- 1. Việc giám sát đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi được thực hiện như thế nào?
- 2. Quy định về giám sát đối với người bị buộc tội là người chưa thành niên
- 3. Điểm mới của biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi
- 4. Vướng mắc trong thực tiễn
- 5. Bình luận về giám sát đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
- 5.1 Hình phạt tiền đối với người dưới 18 tuổi
- 5.2 Hình phạt cảnh cáo đối với người phạm tội dưới 18 tuổi
- 5.3 Hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi
1. Việc giám sát đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi được thực hiện như thế nào?
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Nội dung của bộ luật đã được sửa đổi, bổ sung nhiều quy định thể hiện điểm tiến bộ hơn so với quy định tại Bộ luật tố tụng cũ. Một trong những quy định được bổ sung tại bộ luật này đó là đề ra thủ tục tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi.
Việc giám sát đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi được quy định tại Điều 418 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018). Cụ thể như sau:
1. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể ra quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của họ khi có giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
2. Người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽ người dưới 18 tuổi, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó.
Trường hợp người dưới 18 tuổi có dấu hiệu bỏ trốn hoặc có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này hoặc tiếp tục phạm tội thì người được giao nhiệm vụ giám sát phải kịp thời thông báo và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời.
2. Quy định về giám sát đối với người bị buộc tội là người chưa thành niên
Nếu không sử dụng các biện pháp ngăn chặn tại điều 419, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì có thể áp dụng các biện pháp giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện của họ giám sát.
Thứ nhất, sử dụng các biện pháp ngăn chặn tại điều 419, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hoặc có thể áp dụng các biện pháp giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện của họ giám sát.
Thứ hai, trước khi giao người dưới 18 tuổi cho người đại diện của họ giám sát dần phải xem xét:
- Tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, lứa tuổi, tình hình sức khỏe, tiền án, tiền sự của người dưới 18 tuổi (nếu có),...
- Khả năng giám sát, giáo dục của người đại diện của họ.
- Nếu thấy rằng việc người chưa thành niên phạm tội không thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, không cần phải tạm giữ, tạm giam để điều tra và sự giám sát của người đại diện có thể bảo đảm bị can, bị cáo không tiếp tục phạm tội hoặc trốn, thì cơ quan tiến hành tố tụng có thể giao cho người đại diện của họ giám sát để chờ việc xét xử.
Thứ ba, cần nhanh chóng xác định người giám sát để kịp thời tiếp xúc với người chưa thành niên phạm tội.
Cuối cùng, trường hợp người dưới 18 tuổi có dấu hiệu sai lệch:
3. Điểm mới của biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi
So với quy định tại Điều 304 Bộ luật tố tụng hình sự cũ thì biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi quy định tại Điều 418 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có những điểm mới sau:
Thứ nhất, bổ sung thêm cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có quyền ra quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
Ngoài việc quy định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể ra quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của họ khi có giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như quy định tại Điều 304 Bộ luật tố tụng hình sự cũ thì quy định tại khoản 1 Điều 418 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung thêm cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng có quyền ra quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi.
Thứ hai, quy định rõ ràng hơn nhiệm vụ của người giám sát;
Nếu như khoản 2 Điều 304 Bộ luật tố tụng hình sự cũ chỉ quy định: Người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽ người chưa thành niên, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó thì khoản 2 Điều 418 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định rõ ràng hơn như sau: Trường hợp người dưới 18 tuổi có dấu hiệu bỏ trốn hoặc có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này hoặc tiếp tục phạm tội thì người được giao nhiệm vụ giám sát phải kịp thời thông báo và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời. Quy định này của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 nhằm đảm bảo việc áp dụng biện pháp giám sát chặt chẽ hơn người bị buộc tội dưới 18 được hiệu quả, đúng mục đích; đồng thời ngăn chặn kịp thời những hành vi tiêu cực, cản trở việc giải quyết vụ án do người bị buộc tội dưới 18 tuổi thực hiện.
Thứ ba, mở rộng đối tượng người giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi
Theo Điều 304 Bộ luật tố tụng hình sự cũ thì người được giao nhiệm vụ giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội là cha, mẹ hoặc người đỡ đầu của họ. Nhưng Điều 418 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì mở rộng hơn đối tượng người giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi là người đại diện hợp pháp của họ. Theo đó, người đại diện của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi được xác định theo thứ tự sau đây: Cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, người giám hộ và người do Tòa án chỉ định.
4. Vướng mắc trong thực tiễn
Nghiên cứu quy định về biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi và biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú thì thấy rằng mục đích của biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi theo Điều 418 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 là để bảo đảm sự có mặt của người bị buộc tội dưới 18 tuổi khi có giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Còn mục đích của biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Điều 123 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 là nhằm bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo khi có giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án. Như vậy, mục đích của hai biện pháp này là giống nhau. Tuy nhiên, vấn đề là biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi có được áp dụng đồng thời với biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú không thì thực tiễn vẫn còn vướng mắc do nhận thức còn khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, khi cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng biện pháp giám sát người bị buộc tội thì không được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bởi vì khoản 1 Điều 419 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau: “Chỉ áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả” và khoản 1 Điều 12 Thông tư liên tịch số: 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao – Bộ Công an – Bộ Tư pháp – Bộ Lao động-Thương binh và xã hội về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi (Thông tư liên tịch số 06/2018) quy định như sau: “Trước khi quyết định áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam người dưới 18 tuổi, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, cân nhắc áp dụng biện pháp giám sát, cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc tạm hoãn xuất cảnh quy định tại Điều 123, Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự.”.
Như vậy, qua các quy định này thì có thể thấy biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi và biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú là hoàn toàn độc lập với nhau. Cho nên khi đã áp dụng biện giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi thì không cần thiết phải áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi.
Quan điểm thứ hai cho rằng, mặc dù mục đích của biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi và biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú có mục đích tương tự nhau nhưng cách thức thực hiện, quyền và nghĩa vụ của những người liên quan là khác nhau như: Bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú thì phải làm cam đoan thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nếu bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú vi phạm nghĩa vụ thì bị tạm giam. Còn biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi có quy định nghĩa vụ của người đại diện được giao nhiệm vụ giám sát. Trường hợp người đại diện được giao nhiệm vụ giám sát vi phạm nghĩa vụ giám sát mà để người bị buộc tội dưới 18 tuổi bỏ trốn hoặc thực hiện các hành vi khác quy định tại khoản 2 Điều 418 Bộ luật tố tụng hình sự thì tùy tính chất, mức độ vi phạm có thể bị thay đổi hoặc bị xử lý theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, biện pháp giám sát người bị buộc tội không phải là một trong các biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Cho nên, khi áp dụng biện pháp giám sát người bị buộc tội dưới 18 tuổi thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn có quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị buộc tội dưới 18 tuổi.
Vướng mắc trên rất cần được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn hoặc giải đáp để việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn được thống nhất. Xem thêm: Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung quyền và nghĩa vụ của nhóm người bị buộc tội
5. Bình luận về giám sát đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
Tại khoản 1 Điều 418 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể ra quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của họ khi có giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Như vậy, so với quy định tại Điều 304 Bộ luật Tố tụng hình sự cũ thì Bộ luật mới đã bổ sung thêm cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có quyền ra quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi (Bộ luật Tố tụng hình sự cũ quy định là người chưa thành niên phạm tội).
Đáng chú ý, khoản 2 Điều 418 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định bổ sung nội dung quan trọng: Trường hợp người dưới 18 tuổi có dấu hiệu bỏ trốn hoặc có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này hoặc tiếp tục phạm tội thì người được giao nhiệm vụ giám sát phải kịp thời thông báo và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung quy định trên nhằm đảm bảo việc áp dụng biện pháp giám sát người chưa thành niên bị buộc tội tại gia đình, nơi cư trú khi không áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với họ được hiệu quả, đúng mục đích; đồng thời ngăn chặn kịp thời những hành vi tiêu cực, cản trở việc giải quyết vụ án do người dưới 18 tuổi thực hiện.
5.1 Hình phạt tiền đối với người dưới 18 tuổi
Hình phạt này chỉ là hình phạt chính đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Ngoài các điều kiện được quy định chung (Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017), điều luật bổ sung hai điều kiện cho phép áp dụng hình phạt này đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:
- Là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi;
- Có thu nhập hoặc có tài sản riêng.
Khi phạt tiền người dưới 18 tuổi phạm tội cần tuân thủ các quy định tại các Điều 35 và Điều 99 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Mức phạt tiền đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quyết định theo tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động giá và không được quá 1/2 mức tiền phạt mà điều luật quy định.
5.2 Hình phạt cảnh cáo đối với người phạm tội dưới 18 tuổi
Hình phạt này được quy định chung cho tất cả các trường hợp phạm tội thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Bộ luật hình sự không có quy định bổ sung đối với hình phạt khi áp dụng cho người dưới 18 tuổi phạm tội. Tuy nhiên, cần chú ý, khi thoả mãn hai điều kiện chung của hình phạt cảnh cáo (tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ) thì vẫn cần kiểm tra xem có thể miễn trách nhiệm hình sự (khoản 2 Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) được hay không? Chỉ khi không thể miễn trách nhiệm hình sự được thì mới áp dụng hình phạt cảnh cáo.
5.3 Hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi
Ngoài điều kiện chung (có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng) (Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017), điều luật quy định cụ thể về điều kiện cho phép áp dụng hình phạt này trong hai trường hợp:
- Đối với người phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, hình phạt này được áp dụng nếu tội phạm đã thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng;
- Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng.
Về các nội dung khác của hình phạt cải tạo không giam giữ, có hai điểm cần chú ý:
- Không khấu trừ thu nhập đối với người phạm tội dưới 18 tuổi bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ;
- Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi không được vượt quá 1/2 thời hạn mà điều luật quy định.
Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể. Trân trọng./.