay tổ chức quyền lực công hành động theo Công ước này; (e) Áp dụng tất cả các biện pháp phù hợp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử của các cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp đối với người khuyết tật; (f) Thực hiện hay thúc đẩy việc nghiên cứu và phát triển các phương tiện, dịch vụ, hàng hoá, trang thiết bị được thiết kế phổ cập theo quy định tại Điều 2 của Công ước này yêu cầu các phương án nâng cấp hay sửa chữa tối thiểu có thể với chi phí ít tốn kém nhất để đáp ứng những nhu cầu cụ thể của người khuyết tật, thúc đẩy sự sẵn có và tính năng sử dụng của các phương tiện, dịch vụ, hàng hoá, trang thiết bị này, và thúc đẩy thiết kế phổ cập trong việc xây dựng các hướng dẫn hay tiêu chuẩn tiếp cận; (g) Thực hiện hay thúc đẩy việc nghiên cứu và phát triển của công nghệ mới, bao gồm công nghệ thông tin và truyền thông, các thiết bị trợ giúp vận động, các thiết bị và công nghệ trợ giúp phù hợp với người khuyết tật, thúc đẩy sự sẵn có và tính năng sử dụng của các phương tiện này, và đưa ra những ưu tiên cho công nghệ ở mức chi phí hợp lý; (h) Cung cấp các thông tin có thể tiếp cận được cho người khuyết tật về các thiết bị hỗ trợ vận động, và công nghệ và thiết bị trợ giúp bao gồm cả công nghệ mới, cũng như các dạng hỗ trợ, các dịch vụ và trang thiết bị hỗ trợ khác; (i) Thúc đẩy tập huấn cho các cán bộ và nhân việc làm việc với người khuyết tật về các quyền được thừa nhận trong Công ước này nhằm cung cấp tốt hơn sự hỗ trợ và các dịch vụ được đảm bảo bởi các quyền đã nêu trong Công ước. Đối với các quyền về văn hoá, xã hội, kinh tế, mỗi Quốc gia thành viên của Công ước này cam kết thực hiện các biện để tận dụng các nguồn lực sẵn có khi cần thiết và để đạt được việc thực hiện các quyền được công nhận trong Công ước một cách có hiệu quả trong khuôn khổ hợp tác quốc tế và không có định kiến với những nguyên tắc được đề cập trong Công ước này mà được áp dụng ngay lập tức theo luật pháp quốc tế. Khi xây dựng và thực thi luật pháp và chính sách để thực hiện các điều khoản của Công ước này và trong các quá trình đưa ra quyết định khác có liên quan đến các vấn đề về người khuyết tật, các Quốc gia thành viên của Công ước cần phải tham vấn một cách sát sao và chủ động làm việc với người khuyết tật, kể cả trẻ em khuyết tật và các tổ chức đại diện của người khuyết tật. Không có nội dung nào trong Công ước này có ảnh hưởng đến các điều khoản công nhận quyền của người khuyết tật và các điều khoản được quy định trong pháp luật của một Quốc gia thành viên của Công ước này hoặc luật pháp quốc tế mà Quốc gia đó gia nhập. Không có sự giới hạn hay vi phạm nào đối với các quyền con người và các quyền tự do cơ bản đã được công nhận hoặc hiện có ở một Quốc gia thành viên tham gia Công ước này căn cứ trên cơ sở luật pháp, các công ước, các quy định hoặc phong tục tập quán với lý do Công ước này không công nhận các quyền con người và các quyền tự do cơ bản hoặc công nhận chúng trong phạm vi hẹp hơn. Các điều khoản của Công ước này sẽ mở rộng ra khắp cả các nước mà không có bất kỳ sự hạn chế hay ngoại trừ nào.

3. Bảo vệ các nhóm khuyết tật thiệt thòi nhất

Phụ nữ, trẻ em, đặc biệt là các bé gái khuyết tật dễ bị phân biệt đối xử hơn so với những người khuyết tật khác. Xuất phát từ thực tế này, Công ước dành hai điều quy định về việc bảo vệ các quyền của phụ nữ và trẻ em khuyết tật ( Điều 6 và 7). Cả hai điều này đều yêu cầu các quốc gia thành viên quan tâm đến tính chất tổn thương kép của phụ nữ và trẻ em khuyết tật, và phải tiến hành những biện pháp thích hợp để bảo đảm cho họ được hưởng trọn vẹn và bình đẳng các quyền và tự do cơ bản của con người.

4. Quyền tham gia đời sống chính trị, công cộng

Quyền tham gia đời sống chính trị, công cộng (Điều 29): Như mọi người bình thường, người khuyết tật có quyền tham gia bình đẳng vào đời sống chính trị, công cộng, bao gồm các quyền được bầu cử, ứng cử, quyền được giữ các chức vụ trong các cơ quan nhà nước, cũng như quyền được tham gia và thành lập các tổ chức xã hội của người khuyết tật. Xét đến đặc thù của nhóm này, Điều 29 yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho người khuyết tật được thực hiện một cách đầy đủ và hiệu quả những quyền này thông qua các biện pháp như: bảo đảm các thủ tục, trang thiết bị và tài liệu bầu cử phù hợp, dễ tiếp cận, dễ hiểu, dễ sử dụng với người khuyết tật; bảo vệ quyền được bỏ phiếu kín của người khuyết tật; hỗ trợ người khuyết tật tham gia các hoạt động chính trị, xã hội ở mọi cấp độ, bao gồm việc tham gia các đảng phái chính trị. - Quyền tham gia hoạt động văn hoá, vui chơi, giải trí, thể thao (Điều 30): Theo Điều này, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ thúc đẩy quyền của người khuyết tật được tham gia một cách bình đẳng vào đời sống văn hoá, các hoạt động vui chơi, giải trí và thể thao bằng cách xây dựng hoặc khuyến khích xây dựng những chương trình truyền hình, điện ảnh, sân khấu và các sản phẩm văn hoá khác dưới những dạng thức mà người khuyết tật có thể tiếp cận được, cũng như sửa chữa các rạp hát, rạp chiếu phim, bảo tàng, thư viện cho phù hợp với người khuyết tật và bảo đảm các cơ hội cho người khuyết tật được vận dụng và phát triển năng lực sáng tạo nghệ thuật của họ. - Quyền được hỗ trợ để sống độc lập và hoà nhập vào cộng đồng (các Điều 9, 19 và 20): Đây cũng có thể coi là một quyền đặc thù của người khuyết tật. Theo Điều 19, người khuyết tật không bị bắt buộc phải sống ở một nơi nuôi dưỡng cụ thể mà có quyền sống trong cộng đồng, quyền chọn nơi sinh sống, quyền chọn người sống cùng, quyền được tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ tại nhà, tại khu vực cư trú hoặc các dịch vụ hỗ trợ cộng đồng khác. Các quốc gia phải tiến hành những biện pháp thích hợp để bảo đảm cho người khuyết tật có thể tiếp cận một cách bình đẳng với những cơ sở vật chất, giao thông, thông tin liên lạc, công nghệ và các vật dụng, dịch vụ công cộng khác ở cả thành thị và nông thôn.

5. Xóa bỏ những trở ngại và rào cản với người khuyết tật

Theo Điều 9, môi trường vật chất, hệ thống giao thông, thông tin, truyền thông trước hết bao gồm: Các tòa nhà, đường sá, giao thông, các trang thiết bị trong nhà và ngoài trời, bao gồm trường học, nhà ở, cơ sở y tế và nơi làm việc; Các dịch vụ thông tin, liên lạc và dịch vụ khác, trong đó có dịch vụ điện tử và dịch vụ cấp cứu. Điều này cũng nêu ra những biện pháp cụ thể mà các quốc gia thành viên phải thực hiện để xóa bỏ những trở ngại và rào cản với người khuyết tật trong việc tiếp cận với môi trường vật chất, hệ thống giao thông, thông tin, truyền thông, trong đó bao gồm việc: (i) Xây dựng, ban hành và giám sát việc thực hiện những tiêu chuẩn và hướng dẫn tối thiểu cho việc tiếp cận các cơ sở hạ tầng và dịch vụ dành cho công chúng; (ii) Bảo đảm rằng các cơ sở tư nhân cung cấp những dịch vụ cho công chúng phải cân nhắc đến khả năng tiếp cận của người khuyết tật; (iii) Tập huấn cho những chủ thể có liên quan về những vấn đề mà người khuyết tật phải đối mặt trong việc tiếp cận các cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng; (iv) Có dấu hiệu bằng chữ nổi Braille và bằng những hình thức khác dễ đọc, dễ hiểu trong các tòa nhà và cơ sở hạ tầng công cộng; (iv) Cung cấp những hình thức trợ giúp trực tiếp và trung gian, bao gồm những hướng dẫn, người đọc và người phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu chuyên nghiệp để tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp cận với các tòa nhà và cơ sở hạ tầng công cộng; (v) Tăng cường các hình thức trợ giúp thích hợp khác cho người khuyết tật để bảo đảm cho họ tiếp cận với các nguồn thông tin, bao gồm Internet; (vi) Khuyến khích thiết kế, phát triển, sản xuất và phân phối những công nghệ và hệ thống thông tin, truyền thông dễ tiếp cận với chi phí tối thiểu cho người khuyết tật. Quyền được hỗ trợ trong việc di chuyển (Điều 20): Liên quan đến quy định trong Điều 19, Điều 20 yêu cầu các quốc gia thành viên thực hiện những biện pháp thích hợp để bảo đảm cho người khuyết tật có thể độc lập di chuyển ở mức độ tối đa có thể được, cụ thể như: tạo điều kiện cho họ di chuyển theo cách thức và vào thời gian họ chọn lựa, cũng như được tiếp cận với những phương tiện, thiết bị và công nghệ hỗ trợ di chuyển với giá thành vừa phải; cung cấp dịch vụ đào tạo thích hợp về kỹ năng di chuyển cá nhân cho người khuyết tật và đội ngũ nhân viên chuyên môn làm việc với người khuyết tật; khuyến khích các cơ sở sản xuất phương tiện, thiết bị và công nghệ hỗ trợ cho người khuyết tật...