1. Thế nào là giao dịch với chính mình?
Theo quy định của Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự được định nghĩa là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương gây ra, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Trong trường hợp giao dịch dân sự là hợp đồng, yêu cầu có sự tham gia ký kết của hai chủ thể.
Trong những giao dịch dân sự thông thường, hai chủ thể là các cá nhân hoặc tổ chức khác nhau, đại diện cho những lợi ích đối lập. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, hai bên chủ thể thực hiện giao dịch lại là một cá nhân hoặc tổ chức duy nhất, và đó được coi là việc giao dịch dân sự với chính mình.
2. Các hình thức đại diện theo quy định của pháp luật
2.1. Đại diện theo pháp luật
Theo quy định của Điều 136 và Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2015, đại diện theo pháp luật được quy định như sau:
* Đại diện theo pháp luật của cá nhân:
- Cha, mẹ đại diện cho con chưa thành niên.
- Người giám hộ đại diện cho người được giám hộ.
- Người được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
- Người được Tòa án chỉ định khi không xác định được người đại diện trong hai trường hợp trên.
- Người được Tòa án chỉ định đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
* Đại diện theo pháp luật của pháp nhân:
- Người được chỉ định theo điều lệ của pháp nhân.
- Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật.
- Người được Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.
Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật, và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều 141 Bộ luật Dân sự 2015.
2.2. Đại diện theo ủy quyền
Theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015, cá nhân và pháp nhân có quyền ủy quyền cho cá nhân hoặc pháp nhân khác để thực hiện các giao dịch dân sự.
Các thành viên trong một hộ gia đình, tổ hợp tác hoặc tổ chức khác không có tư cách pháp nhân cũng có thể thỏa thuận bổ nhiệm cá nhân hoặc pháp nhân khác để đại diện theo ủy quyền và thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của họ.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ khi pháp luật quy định rõ ràng rằng giao dịch dân sự phải được thực hiện bởi người từ đủ mười tám tuổi trở lên.
3. Người đại diện giao dịch với chính mình có được không?
Trên thực tế, có rất nhiều hợp đồng bị tuyên vô hiệu khi vi phạm các quy định cấm của pháp luật, trong đó có giao dịch dân sự với chính mình. Vấn đề của giao dịch dân sự với chính mình thường được đặt ra trong các Hợp đồng thế chấp tài sản nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác. Khái niệm "giao dịch với chính mình" trong lĩnh vực dân sự đề cập đến trường hợp khi một người đồng thời có nhiều vị trí pháp lý khác nhau và tất cả các vị trí này đều tham gia trong một quan hệ dân sự. Quy định tại Điều 141 của Bộ luật Dân sự năm 2015 chi tiết về phạm vi đại diện như sau:
- Người đại diện chỉ được xác lập và thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện dựa trên các căn cứ sau đây:
- Quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
- Điều lệ của tổ chức pháp nhân.
- Nội dung ủy quyền.
- Quy định khác của pháp luật.
- Trong trường hợp không xác định được rõ ràng phạm vi đại diện theo quy định tại khoản 1, người đại diện theo pháp luật có quyền thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ khi có quy định khác của pháp luật.
- Một cá nhân hoặc tổ chức pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc tổ chức pháp nhân khác nhau, tuy nhiên không được sử dụng tư cách đại diện để thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà cùng là người đại diện của bên đó, trừ khi có quy định khác của pháp luật.
- Người đại diện phải thông báo cho bên tham gia giao dịch về phạm vi đại diện của mình.
Từ những quy định trên, rõ ràng thấy rằng một cá nhân không thể tự thực hiện giao dịch dân sự với chính mình, trừ khi có quy định khác trong pháp luật.
Vậy, chúng ta cần xem xét việc "trừ trường hợp pháp luật có quy định khác". Để minh họa điều này, hãy giả sử ông A là chủ doanh nghiệp và cũng là chủ bất động sản. Khi doanh nghiệp cần vay vốn để kinh doanh, ông A đưa tài sản của mình làm thế chấp cho ngân hàng. Tuy nhiên, khi ông A đến công chứng, thì yêu cầu của ông bị từ chối với lý do "giao dịch với chính mình".
Trong tình huống cụ thể này, ông A thế chấp quyền sử dụng đất cá nhân của mình để đảm bảo cho khoản vay của Công ty ABC - Chi nhánh BCD, trong đó ông A là đại diện pháp luật. Có thể mô tả đơn giản rằng Hợp đồng thế chấp trong trường hợp này có 3 bên tham gia giao dịch: Ngân hàng là Bên nhận thế chấp, ông A là Bên thế chấp, và Công ty ABC - Chi nhánh BCD là Bên được bảo đảm (Bên vay). Do đó, ông A sẽ ký vào Hợp đồng thế chấp với cả hai tư cách: Bên thế chấp và đại diện cho Bên được bảo đảm. Khi Hợp đồng thế chấp được đưa đến các tổ chức công chứng để thực hiện công chứng, đã có những quan điểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Giao dịch như trên đã vi phạm quy định tại Khoản 3, Điều 141 của Bộ luật dân sự năm 2015, như sau: "Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau, nhưng không được nhân danh người được đại diện để thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ khi có quy định khác của pháp luật".
Quan điểm thứ hai cho rằng: Giao dịch dân sự như trên là phù hợp với các quy định của pháp luật, ông A có thể ký vào hợp đồng với cả hai tư cách là bên thế chấp và đại diện cho Bên được bảo đảm (bên vay vốn). Căn cứ vào quy định tại Khoản 3, Điều 141 của Bộ luật dân sự năm 2015, có nội dung: "trừ trường hợp pháp luật có quy định khác". Trường hợp pháp luật có quy định khác ở đây là các quy định tại Điều 67, 86 và 167 của Luật Doanh nghiệp năm 2020.
Có thể hiểu một cách ngắn gọn quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 là Hợp đồng và giao dịch giữa công ty và người đại diện pháp luật, giám đốc, tổng giám đốc của công ty phải được Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông chấp thuận, tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp. Do đó, trong trường hợp này, chỉ cần ông A có văn bản thể hiện sự chấp thuận từ Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông, ông A có thể ký vào hợp đồng với cả hai tư cách là bên thế chấp và đại diện của Bên được bảo đảm (bên vay vốn), mà không vi phạm các quy định của pháp luật. Theo đó, quy định của pháp luật doanh nghiệp vẫn cho phép người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nhân danh doanh nghiệp để thực hiện giao dịch với chính họ, miễn là các điều kiện quy định được đáp ứng và phải được Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông chấp thuận tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp.
Để tìm hiểu thêm thông tin chi tiết liên quan đến vấn đề này, mời quý bạn đọc tham khảo bài viết: Các vấn đề pháp lý xung quanh quan hệ dân sự với chính mình
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Người đại diện giao dịch với chính mình có được không? Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.