Tuổi, mức độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi.
Ðiều kiện sinh sống và giáo dục.Có hay không có người đủ 18 tuổi trở lên xúi giục.Nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội.
1. Những vấn đề cần xác định khi tiến hành tố tụng đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Nội dung của bộ luật đã được sửa đổi, bổ sung nhiều quy định thể hiện điểm tiến bộ hơn so với quy định tại Bộ luật tố tụng cũ . Một trong những quy định được bổ sung tại bộ luật này đó là đề ra thủ tục tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi.
Những vấn đề cần xác định khi tiến hành tố tụng đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi được quy định tại Điều 416 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018). Cụ thể bao gồm:
>> Xem thêm: Điều tra viên là gì ? Quy định về điều tra viên trong vụ án hình sự
1. Tuổi, mức độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi.
2. Ðiều kiện sinh sống và giáo dục.
3. Có hay không có người đủ 18 tuổi trở lên xúi giục.
4. Nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội.
Theo đó, khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, những người tiến hành tố tụng cần phải xác định rõ các vấn đề trên để đánh giá về trình độ, khả năng nhận thức hành vi, diễn biến tâm lý, sự tác động của các yếu tố khách quan đối với hành vi phạm tội nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; khắc phục những bất cập, hạn chế trong thực tiễn xử lý các vụ án có người dưới 18 tuổi tham gia tố tụng đồng thời bảo đảm sự tương thích với Công ước quốc tế về quyền trẻ em, đồng bộ với Luật Bảo vệ và chăm sóc, giáo dục trẻ em.
2. Khái niệm người bị buộc tội
Điểm đ khoản 1 Điều 4 Bộ luật TTHS năm 2015 đã đưa ra giải thích (khái niệm) về người bị buộc tội như sau: “Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”. Có thể thấy, nội hàm của khái niệm người bị buộc tội mới chỉ dừng lại ở hình thức liệt kê với tư cách là các chủ thể tham gia TTHS mà chưa làm rõ được một cách khái quát nội dung về các thành tố tạo nên chủ thể đó. Do đó, cần thiết phải nghiên cứu và tìm ra một khái niệm thống nhất về người bị buộc tội để có cơ sở xác định chính xác địa vị pháp lý của họ.
Trước hết, phải khẳng định người bị buộc tội là người hoặc pháp nhân thương mại bị tình nghi thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, họ không phải bị tình nghi thực hiện tội phạm một cách thiếu căn cứ, mà sự tình nghi này phải được đặt trong một tiến trình TTHS theo luật định. Việc tình nghi trong TTHS khác hẳn với sự ngờ vực hay suy đoán mang tính chủ quan, cảm tính của cá nhân con người với con người trong đời sống xã hội. Trong trường hợp này, người hoặc pháp nhân thương mại bị tình nghi thực hiện tội phạm được đặt trong hoàn cảnh họ bị cơ quan, người có thẩm quyền dựa vào các căn cứ trên thực tế để xác định rằng họ là chủ thể đã thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội được Bộ luật hình sự quy định. Không chỉ dừng lại ở đó, người bị buộc tội phải là người hoặc pháp nhân thương mại đã bị cơ quan, người có thẩm quyền đưa ra một quyết định tố tụng cụ thể như: Lệnh bắt; quyết định tạm giữ; quyết định khởi tố bị can; quyết định truy tố; quyết định đưa vụ án ra xét xử… Các quyết định này dù là để thể hiện việc áp dụng một biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế hay là một quyết định tố tụng được luật định theo các giai đoạn tố tụng khác nhau thì đều gắn với chủ thể bị buộc tội và họ có các quyền, nghĩa vụ, họ trở thành người tham gia tố tụng.
Trở lại cách giải thích thuật ngữ “người bị buộc tội” tại điểm đ khoản 1 Điều 4 Bộ luật TTHS năm 2015, có thể thấy người bị buộc tội chỉ bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Tác giả cho rằng, phạm vi những người được xác định là người bị buộc tội như vậy là chưa đầy đủ; theo đó, cần bổ sung thêm cả người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp cũng là người bị buộc tội. Bởi lẽ:
Thứ nhất, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, dù với tối đa là 12 giờ, nhưng theo các trường hợp giữ người trong trường hợp khẩn cấp được quy định tại khoản 1 Điều 110 Bộ luật TTHS năm 2015, thì người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là người đã thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội được Bộ luật hình sự quy định.
Thứ hai, Điều 58 Bộ luật TTHS năm 2015 có quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và người bị bắt là như nhau. Trong đó, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp có quyền “Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”; quyền “Tự bào chữa, nhờ người bào chữa”. Qua nghiên cứu cho thấy, đây đều là những quyền rất cơ bản của người bị buộc tội. Hơn nữa, theo khoản 1 Điều 72 Bộ luật TTHS năm 2015: “Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa”. Rõ ràng, nếu người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không phải là người bị buộc tội thì quy định về quyền “Tự bào chữa, nhờ người bào chữa” mâu thuẫn với quy định về người bào chữa nêu trên.
Do đó, tác giả cho rằng, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp cũng là người bị buộc tội. Tóm lại với sự phân tích nêu trên, có thể hiểu khái niệm người bị buộc tội như sau: Người bị buộc tội là người hoặc pháp nhân thương mại mà cơ quan, người có thẩm quyền, bằng quyết định tố tụng, xác lập tư cách của họ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự khi có căn cứ cho rằng họ đã thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội.
3. Quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội những hạn chế, bất cập
Với cách tiếp cận và quan niệm về người bị buộc tội nêu trên thì quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội được thể hiện thông qua quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Qua nghiên cứu các quyền và nghĩa vụ này cho thấy một số hạn chế, bất cập như sau:
Thứ nhất, về quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ.
Đây là quyền được quy định chung đối với tất cả người bị buộc tội bao gồm quyền của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Về thời điểm thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ đối với từng loại người bị buộc tội được quy định như sau:
- Đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, khoản 3 Điều 110 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định: “Việc thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 113 của Bộ luật này” và theo khoản 2, Điều 113 Bộ luật TTHS năm 2015 thì: “Người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định; giải thích lệnh, quyết định, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt; giao lệnh, quyết định cho người bị bắt”. Từ các quy định trên có thể thấy, Bộ luật TTHS năm 2015 mới chỉ quy định về việc giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mà không quy định việc thông báo quyền và nghĩa vụ của họ.
- Đối với người bị tạm giữ, họ được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ khi cơ quan, người có thẩm quyền thi hành quyết định tạm giữ.
- Đối với bị can, khoản 5, Điều 179 Bộ luật TTHS năm 2015 chỉ quy định về thời điểm giải thích quyền và nghĩa vụ đối với họ là khi cơ quan, người có thẩm quyền giao cho họ quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can mà không quy định về việc thông báo quyền và nghĩa vụ cho bị can.
- Đối với người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt theo quyết định truy nã thì pháp luật TTHS lại không quy định trực tiếp về thời điểm thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ của họ. Chẳng hạn, đối với người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, Khoản 1 Điều 114 Bộ luật TTHS năm 2015 chỉ quy định Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và sau đó phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt mà không đề cập đến việc thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị bắt. Tương tự đối với người bị bắt theo quyết định truy nã, khoản 2 Điều 114 Bộ luật TTHS năm 2015 cũng chỉ quy định sau khi lấy lời khai người bị bắt, Cơ quan điều tra phải thông báo ngay cho Cơ quan đã ra quyết định truy nã đến nhận người bị bắt mà không đề cập đến việc thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị bắt.
- Đối với bị cáo, pháp luật TTHS hiện hành không quy định bị cáo được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ của họ khi được giao quyết định đưa vụ án ra xét xử, mà họ chỉ được biết quyền này ở phần thủ tục khai mạc phiên tòa. Quy định này dẫn đến tình trạng bị cáo không hiểu rõ được quyền và nghĩa vụ của mình trước khi mở phiên tòa; đến khi khai mạc phiên tòa mới hiểu và đưa ra các yêu cầu thì nhiều trường hợp không được xem xét giải quyết.
Thứ hai, về quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa.
Theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2015, tất cả người bị buộc tội đều có quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 76 Bộ luật TTHS năm 2015 có quy định về việc chỉ định người bào chữa:
“Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ:
a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;
b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi”.
Với quy định này có thể thấy, ngoài quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa thì người bị buộc tội còn có quyền được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định người bào chữa cho họ trong những trường hợp luật định.
Thứ ba, về quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ.
Theo điểm h khoản 1 Điều 58 Bộ luật TTHS năm 2015 thì người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt theo quyết định truy nã có quyền: “Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giữ người, bắt người”. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 110 Bộ luật TTHS năm 2015, những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, ngoài những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng còn có cả người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay, bến cảng. Ngoài ra đối với việc bắt người phạm tội quả tang và bắt người đang bị truy nã, có rất nhiều chủ thể tham gia vào việc bắt người như: Người bắt giữ; cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Ủy ban nhân dân nơi gần nhất; Cơ quan điều tra nhận người bị bắt… Như vậy, nếu quy định người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt theo quyết định truy nã chỉ có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc bắt người là chưa đầy đủ.
>> Xem thêm: Bức cung là gì ? Khái niệm bức cung được hiểu như thế nào ?
Tương tự như vậy, việc quy định người bị tạm giữ có quyền “Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng về việc tạm giữ”là chưa đầy đủ bởi lẽ theo quy định tại khoản 2, Điều 117 Bộ luật TTHS năm 2015 thì những người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ, ngoài những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng còn có có cả người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay, bến cảng.
Thứ tư, về quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Theo các quy định về người bị buộc tội trong Bộ luật TTHS năm 2015 (từ Điều 58 đến Điều 61), bị can, bị cáo đều có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, còn người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt và người bị tạm giữ không có quyền này. Tuy nhiên, theo Điều 50 Bộ luật TTHS năm 2015 thì người bị tạm giữ cũng có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Như vậy, có thể thấy sự thiếu thống nhất trong quy định của pháp luật TTHS về vấn đề này.
4. Xác định độ tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi
Người dưới 18 tuổi, là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm sinh lý, là những đối tượng dễ bị tổn thương, vì vậy trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi cần phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật. Xuất phát từ ý nghĩa nhân văn đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã dành hẳn một chương với tên gọi là “Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi” nằm trong phần thứ bảy “Thủ tục đặc biệt” với nhiều nội dung mới được sửa đổi, bổ sung, trong đó đã quy định cụ thể về việc “Xác định độ tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi”.
>> Xem thêm: Hoạt động nhận thức, vai trò của nhận thức và thiết kế trong giai đoạn điều tra ?
Việc xác định độ tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xử lý, giải quyết các vụ án hình sự, nó là cơ sở pháp lý để các cơ quan tiến hành tố tụng xác định việc có truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong một số trường hợp theo luật định. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 lại không có quy định nào về cách xác định độ tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi. Trong khi đó trên thực tế đã có rất nhiều các vụ án hình sự khiến các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải “đau đầu” trong quá trình giải quyết khi không đủ căn cứ để xác định chính xác độ tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi. Để giải quyết vấn đề này các cơ quan tư pháp Trung ương đã phải ra Thông tư hướng dẫn. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những quy định của Thông tư 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12/07/2011 giữa các cơ quan Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về xác định độ tuổi đối với bị can, bị cáo và người bị hại là người chưa thành niên, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã đưa vào một điều luật cụ thể Điều 417 quy định chặt chẽ về cách xác định độ tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi, cụ thể như sau:
Thứ nhất, việc xác định độ tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật.
Để xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần phải áp dụng mọi biện pháp để xác định chính xác ngày, tháng, năm sinh của họ, căn cứ vào các tài liệu hợp pháp như giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình, các giấy tờ, tài liệu khác… Các tài liệu đó phải do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) thu thập theo trình tự, quy định của pháp luật.
Thứ hai, trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã áp dụng mọi biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của người bị buộc tội, người bị hại được xác định trong 5 trường hợp như sau:
+ Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.
+ Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.
+ Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.
+ Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.
+ Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.
Như vậy, có thể thấy điều 417 BLTTHS năm 2015 đã có sự sửa đổi, bổ sung so với điều 11, 12 của Thông tư số 01 về cách xác định độ tuổi của bị can, bị cáo, người bị hại là người dưới 18 tuổi, đó là:
>> Xem thêm: Các loại thực nghiệm điều tra ? Mục đích của thực nghiệm điều tra ?- Điều 417 BLTTHS năm 2015 đã mở rộng hơn về phạm vi đối tượng để xác định độ tuổi dưới 18 tuổi: Theo Thông tư số 01 thì đối tượng để xác định độ tuổi dưới 18 tuổi là bị can, bị cáo và người bị hại, nhưng trên thực tế khi bắt, tạm giữ người dưới 18 tuổi thì các cơ quan tiến hành tố tụng đã tiến hành các biện pháp thu thập tài liệu xác định đội tuổi của họ trước khi ra quyết định khởi tố bị can. Vì vậy khoản 1 điều 417 đã quy định cụ thể đối tượng là người bị buộc tội (gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) và người bị hại dưới 18 tuổi để buộc các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thực hiện các biện pháp xác minh độ tuổi đối với người bị buộc tội trước khi ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can thay vì thực hiện tùy nghi như trước đây nhằm hạn chế đến mức thấp nhất trong một số trường hợp khởi tố vụ án, khởi tố bị can sau đó phải đình chỉ do người phạm tội dưới 18 tuổi.
- Về cách xác định độ tuổi của người bị hại theo khoản 2 điều 417 đã có sự thay đổi: Theo điều 12 của Thông tư số 01 thì cách xác định tuổi của người bị hại theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo, có nghĩa là trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định chính xác ngày, tháng sinh của người bị hại thì lấy ngày đầu tiên của tháng, của quý, của năm đó để làm ngày tháng sinh. Trong khi đó khoản 2 điều 417 lại quy định cách xác định độ tuổi của người bị buộc tội và người bị hại là như nhau (đều lấy ngày cuối cùng của tháng, của quý, của năm để làm ngày, tháng sinh).
Có thể thấy cách xác định độ tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi theo điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bảo đảm được sự công bằng giữa người bị buộc tội với người bị hại theo nguyên tắc cơ bản của Bộ Luật Tố tụng hình sự là “bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật”, tuy nhiên về một góc độ nào đó lại không thể hiện được tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội, có nghĩa là nếu không chứng minh được thì nên tính theo hướng có lợi người bị buộc tội. Thiết nghĩ điều 417 nên quy định cách xác định độ tuổi của người bị buộc tội và người bị hại theo tinh thần của Thông tư số 01 sẽ là phù hợp hơn.
5. Một số kiến nghị
>> Xem thêm: Thực nghiệm điều tra là gì ? Quy định mới về thực nghiệm điều tra
Trên cơ sở những hạn chế, bất cập nêu trên, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số vấn đề sau:
Thứ nhất, đối với quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ.
Đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, cần bổ sung việc thông báo quyền và nghĩa vụ của họ. Theo đó, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 113 Bộ luật TTHS năm 2015 như sau:
“Người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định; giải thích lệnh, quyết định, thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt; giao lệnh, quyết định cho người bị bắt”[24].
Tương tự như vậy, đối với bị can, cũng cần bổ sung việc thông báo quyền và nghĩa vụ của họ; theo đó cần sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 179 Bộ luật TTHS năm 2015 như sau:
“Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra phải giao ngay quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và thông báo, giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can”.
Đối với người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt theo quyết định truy nã, cần bổ sung việc thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của họ. Theo đó, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung các khoản 1, 2 Điều 114 Bộ luật TTHS năm 2015 như sau:
“1. Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp,bắt người hoặc nhận người bị giữ, bị bắt, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 12 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt. Đối với người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt, trước khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định tại Điều 58 của Bộ luật này.
2. Sau khi thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị bắt theo quyết định truy nã và lấy lời khai của họ thì Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông báo ngay cho Cơ quan đã ra quyết định truy nã đến nhận người bị bắt...”[25].
Đối với bị cáo, để bảo đảm cho bị cáo biết và hiểu rõ về các quyền và nghĩa vụ của mình cần quy định việc thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của bị cáo khi giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo. Nói cách khác, khoản 1 Điều 286 Bộ luật TTHS năm 2015 cần được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Quyết định đưa vụ án ra xét xử được giao cho bị cáo hoặc người đại diện của họ; gửi cho người bào chữa, bị hại, đương sự chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa. Khi giao quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo phải thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của bị cáo theo quy định tại Điều 61 của Bộ luật này…”.
Thứ hai, đối với quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa.
Để đảm bảo tính thống nhất, cần bổ sung quyền được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội trong những trường hợp luật định trong quy định về quyền của họ. Theo đó, điểm g khoản 1 Điều 58; điểm d khoản 2 Điều 59; điểm h khoản 2 Điều 60; điểm g khoản 2 Điều 61 Bộ luật TTHS năm 2015 cần được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Tự bào chữa, nhờ người bào chữa hoặc được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định người bào chữa cho họ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định”.
Thứ ba, đối với quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ.
Như đã phân tích, để đảm bảo tính đầy đủ, cần bổ sung quy định quyền của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ trong việc khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền nói chung trong việc giữ người, bắt người, tạm giữ. Theo đó, tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung điểm h khoản 1 Điều 58 Bộ luật TTHS năm 2015 như sau:
“Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền trong việc giữ người, bắt người”.
Tương tự, cần sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 2 Điều 59 Bộ luật TTHS năm 2015 như sau:
“Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền về việc tạm giữ”.
Thứ tư, đối với quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Để đảm bảo sự thống nhất với quy định tại Điều 50 Bộ luật TTHS năm 2015 về quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng của người bị tạm giữ, cần bổ sung quyền “đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng” đối với người bị tạm giữ trong khoản 2 Điều 59 Bộ luật TTHS năm 2015.
Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập