Trong hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam, khái niệm "người bị buộc tội" là một trong những thuật ngữ pháp lý trung tâm, đóng vai trò nền tảng trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của cá nhân khi đối diện với sự truy cứu trách nhiệm hình sự của Nhà nước. Tuy nhiên, đây không phải là một địa vị pháp lý đơn lẻ, bất biến. Thay vào đó, nó là một quá trình tố tụng liên tục, trong đó tư cách, quyền và nghĩa vụ của một cá nhân thay đổi và phát triển qua từng giai đoạn của vụ án. Việc hiểu rõ bản chất và các quy định liên quan đến người bị buộc tội theo Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (BLTTHS 2015) là yêu cầu thiết yếu đối với sinh viên luật, nhà nghiên cứu và đặc biệt là những người đang hoặc có thể tham gia vào một vụ án hình sự. Hệ thống về các quy định pháp luật hiện hành, làm sáng tỏ khái niệm, nguyên tắc cốt lõi và các quyền lợi pháp lý quan trọng của người bị buộc tội.
1. Người bị buộc tội là gì?
Thuật ngữ “người bị buộc tội” lần đầu tiên xuất hiện trong Hiến pháp năm 2013 thông qua quy định tại Điều 31. Để cụ thể hóa quy định về người bị buộc tội trong Hiến pháp năm 2013, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã có nhiều quy định cụ thể liên quan trực tiếp đến người bị buộc tội, trong đó có việc giải thích thuật ngữ “người bị buộc tội” và xác định các quyền, nghĩa vụ của người bị buộc tội.
Điểm đ khoản 1 Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã đưa ra giải thích (khái niệm) về người bị buộc tội như sau: “Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”. Có thể thấy, nội hàm của khái niệm người bị buộc tội mới chỉ dừng lại ở hình thức liệt kê với tư cách là các chủ thể tham gia tố tụng hình sự mà chưa làm rõ được một cách khái quát nội dung về các thành tố tạo nên chủ thể đó. Do đó, cần thiết phải nghiên cứu và tìm ra một khái niệm thống nhất về người bị buộc tội để có cơ sở xác định chính xác địa vị pháp lý của họ.
Trước hết, phải khẳng định người bị buộc tội là người hoặc pháp nhân thương mại bị tình nghi thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, họ không phải bị tình nghi thực hiện tội phạm một cách thiếu căn cứ, mà sự tình nghi này phải được đặt trong một tiến trình tố tụng hình sự theo luật định. Việc tình nghi trong tố tụng hình sự khác hẳn với sự ngờ vực hay suy đoán mang tính chủ quan, cảm tính của cá nhân con người với con người trong đời sống xã hội. Trong trường hợp này, người hoặc pháp nhân thương mại bị tình nghi thực hiện tội phạm được đặt trong hoàn cảnh họ bị cơ quan, người có thẩm quyền dựa vào các căn cứ trên thực tế để xác định rằng họ là chủ thể đã thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội được Bộ luật hình sự quy định. Không chỉ dừng lại ở đó, người bị buộc tội phải là người hoặc pháp nhân thương mại đã bị cơ quan, người có thẩm quyền đưa ra một quyết định tố tụng cụ thể như: Lệnh bắt; quyết định tạm giữ; quyết định khởi tố bị can; quyết định truy tố; quyết định đưa vụ án ra xét xử… Các quyết định này dù là để thể hiện việc áp dụng một biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế hay là một quyết định tố tụng được luật định theo các giai đoạn tố tụng khác nhau thì đều gắn với chủ thể bị buộc tội và họ có các quyền, nghĩa vụ, họ trở thành người tham gia tố tụng.
Trở lại cách giải thích thuật ngữ “người bị buộc tội” tại điểm đ khoản 1 Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, có thể thấy người bị buộc tội chỉ bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Tác giả cho rằng, phạm vi những người được xác định là người bị buộc tội như vậy là chưa đầy đủ; theo đó, cần bổ sung thêm cả người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp cũng là người bị buộc tội. Bởi lẽ:
Thứ nhất, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, dù với tối đa là 12 giờ, nhưng theo các trường hợp giữ người trong trường hợp khẩn cấp được quy định tại khoản 1 Điều 110 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, thì người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là người đã thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội được Bộ luật hình sự quy định.
Thứ hai, Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và người bị bắt là như nhau. Trong đó, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp có quyền “Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”; quyền “Tự bào chữa, nhờ người bào chữa”. Qua nghiên cứu cho thấy, đây đều là những quyền rất cơ bản của người bị buộc tội. Hơn nữa, theo khoản 1 Điều 72 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: “Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa”. Rõ ràng, nếu người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không phải là người bị buộc tội thì quy định về quyền “Tự bào chữa, nhờ người bào chữa” mâu thuẫn với quy định về người bào chữa nêu trên.
Do đó, tác giả cho rằng, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp cũng là người bị buộc tội. Tóm lại với sự phân tích nêu trên, có thể hiểu khái niệm người bị buộc tội như sau: Người bị buộc tội là người hoặc pháp nhân thương mại mà cơ quan, người có thẩm quyền, bằng quyết định tố tụng, xác lập tư cách của họ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự khi có căn cứ cho rằng họ đã thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội
2. Quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội
Với cách tiếp cận và quan niệm về người bị buộc tội nêu trên thì quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội được thể hiện thông qua quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Qua nghiên cứu các quyền và nghĩa vụ này cho thấy một số hạn chế, bất cập như sau:
Thứ nhất, về quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ.
Đây là quyền được quy định chung đối với tất cả người bị buộc tội bao gồm quyền của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Về thời điểm thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ đối với từng loại người bị buộc tội được quy định như sau:
- Đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, khoản 3 Điều 110 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Việc thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 113 của Bộ luật này” và theo khoản 2, Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì: “Người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định; giải thích lệnh, quyết định, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt; giao lệnh, quyết định cho người bị bắt”. Từ các quy định trên có thể thấy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 mới chỉ quy định về việc giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mà không quy định việc thông báo quyền và nghĩa vụ của họ.
- Đối với người bị tạm giữ, họ được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ khi cơ quan, người có thẩm quyền thi hành quyết định tạm giữ.
- Đối với bị can, khoản 5, Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 chỉ quy định về thời điểm giải thích quyền và nghĩa vụ đối với họ là khi cơ quan, người có thẩm quyền giao cho họ quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can mà không quy định về việc thông báo quyền và nghĩa vụ cho bị can.
- Đối với người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt theo quyết định truy nã thì pháp luật tố tụng hình sự lại không quy định trực tiếp về thời điểm thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ của họ. Chẳng hạn, đối với người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, Khoản 1 Điều 114 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 chỉ quy định Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và sau đó phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt mà không đề cập đến việc thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị bắt. Tương tự đối với người bị bắt theo quyết định truy nã, khoản 2 Điều 114 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng chỉ quy định sau khi lấy lời khai người bị bắt, Cơ quan điều tra phải thông báo ngay cho Cơ quan đã ra quyết định truy nã đến nhận người bị bắt mà không đề cập đến việc thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị bắt.
- Đối với bị cáo, pháp luật tố tụng hình sự hiện hành không quy định bị cáo được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ của họ khi được giao quyết định đưa vụ án ra xét xử, mà họ chỉ được biết quyền này ở phần thủ tục khai mạc phiên tòa. Quy định này dẫn đến tình trạng bị cáo không hiểu rõ được quyền và nghĩa vụ của mình trước khi mở phiên tòa; đến khi khai mạc phiên tòa mới hiểu và đưa ra các yêu cầu thì nhiều trường hợp không được xem xét giải quyết.
Thứ hai, về quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tất cả người bị buộc tội đều có quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có quy định về việc chỉ định người bào chữa:
“Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ:
a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;
b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi”.
Với quy định này có thể thấy, ngoài quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa thì người bị buộc tội còn có quyền được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định người bào chữa cho họ trong những trường hợp luật định.
Thứ ba, về quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ.
Theo điểm h khoản 1 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt theo quyết định truy nã có quyền: “Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giữ người, bắt người”. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 110 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, ngoài những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng còn có cả người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay, bến cảng. Ngoài ra đối với việc bắt người phạm tội quả tang và bắt người đang bị truy nã, có rất nhiều chủ thể tham gia vào việc bắt người như: Người bắt giữ; cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Ủy ban nhân dân nơi gần nhất; Cơ quan điều tra nhận người bị bắt… Như vậy, nếu quy định người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt theo quyết định truy nã chỉ có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc bắt người là chưa đầy đủ.
Tương tự như vậy, việc quy định người bị tạm giữ có quyền “Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng về việc tạm giữ” là chưa đầy đủ bởi lẽ theo quy định tại khoản 2, Điều 117 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì những người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ, ngoài những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng còn có có cả người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay, bến cảng.
Thứ tư, về quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Theo các quy định về người bị buộc tội trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (từ Điều 58 đến Điều 61), bị can, bị cáo đều có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, còn người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt và người bị tạm giữ không có quyền này. Tuy nhiên, theo Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì người bị tạm giữ cũng có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Như vậy, có thể thấy sự thiếu thống nhất trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về vấn đề này.
3. Thời điểm xác định tư cách người bị buộc tội trong tố tụng hình sự
Việc xác định tư cách pháp lý của một cá nhân không phải là một sự kiện ngẫu nhiên mà được kích hoạt bởi các văn bản tố tụng cụ thể do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Sự rõ ràng về thời điểm này là yếu tố cốt lõi để đảm bảo quyền của họ được áp dụng đúng lúc và đầy đủ.
Một cá nhân chính thức trở thành bị can tại thời điểm cơ quan điều tra ra "quyết định khởi tố bị can" và quyết định này được Viện kiểm sát phê chuẩn (trong các trường hợp luật định). Văn bản này là căn cứ pháp lý xác lập mối quan hệ tố tụng giữa nhà nước và người bị buộc tội, đồng thời kích hoạt toàn bộ quyền và nghĩa vụ của bị can theo Điều 60 BLTTHS 2015.
Tư cách pháp lý chuyển từ bị can sang bị cáo khi Tòa án ban hành "quyết định đưa vụ án ra xét xử". Quyết định này không chỉ thay đổi tên gọi mà còn mở ra một giai đoạn tố tụng mới với những quyền năng mạnh mẽ hơn cho người bị buộc tội tại phiên tòa, chẳng hạn như quyền tranh luận trực tiếp.
Sự chuyển đổi tư cách này phản ánh một "bậc thang" pháp lý lũy tiến. Mỗi bước tiến trong quá trình tố tụng (từ điều tra sang truy tố, xét xử) đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng phải đáp ứng một gánh nặng chứng minh ngày càng cao hơn để biện minh cho việc tiếp tục vụ án. Song song với đó, pháp luật cũng trao cho người bị buộc tội những quyền năng tố tụng tương xứng và mạnh mẽ hơn để họ có thể tự bảo vệ mình một cách hiệu quả trước quyền lực của nhà nước.
Nguyên tắc suy đoán vô tội là trụ cột của tư pháp hình sự hiện đại và là tấm khiên bảo vệ quan trọng nhất cho người bị buộc tội. Nguyên tắc này được ghi nhận trang trọng tại Điều 13 BLTTHS 2015.
Nội dung cốt lõi của nguyên tắc này bao gồm hai phương diện không thể tách rời:
- Giả định vô tội cho đến khi có bản án kết tội có hiệu lực: Điều 13 quy định rõ: "Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Điều này có nghĩa là, trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng và xã hội phải đối xử với họ như một người vô tội. Chỉ duy nhất Tòa án, thông qua một bản án có hiệu lực, mới có quyền tuyên một người là có tội.
- Giải quyết mọi nghi ngờ theo hướng có lợi cho người bị buộc tội: Vế thứ hai của Điều 13 khẳng định: "Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội". Bất kỳ sự mập mờ, thiếu sót nào trong chứng cứ buộc tội mà không thể khắc phục đều phải được diễn giải theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo, dẫn đến kết luận họ vô tội.
Nguyên tắc suy đoán vô tội không phải là một tuyên ngôn triết học đơn thuần. Nó là nguyên nhân pháp lý trực tiếp, là nền tảng cho sự tồn tại của các quyền tố tụng cụ thể. Chính vì một người được coi là vô tội, nên họ có quyền im lặng, không bị ép buộc phải nhận tội hay cung cấp lời khai chống lại chính mình. Cũng vì lẽ đó, họ có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa để bảo vệ sự vô tội của mình trước sự buộc tội của cơ quan công tố. Các quyền này, được quy định tại Điều 60 và 61, chính là những công cụ pháp lý hữu hiệu để nguyên tắc suy đoán vô tội được hiện thực hóa trên thực tế.
4. Phân biệt người bị buộc tội và các chủ thể tố tụng liên quan
Trong thực tiễn, nhiều người thường nhầm lẫn giữa các khái niệm như người bị tố giác, người bị tạm giữ và bị can. Việc phân biệt rõ ràng các tư cách này là rất quan trọng vì mỗi tư cách gắn với một giai đoạn tố tụng và một hệ thống quyền, nghĩa vụ khác nhau.
| Tiêu chí | Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố | Người bị tạm giữ | Bị can |
| Giai đoạn tố tụng | Giai đoạn tiền khởi tố; xác minh tin báo, tố giác tội phạm. | Ngay sau khi bị bắt (quả tang, khẩn cấp, truy nã) và có quyết định tạm giữ. | Giai đoạn điều tra, sau khi có quyết định khởi tố bị can. |
| Cơ sở pháp lý | Luật Tố cáo, quy trình giải quyết tin báo tội phạm. | Điều 59 BLTTHS 2015 | Điều 60 BLTTHS 2015 |
| Bản chất pháp lý | Chưa phải là người bị buộc tội. Là đối tượng trong quá trình xác minh thông tin ban đầu. | Là người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn để xác minh, điều tra ban đầu. Chưa bị khởi tố hình sự. | Là người đã chính thức bị khởi tố về hình sự, là chủ thể chính của giai đoạn điều tra. |
| Quyền cơ bản nổi bật | Quyền được biết nội dung tố giác; quyền trình bày ý kiến, chứng cứ để minh oan. | Quyền được biết lý do tạm giữ; quyền tự bào chữa/nhờ người bào chữa; quyền không buộc phải nhận tội. | Toàn bộ quyền tại Điều 60, bao gồm quyền được biết lý do khởi tố, quyền có luật sư, quyền im lặng, quyền đọc hồ sơ sau điều tra. |
Sự phân biệt rạch ròi này không chỉ mang ý nghĩa học thuật mà còn là nền tảng của nguyên tắc pháp quyền trong tố tụng hình sự. Mỗi giai đoạn đều có những giới hạn nghiêm ngặt về thời gian và thủ tục mà các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ. Ví dụ, thời hạn tạm giữ người bị giới hạn trong một khoảng thời gian rất ngắn. Việc xác định sai tư cách của một người có thể dẫn đến vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, chẳng hạn như giam giữ người trái pháp luật hoặc tước đoạt quyền được tiếp cận người bào chữa của họ. Do đó, việc phân biệt chính xác các chủ thể này là một cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước và bảo vệ quyền tự do của công dân.
Kết luận
"Người bị buộc tội" là một khái niệm pháp lý đa diện, phản ánh một quá trình tố tụng hình sự vận động không ngừng. Tư cách của một cá nhân phát triển từ người bị tố giác, người bị tạm giữ, đến bị can, bị cáo và cuối cùng có thể là người bị kết án. Trọng tâm của toàn bộ quá trình này là nguyên tắc suy đoán vô tội, một nguyên tắc nền tảng đòi hỏi nhà nước phải chứng minh tội phạm và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân. Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã xây dựng một khung pháp lý tương đối toàn diện, quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội, các thủ tục tố tụng chặt chẽ và cơ chế khắc phục sai sót. Việc hiểu và áp dụng đúng các quy định này không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng mà còn là kiến thức cần thiết cho mọi công dân để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, qua đó thể hiện sâu sắc tính nhân văn và công bằng của pháp luật.
Mọi vướng mắc pháp lý vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162 để được đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của Công ty luật Minh Khuê tư vấn, giải đáp chi tiết.Chúng tôi rất hân hạnh khi nhận được sự hợp tác của quý khách hàng. Xin chân thành cảm ơn!