1. Mở đầu

Bảo đảm quyền con người, quyền công dân là tư tưởng lớn của Hiến pháp năm 2013 đòi hỏi phải được quán triệt và thể hiện đầy đủ trong các dự án luật, trong đó có Bộ luật tố tụng hình sự. Tố tụng hình sự là quá trình phát hiện và xử lý tội phạm, song không chấp nhận phát hiện tội phạm bằng mọi giá mà phải tôn trọng con người, bởi lẽ cho đến khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị buộc tội vẫn chưa bị coi là có tội, được Hiến pháp quy định quyền suy đoán vô tội, quyền được xét xử công bằng, quyền được bảo đảm quyền bào chữa... (Điều 31 Hiến pháp năm 2013). Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được ban hành đã cụ thể hóa sâu sắc các tư tưởng tiến bộ của Hiến pháp năm 2013, trong đó phải để cập những điều chỉnh liên quan đến trách nhiệm của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm yêu cầu quan trọng này.

2. Thế nào là quyền bào chữa của người bị buộc tội?

Điều 67 Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định quyền bào chữa: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa hoặc mượn luật sư”. Những bản Hiến pháp tiếp theo đều quy định quyền bào chữa của bị cáo. Kế thừa các bản Hiến pháp trước, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ hơn về quyền bào chữa của công dân. Tại khoản 4, Điều 31 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. Như vậy, Hiến pháp mới đã mở rộng phạm vi các đối tượng được đảm bảo quyền bào chữa, không chỉ bị cáo mới có quyền bào chữa như các bản Hiến pháp trước đây, mà ngay từ khi bị bắt, đã phát sinh quyền tự bào chữa, nhờ luật sư bào chữa hoặc người khác bào chữa đối với họ.

BLTTHS năm 2015 cũng đã sử dụng thuật ngữ pháp lý mới: “Người bị buộc tội”, thuật ngữ thường chỉ được sử dụng trong các văn bản nghiên cứu khoa học pháp lý trước đây, theo đó, “Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”.

Trên cơ sở cụ thể hóa nguyên tắc quy định tại Điều 31 Hiến pháp năm 2013, Điều 16 BLTTHS năm 2015 quy định về bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội như sau: “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này”.
Trong những trường hợp luật định, nếu người buộc tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì các cơ quan nói trên phải yêu cầu đoàn luật sư cử người bào chữa cho họ. Mặt khác, để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện và đầy đủ, không để lọt kẻ phạm tội, không làm oan người vô tội thì việc bào chữa là cần thiết, giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật khách quan của vụ án. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự không chỉ có buộc tội mà nó chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi tồn tại song song hai chức năng buộc tội và gỡ tội. Đó cũng là một trong những cơ sở giúp Toà án giải quyết vụ án được chính xác.

Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự có quyền bào vệ lợi ích hợp pháp của mình hoặc nhờ người khác bảo vệ lợi ích của mình nhưng xét về bản chất, đó không phải là việc bào chữa. BLTTHS năm 2015 cũng như các văn bản pháp lý liên quan chưa có khái niệm pháp lý chính thức về quyền bào chữa. Tuy nhiên, qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn, có thể khái quát khái niệm quyền bào chữa như sau:

Quyền bào chữa của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự là quyền của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự trong vụ án hình sự hoặc để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

3. Nội dung của quyền bào chữa

Bào chữa là tất cả các hoạt động của người bị buộc tội và người bào chữa từ khi bị buộc tội đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị. Thông qua hành vi cụ thể, họ sử dụng các quyền luật định để làm sáng tỏ những tình tiết chứng minh cho sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như những tình tiết khác có lợi cho người bị buộc tội. Đó có thể là hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng; hoặc nhằm đưa ra chứng cứ nhằm làm giảm nhẹ trách nhiệm của người bị buộc tội; hoặc các hành vi tố tụng nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ của người bị buộc tội kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan tới việc làm giảm trách nhiệm hình sự trong vụ án.

4. Quyền bào chữa có vai trò gì?

Quyền bào chữa là một quyền quan trọng của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự và được xem như là phương tiện pháp lý cần thiết để chủ thể nói trên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Càng mở rộng phạm vi quyền bào chữa bao nhiêu thì càng mở rộng tính tranh tụng bấy nhiêu và kết quả tương ứng là hạn chế khả năng làm oan sai người vô tội trong xét xử. Xu thế phát triển của tố tụng hình sự nước ta đã đi theo hướng đó. Từ chỗ người bào chữa chỉ có thể tham gia vào vụ án khi kết thúc điều tra, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988 thừa nhận sự tham gia của người bào chữa sớm hơn rất nhiều - từ khi có quyết định khởi tố bị can, BLTTHS năm 2003 quy định người bào chữa có quyền tham gia ngay từ khi có quyết định tạm giữ. Đến BLTTHS năm 2015 đã có thêm bước tiến nữa khi quy định người bào chữa được tham gia từ khi thân chủ bị bắt, đó là bước tiến quan trọng thể hiện sự tiến bộ của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội còn đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố và xét xử được diễn ra khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác, tránh để xảy ra tình trạng oan sai và bỏ lọt tội phạm.

Bào chữa là một trong những nội dung cơ bản của tố tụng hình sự, đối trọng với chức năng buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng. Chính sự đối trọng này đảm bảo cho hoạt động tố tụng hình sự được dân chủ, khách quan. Có quan điểm cho rằng “Có buộc tội mà không có bào chữa thì hoạt động tố tụng sẽ mang tính chất một chiều và kết buộc chứ không phải là tranh tụng. Tố tụng hình sự không thể được thừa nhận là dân chủ khi chức năng buộc tội không có đối trọng là chức năng bào chữa…”.

5. Thời điểm bắt đầu và kết thúc quyền bào chữa

Quyền bào chữa xuất hiện từ khi giữ người trong trườn hợp khẩn cấp, bắt người, có quyết định tạm giữ hoặc từ khi khởi tố bị can. Quyền bào chữa kết thúc khi vụ án được xét xử và bản án có hiệu lực pháp luật. Trong một số trường hợp đặc biệt, khi những căn cứ của việc buộc tội không còn, chủ thể có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ vụ án thì chức năng bào chữa sẽ kết thúc sớm hơn.

Thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng theo quy định của BLTTHS 2015 sớm hơn quy định của BLTTHS 2003, nếu như trước đây, nguời bào chữa được tham gia bảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội từ khi bị tam giữ thì theo BLTTHS mới, người bào chữa được tham gia tố tụng và bảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội ngay từ khi bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt. Quy định như vậy không chỉ nhằm thực hiện tốt hơn việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội mà còn là một trong những giải pháp để hạn chế oan, sai ngay từ đầu.

6. Chủ thể của quyền bào chữa

Quyền bào chữa không chỉ thuộc về bị can, bị cáo mà còn thuộc về người bị tình nghi phạm tội, tức là những người bị bắt, bị tạm giữ nhưng chưa bị khởi tố và người bào chữa, người đại diện hợp pháp của họ. Như vậy, chủ thể của quyền bào chữa là người bị buộc tội, bao gồm người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

So với BLTTHS 2003 thì BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt cũng có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình (điểm g khoản 1 Điều 58 BLTTHS).

7. Trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm quyền bao chữa của người bị buộc tội

Quyền bào chữa là quyền quan trọng nhất của người bị buộc tội, được Hội luật gia dân chủ quốc tế đánh giá “Quyền tự do bào chữa là thành trì cần thiết cho các quyền tự do khác”. Hiến pháp năm 2013 quy định: người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa (khoản 4 Điều 31).

Như vậy, để bào chữa cho mình, người bị buộc tội có quyền sử dụng 02 cơ chế: tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa. Tuy nhiên, tổng kết thực tiễn hơn 10 năm thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cho thấy, pháp luật mới chủ yếu quan tâm bảo đảm “quyền nhờ người khác bào chữa”, chưa dành nhiều sự quan tâm bảo đảm “quyền tự bào chữa” của người bị buộc tội. Quán triệt yêu cầu của Hiến pháp năm 2013, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung cho bị can quyền đọc, ghi chép các tài liệu trong hồ sơ vụ án, cụ thể là:

- Về thời điểm đọc: là sau khi kết thúc điều tra;

- Về phạm vi đọc: những tài liệu liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa;

- Về cách thức đọc: đọc trên bản sao hoặc tài liệu đã được số hóa.

- Về điều kiện đọc: khi bị can có người bào chữa hoặc không có người bào chữa đều có quyền yêu cầu đọc tài liệu.

Như vậy, với quy định thời điểm đọc tài liệu trong hồ sơ vụ án là “sau khi kết thúc điều tra”, việc bị can đọc tài liệu sẽ chủ yếu được thực hiện trong giai đoạn truy tố cho đến trước khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Điều này đặt trách nhiệm rất lớn đối với ngành Kiểm sát phải chủ động chuẩn bị các điều kiện bảo đảm, hướng dẫn Viện kiểm sát các cấp kịp thời sao lưu tài liệu để một mặt bảo đảm sự an toàn của hồ sơ vụ án, mặt khác, tạo thuận lợi cho bị can đọc tài liệu, bảo đảm cho bị can thực hiện tốt quyền tự bào chữa đã được Hiến định.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)