Buộc tội là hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ luật hình sự quy định là tội phạm. Cùng với chức năng bào chữa, chức năng xét xử, buộc tội là một trong những chức năng được thực hiện trong giải quyết vụ án hình sự.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162
1. Khái niệm buộc tội
Buộc tội là hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ luật hình sự quy định là tội phạm. Cùng với chức năng bào chữa, chức năng xét xử, buộc tội là một trong những chức năng được thực hiện trong giải quyết vụ án hình sự. Việc buộc tội được thực hiện trong suốt quá trình tố tụng hình sự từ khi khởi tố bị can cho đến khi bản án buộc tội có hiệu lực pháp luật.
Trong tố tụng hình sự, buộc tội là chức năng chính của Viện kiểm sát, khi thực hành quyền công tố. Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ buộc tội bằng cách trình bày bản cáo trạng truy tố bị can ra trước toà án, tham gia phiên toà (xét hỏi, trình bày lời luận tội và tranh luận) để bảo vệ bản cáo trạng, kháng nghị bản án của toà án theo thủ tục phúc thẩm và tham gia phiên toà phúc thẩm để bảo vệ bản kháng nghị. Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, việc buộc tội cũng do cơ quan điều tra thực hiện. Khi xác định được một người thực hiện hành vi phạm tội, cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, tiến hành việc điều tra và nếu chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm thì kết thúc điều tra và đề nghị Viện kiểm sát truy tố.
Người bị hại cũng thực hiện một số hành vi buộc tội. Trong một số trường hợp được pháp luật quy định, người bị hại có quyền yêu cầu khởi tố vụ án để điều tra về hành vi của người phạm tội. Người bị hại tham gia phiên toà có quyền trình bày lời buộc tội trong những trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại; trong những trường hợp khác người bị hại cũng có quyền tranh luận để buộc tội đối với bị cáo. Việc toà án ra bản án kết tội đối với bị cáo không phải là việc buộc tội. Đó là kết quả của việc toà án thực hiện chức năng xét xử đối với sự buộc tội của viện kiểm sát và sự bào chữa của bị cáo và luật sư. Trong trường hợp này toà án thực hiện chức năng xét xử theo quy định của pháp luật.
2. Người bị buộc tội gồm những ai?
Người bị buộc tội trong vụ án hình sự được quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018). Theo đó:
Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Trong đó, pháp luật hiện hành không định nghĩa thế nào là người bị bắt, tuy nhiên, trên thực tế, người bị bắt là người có dấu hiệu thực hiện hành vi phạm tội, bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định bắt giữ theo quy định pháp luật.
Còn bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân cũng được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Như vậy, đối với thắc mắc của bạn, về cơ bản, có thể phân biệt như sau: người bị buộc tội có phạm vi bao trùm lên 3 chủ thể còn lại là người bị bắt, bị can và bị cáo. Tuy nhiên, tùy vào từng giai đoạn trong quá trình giải quyết vụ án mà người bị buộc tội có thể được gọi theo những cách khác nhau. Cụ thể, khi mới bị bắt giữ, người bị buộc được gọi là người bị bắt, kể từ thời điểm bị khởi tố bị can, người bị buộc tội sẽ được gọi là bị can; còn kể từ thời điểm có quyết định đưa vụ án ra xét xử, người bị buộc tội sẽ được gọi là bị cáo.
Trên thực tế thì rất nhiều người vẫn còn hiểu sai về bản chất của những cách gọi này và sử dụng sai trong nhiều trường hợp. Trong văn nói hằng ngày, có thể việc sử dụng không chính xác các thuật ngữ này không ảnh hưởng gì nhiều, tuy nhiên trong văn viết, đặc biệt trong các văn bản quy phạm pháp luật hình sự, việc sử dụng sai có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường, thậm chí có thể ảnh hưởng đến cả cuộc đời của một người. Vì vậy, chúng ta, đặc biệt là những người hành nghề luật không nên để xảy ra bất kỳ sự cố đáng tiếc nào chỉ vì sử dụng sai những thuật ngữ cơ bản này trong quá trình thực hiện vai trò, nhiệm vụ của mình dù ở vị trí nào.
3. Quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
Điều 414 BLTTHS năm 2015 quy định các nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi.
“1. Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi; Bảo đảm giữ bí mật cá nhân của người dưới 18 tuổi; Bảo đảm quyền tham gia tố tụng của người đại diện của người dưới 18 tuổi, nhà trường, Ðoàn thanh niên, người có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lý, xã hội, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt; Tôn trọng quyền được tham gia, trình bày ý kiến của người dưới 18 tuổi; Bảo đảm quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý của người dưới 18 tuổi; Bảo đảm các nguyên tắc xử lý của Bộ luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; Bảo đảm giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi.”
Đây là những nguyên tắc quan trọng trong hoạt động tiến hành tố tụng có sự tham gia của người dưới 18 tuổi, mà các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải tuân thủ để bảo vệ quyền và lợi ích của người dưới 18 tuổi. Việc ghi nhận, quy định các nguyên tắc tiến hành tố tụng này thể hiện quan điểm, chính sách nhân đạo của Nhà nước, tạo điều kiện tối đa bảo vệ quyền và lợi ích của người dưới 18 tuổi trong hoạt động tố tụng giải quyết vụ án hình sự, vốn là các hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, có tính cưỡng chế và nghiêm khắc. Các nguyên tắc này được luật tố tụng hình sự đề ra, có tính chất bắt buộc thực hiện, do đó, cơ quan, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng có trách nhiệm tôn trọng và thực hiện nghiêm túc trong quá trình giải quyết vụ án hình sự liên quan người dưới 18 tuổi, nghiêm cấm mọi hành vi vi phạm hoặc thực thi không đầy đủ gây ảnh hưởng hạn chế đến việc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự. Một trong những nguyên tắc quan trọng tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi đó là bảo đảm quyền bào chữa của người dưới 18 tuổi. Tại khoản 5 Điều 414 BLTTHS năm 2015 quy định: “Bảo đảm quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý của người dưới 18 tuổi”.
4. Quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa.
Tại khoản 1, khoản 2 Điều 422 BLTTHS năm 2015 quy định như sau: “1.Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; 2..Người đại diện của người dưới 18 tuổi bị buộc tội có quyền lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người dưới 18 tuổi bị buộc tội”.
Đây là một quy định nhân văn, phù hợp đặc điểm về lứa tuổi, tâm sinh lý và sự phát triển về thể chất của người dưới 18 tuổi. BLTTHS năm 2015 đã trực tiếp thể hiện, thực hiện quyền này. Ngoài các quyền năng riêng biệt, người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cũng được hưởng các quyền giống như người thành niên để có thể tự bào chữa cho mình một cách tốt nhất, như quyền được nghe, được biết lý do mình bị bắt, được biết lý do mình bị khởi tố…
5. Về quyền được bào chữa chỉ định.
Tại Điều 76 BLTTHS năm 2015 quy định: “1. Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ: … b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức sau đây cử người bào chữa cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này:…b) Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý…”.
Điều 76 BLTTHS năm 2015 đã mở rộng diện người bào chữa gồm cả trợ giúp viên pháp lý để bào chữa cho người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi, đây là quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi mà còn phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tiễn hiện nay khi đa phần trợ giúp pháp lý đều không có thẻ luật sư nên khó khăn trong việc tiếp cận và bảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội.
BLTTHS năm 2015 quy định người tiến hành tố tụng đối với vụ án có người dưới 18 tuổi phải là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi, có hiểu biết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi. Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm phải có một Hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên hoặc người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi; phiên tòa xét xử bị cáo là người dưới 18 tuổi phải có mặt người đại điện của bị cáo, đại diện của nhà trường, tổ chức nơi bị cáo học tập, sinh hoạt.
BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định người bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt cũng có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Quy định này giúp cho việc tham gia bảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội nói chung và người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi nói riêng được sớm hơn.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê