Vừa qua vào ngày 31/07/2022 khoảng 12h30, xảy ra sự việc một người đàn ông mặc trang phục công an, mang theo súng AK xông vào tiệm vàng ở khu vực chợ Đông Ba, phường Đông Ba, thành phố Huế. Được biết đối tượng này đã bắn một phát súng chỉ thiên và 5 phát súng vào tủ kinh của hai tiệm vàng. Thiệt hại dẫn đến tủ kinh vỡ nát, một người đứng gần bị kính vỡ làm bị thương. Sau đó, đố  tượng trên đã lấy 2 khay đựng vàng ném vung vãi ở trước cửa tiệm vàng và cầm súng đi bộ về hướng cầu Gia Hội.

Ngay khi nhận được tin báo, lực lượng chức năng tỉnh Thừa Thiên - Huế đã kịp thời có mặt tại hiện trường. Lúc này, đối tượng đã có dấu hiệu kích động, muốn tự vẫn, các cán bộ công an đã tiếp cận và thuyết phục đối tượng giao nộp vũ khí. Hiện, công an tỉnh Thừa Thiên - Huế đang bắt giữ đối tượng cùng 1 khẩu súng AK và 10 viên đạn dùng để gây án.

Điều đáng quan tâm ở đây là tình tiết đối tượng sử dụng vàng cướp được vung vãi ra đường. Trong khi đối tượng đem theo súng, nhiều người dân xung quanh vẫn bất chấp tìm nhặt số vàng mà đối tượng vứt lại. Đây là một hành động nguy hiểm và ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vậy, việc nhặt và sử dụng số vàng nêu trên có phải là hành vi vi phạm pháp luật hay không? Khi nhặt được, người dân cần làm gì?

Hình ảnh tủ vàng bị đập võ từ vụ cướp ở Huế

Hình ảnh tủ vàng bị đập võ từ vụ cướp ở Huế - Ảnh từ internet

 

1. Phải làm gì khi nhặt được tài sản đánh rơi?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 230 của Bộ luật Dân sự 2015. Người phát hiện ra tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi, bỏ quên thì phải thông báo  hoặc trả lại tài sản cho người đó. Nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.

Như vậy, trong vụ việc trên, tài sản được xác định thuộc quyền sở hữu của hai tiệm vàng. Theo đúng quy định của pháp luật, việc nhặt được tài sản của người khác thì việc cất giữ hoặc sử dụng là không được phép. Pháp luật quy định cần phải trả lại cho chủ sở hữu của tài sản. Sau khi vụ việc trên xảy ra, cơ quan điều tra đã yêu cầu người dân trả lại tài sản để phục vụ quá trình điều tra và trả lại cho chủ sở hữu.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 88 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, cơ quan tiến hành tổ tụng có quyền tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này. Bên cạnh đó, các cơ quan này còn có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án.

Những tài sản bị đối tượng nêu trên lấy từ hai tiệm vàng có vai trò là nguồn của chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 87 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Do đó, cơ quan điều tra với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng có quyền yêu cầu các cá nhân, tổ chức nhặt được tài sản nêu trên phải giao nộp lại nhằm mục đích phục vụ quá trình điều tra cũng như xác định và trả lại cho chủ sở hữu của những tài sản này.

Như vây, khi nhặt được vàng mà đối tượng nêu trên làm vung vãi, người dân có trách nhiệm giao nộp cho cơ quan điều tra để làm vật chứng. Cơ quan điều tra sẽ cất giữ số vàng này trong quá trình điều tra vụ án, sau đó họ có trách nhiệm phải trả lại cho chủ sở hữu của số vàng này theo đúng quy định của pháp luật.

 

2. Xử lý như thế nào đối với việc chiếm giữ trái phép số vàng trên?

Chiếm giữ tài sản trái phép được hiểu là hành vi cố tình không trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm về tài sản do bị giao nhầm, do tìm được, bắt được sau khi đã có yêu cầu nhận lại tài sản đó. Tội chiếm giữ trái phép tài sản được quy định tại Điều 176 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Theo đó, những đối tượng thực hiện hành vi nêu trên sẽ bị xử lý dưới một trong hai khung hình phạt sau đây:

Thứ nhất: Theo khoản 1 Điều trên, tài sản chiếm giữ trái phép có giá trị từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị văn hóa thì sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng và phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Thứ hai: Theo khoản 2 Điều trên, việc chiếm giữ tài sản trái phép có giá trị từ 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia thì sẽ bị phạt tù từ 01 đến 05 năm.

- Về mặt khách thể của tội phạm này là quan hệ về tài sản phản ánh quyền sở hữu tài sản đó.

- Mặt khách quan của tội phạm là việc không trả lại hoặc không giao nộp tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp hay cơ quan có trách nhiệm đối với tài sản dẫn đến hậu quả cản trở và không thể thu hồi tài sản;

- Chủ thể của tội phạm này là người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi trên;

- Mựt chủ quan của tội phạm này là việc thực hiện hành vi với lỗi cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong đó, người thực hiện hành vi biết rõ hậu quả mà vẫn cố tình vi phạm.

Đối với trường hợp nêu trên, viêc cố tình chiếm giữ tài sản là vàng theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 trong khi đã có yêu cầu giao nộp của cơ quan điều tra là hành vi chiếm giữ trái phép tài sản. Do đó, những người không giao nộp vàng trong vụ việc nêu trên có thể sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự.

 

3. Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có sẽ bị xử lý như thế nào?

Chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015. Trong đó, chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là hành vi của người biết rõ tài sản là do người khác phạm tội mà có tuy không hứa hẹn trước nhưng vẫn cất giữ, bảo quản, sử dụng, mua bán, trao đổi tài sản đó sẽ bị xử lý hình sự dưới 4 khung hình phạt sau:

Thứ nhất: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt từ từ 06 tháng đến 03 năm;

Thứ hai: Đối với việc tiêu thụ, chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có thuộc một trong các trường hợp: có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm, tài sản có giá trị từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng sẽ bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm;

Thứ ba: Người phạm tội trên nếu thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc tài sản phạm tội có giá trị từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng sẽ bị phạt tù từ 07 năm đến 10 năm;

Thứ tư: Đối với hành vi trên mà thu lợi bất chính từ 300.000.000 đồng trở lên hoặc giá trị tài sản phạm tội từ 1.000.000.000 đồng trở lên sẽ bị xử lý với mức phạt tù từ 10 đến 15 năm.

Hình phạt bổ sung của tội này là việc bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, nếu thực hiện hành vi tiêu thụ, chứa chấp những tài sản do người khác phạm tội mà có thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan, Hãy gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến.