- 1. Khái niệm học nghề, tập nghề
- 1.1 Khái niệm học nghề
- 1.2 Khái niệm tập nghề
- 2. Giới hạn độ tuổi của lao động học nghề, tập nghề là bao nhiêu?
- 3. Người học nghề, tập nghề có phải đóng học phí, ký kết hợp đồng hay không?
- 3.1 Học nghề, tập nghề có mất phí không?
- 3.2 Tuyển người học nghề, tập nghề có phải ký hợp đồng?
- 4. Thời gian học nghề, tập nghề là bao lâu?
- 5. Điều kiện để học nghề, tập nghề
- 5.1 Điều kiện khi người sử dụng lao động tổ chức học nghề, tập nghề
- 5.2 Điều kiện đối với người học nghề, tập nghề
- 6. Các vấn đề khác liên quan đến học nghề, tập nghề
Căn cứ vào khoản 3 Điều 61 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình thì không được thu học phí; nhưng phải ký hợp đồng đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, sửa đểi, bổ sung năm 2017.
Như vậy, việc quy định như trên là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn và bảo vệ được lợi ích cho người lao động, người sử dụng lao động, bởi vì:
* Việc học nghề, tập nghề ở đây nhằm mục đích sau này người lao động làm việc cho chính người sử dụng lao động đấy (sẽ mang lại lợi nhuận cho người sử dụng lao động), nên Bộ luật Lao động năm 2019 quy định không thu học phí học nghề, tập nghề là tính tất yếu.
* Việc hai bên phải ký hợp đồng đào tạo sẽ mang tính ràng buộc cho người sử dụng lao động, người lao động thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ mà mình đã cam kết; đây cũng là một trong những cơ sồ để tiến tới giao kết hợp đồng lao động khi kết thúc thời gian học nghề, tập nghề. Từ đó, quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động được gắn kết lâu dài.
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết quy định pháp lý trên như sau:
1. Khái niệm học nghề, tập nghề
1.1 Khái niệm học nghề
Theo khoản 1 Điều 61 Bộ luật Lao động năm 2019, học nghề được hiểu là việc người sử dụng lao động tuyển người vào để đào tạo nghề nghiệp tại nơi làm việc sau đó làm việc cho chính người sử dụng lao động đó.
Theo đó, không có khái niệm "học việc" mà chỉ có "học nghề" ở Bộ luật Lao động năm 2019. Học nghề, cũng có thể hiểu là học việc là hoạt động mà người sử dụng lao động thực hiện đào tạo nghề nghiệp chuyên môn cho người lao động, được thỏa thuận dưới hình thức hợp đồng đào tạo. Học nghề khác thử việc bởi hợp đồng học nghề là hợp đồng đào tạo trong khi hợp đồng thử việc thì không, người thừ việc không hề được đào tạo như người học nghề, mà chỉ thử việc, làm nhưng công việc như thỏa thuận hợp đồng.
1.2 Khái niệm tập nghề
Theo Khoản 2 Điều 61 Bộ luật Lao động năm 2019: "Tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động là việc người sử dụng lao động tuyển người vào để hướng dẫn thực hành công việc, tập làm nghề theo vị trí việc làm tại nơi làm việc".
Tập nghề cũng tương tự với học nghề, điều khác biệt là đối với tập nghề, người sử dụng lao động tuyển người vào để hướng dẫn thực hành công việc, tập là nghề theo vị trí làm tại nơi làm việc chứ không dậy kiến thức chuyên môn, lý thuyết. Tức là tập nghề thiên về thực hành và làm việc hơn so với học nghề. So với Bộ luật Lao động năm 2012, Bộ luật Lao động năm 2019 đã có khái niệm rõ ràng hơn về tập nghề, bởi Bộ luật Lao động năm 2012 chỉ định nghĩa về học nghề mà không định nghĩa về tập nghề.
2. Giới hạn độ tuổi của lao động học nghề, tập nghề là bao nhiêu?
Theo khoản 4 Điều 61 Bộ luật Lao động năm 2019, độ tuổi của người lao động học nghề tập nghề được quy định như sau:
- Người học nghề, người tập nghề phải đủ 14 tuổi trở lên và phải có đủ sức khỏe phù hợp với yêu cầu học nghề, tập nghề.
- Người học nghề, người tập nghề thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành phải từ đủ 18 tuổi trở lên, trừ lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao.
- Lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao: Có thể nhỏ hơn 14 tuổi nhưng phải có sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
3. Người học nghề, tập nghề có phải đóng học phí, ký kết hợp đồng hay không?
3.1 Học nghề, tập nghề có mất phí không?
Khoản 3 Điều 61 Bộ luật Lao động năm 2019 nêu rõ:
"Người sử dụng lao động tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình thì không phải đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp; không được thu học phí; phải ký hợp đồng đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp".
Theo quy định này, khi tuyển người lao động vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình, người sử dụng lao động không được thu học phí. Nói cách khác, người lao động học nghề, tập nghề sẽ không phải mất phí mà vẫn được đào tào nghiệp vụ.
Trường hợp cố tính thu học phí của người học nghề, tập nghề sẽ bị xử lý theo khoản 1 Điều 14 Nghị định 12/2022/NĐ-CP về vi phạm quy định về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề, cụ thể:
Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi: không đào tạo cho người lao động trước khi chuyển người lao động sang làm nghề khác cho mình; hợp đồng đào tạo nghề không có các nội dung chủ yếu theo quy định tại khoản 2 Điều 62 của Bộ luật Lao động; thu học phí của người học nghề, tập nghề để làm việc cho mình; không ký hợp đồng đào tạo với người học nghề, tập nghề để làm việc cho mình đối với trường hợp người sử dụng lao động không phải đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp theo quy định tại khoản 3 Điều 61 của Bộ luật Lao động; không trả lương cho người học nghề, tập nghề trong thời gian họ học nghề, tập nghề mà trực tiếp hoặc tham gia lao động; không ký kết hợp đồng lao động đối với người học nghề, người tập nghề khi hết thời hạn học nghề, tập nghề và đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật Lao động theo một trong các mức sau đây:
- Từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
- Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
- Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
- Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
- Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.
*Lưu ý: Theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, mức phạt quy định trên đây là mức phạt đối với cá nhân. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
3.2 Tuyển người học nghề, tập nghề có phải ký hợp đồng?
Theo khoản 3 Điều 61 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động tuyển người vào học nghề, tập nghề thì phải ký hợp đồng đào tạo với người lao động đó.
Căn cứ tại khoản 2 và 3 Điều 39 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014, hợp đồng đào tạo trong trường hợp này phải đảm bảo có các nội dung chủ yếu sau đây:
- Tên nghề đào tạo hoặc các kỹ năng nghề đạt được.
- Địa điểm đào tạo.
- Thời gian hoàn thành khóa học.
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của mỗi bên khi vi phạm hợp đồng đào tạo.
- Thanh lý hợp đồng.
- Cam kết của người học về thời hạn làm việc cho người sử dụng lao động.
- Cam kết của người sử dụng lao động về việc sử dụng lao động sau khi học nghề, tập nghề xong.
- Thỏa thuận về thời gian và mức tiền công cho người học trực tiếp hoặc tham gia làm ra sản phẩm cho người sử dụng lao động trong thời gian học nghề, tập nghề.
- Các thỏa thuận khác không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Bên cạnh đó, tại khoản 6 Điều 61 Bộ luật Lao động năm 2019 nêu rõ, hết thời hạn học nghề, tập nghề, mà người lao động đủ các điều kiện để làm việc thì các bên phải tiến hành ký kết hợp đồng lao động. Nếu không ký kết hợp đồng lao động đối với người học nghề, người tập nghề khi hết thời hạn học nghề, tập nghề thì người sử dụng lao động sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 1 Điều 14 Nghị định 12/2022/NĐ-CP.
4. Thời gian học nghề, tập nghề là bao lâu?
Căn cứ khoản 1 Điều 61 Bộ luật lao động năm 2019, thời gian học nghề sẽ được áp dụng theo chương trình đào tạo của từng trình độ tại Luật Giáo dục nghề nghiệp.
Cụ thể, tại Điều 33 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014, sửa đổi năm 2019 quy định về thời gian học nghề như sau:
- Thời gian đào tạo trình độ sơ cấp: Từ 03 tháng đến dưới 01 năm nhưng phải bảo đảm thời gian thực học tối thiểu là 300 giờ.
- Thời gian đào tạo trình độ trung cấp theo niên chế đối với người có bằng tốt nghiệp cấp 2 trở lên: Từ 01 đến 02 năm.
- Thời gian đào tạo trình độ trung cấp theo tín chỉ: Thời gian tích lũy đủ số lượng tín chỉ.
- Thời gian đào tạo trình đọ cao đẳng theo niên chế:
+ Từ 02 đến 03 năm: Người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông;
+ Từ 01 đến 02 năm: Người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng ngành, nghề đào tạo và có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông.
- Thời gian đào tạo trình độ cao đẳng theo tín chỉ: Thời gian tích lũy đủ số lượng tín chỉ.
Trong khi đó, thời gian tập nghề của người lao động được quy định tại khoản 2 Điều 61 Bộ luật Lao động năm 2019 là tối đa 03 tháng.
5. Điều kiện để học nghề, tập nghề
5.1 Điều kiện khi người sử dụng lao động tổ chức học nghề, tập nghề
- Không được thu học phí: Khoản 3 Điều 61 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định, nếu sử dụng lao động đào tạo người học nghề, tập nghề để làm việc cho mình thì không được thu phí đối với người lao động, ngược lại, người sử dụng lao động sẽ không phải đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp.
- Chi trả chi phí đào tạo: Khoản 3 Điều 62 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định các khoản chi phí này bao gồm: Các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng báo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trọng thời gian đào tạo.
- Phải ký hợp đồng đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp. Nếu không ký hợp đồng đào tạo thì không thể coi đó là hoạt động học nghề, tập nghề, đồng thời do không có hợp đồng lao động nên cũng không thể coi là quan hệ lao động. Vì vậy, quyền lợi của người học nghề, tập nghề sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Khoản 4 Điều 8 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: trong quá trình tổ chức học nghề, tập nghề, không được lợi dụng danh nghĩa dạy nghề, tập nghề để trục lợi, bóc lột sức lao động hoặc lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người học nghề, người tập nghề vào hoạt động trái pháp luật.
5.2 Điều kiện đối với người học nghề, tập nghề
- Khoản 4 Điều 61 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định trường hợp học nghề, tập nghề đối với các nghề, công việc thông thường:
+ Đủ 14 tuổi trở lên;
+ Có sức khỏe phù hợp với yêu cầu học nghề, tập nghề.
- Trường hợp học nghề, tập nghề đối với các nghề, công việc thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành, người dưới 18 tuổi không được làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được quy định tại Thông tư số 11/2020/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2020 (trừ lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao được tuyển người dưới 18 tuổi).
6. Các vấn đề khác liên quan đến học nghề, tập nghề
- Người sử dụng lao động khi tuyển người học nghề, tập nghề không cần phải đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp dù hợp đồng được ký kết giữa người sử dụng lao động và người học nghề, tập nghề là loại hợp đồng đào tạo.
- Trong thời gian học nghề, tập nghề, nếu người học nghề, tập nghề trực tiếp hoặc tham gia lao động thì được người sử dụng lao động trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận.
- Kết thúc thời gian học nghề, tập nghề, người sử dụng lao động bắt buộc phải ký kết hợp đồng lao động với người học nghề, tập nghề.
Trong trường hợp bàn còn bất kỳ câu hỏi nào liên quan đến vấn đề này hay các vấn đề khác như doanh nghiệp, hôn nhân và gia đình, dân sự, hình sự, bảo hiểm,... cần giải đáp về mặt pháp lý các bạn đừng ngần ngại nhấc máy lên và gọi tới số tổng đài tư vấn pháp luật lao động: 1900.6162 để được đội ngũ luật sư và chuyên viên tư vấn pháp lý với nhiều năm kinh nghiệm trong nghề. Chúng tôi rất hân hạnh được đồng hành cùng quý khách hàng. Trân trọng!