1. Người khuyết tật thuộc đối tượng nào sẽ được ưu tiên khám chữa bệnh

Theo Điều 23 của Luật Người khuyết tật 2010, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm thực hiện các biện pháp khám bệnh và chữa bệnh phù hợp cho người khuyết tật. Quy định này không chỉ là một nhiệm vụ chung mà còn đặt ra mức ưu tiên đặc biệt đối với một số đối tượng khuyết tật cụ thể.

Trước hết, ưu tiên cao nhất được ghi nhận là cho những người khuyết tật đặc biệt nặng và người khuyết tật nặng. Điều này thể hiện sự quan tâm đặc biệt đối với những trường hợp có mức độ khuyết tật cao và đặc biệt cần sự chăm sóc và điều trị tận tâm.

Ngoài ra, quy định cũng nhấn mạnh ưu tiên khám chữa bệnh cho trẻ em khuyết tật, người cao tuổi khuyết tật, và phụ nữ khuyết tật có thai. Việc ưu tiên này là sự công bằng và chấp nhận sự đa dạng trong cộng đồng khuyết tật, nhằm đảm bảo rằng những đối tượng này nhận được sự chăm sóc y tế đầy đủ và kịp thời.

Điều 23 của Luật cũng đặt ra một số trách nhiệm khác của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, như tư vấn biện pháp phòng ngừa và phát hiện sớm khuyết tật, xác định khuyết tật bẩm sinh ở trẻ em sơ sinh để có biện pháp điều trị và chỉnh hình phù hợp. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dự đoán và can thiệp sớm để cải thiện chất lượng cuộc sống của người khuyết tật.

Cuối cùng, quy định yêu cầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cải tạo và nâng cấp cơ sở vật chất để đảm bảo rằng môi trường chăm sóc y tế là thuận lợi và tiếp cận được đối với người khuyết tật. Điều này phản ánh cam kết của pháp luật đối với việc tạo điều kiện cho mọi người, kể cả người khuyết tật, tiếp cận dịch vụ y tế một cách dễ dàng và hiệu quả.

Nhìn chung, thông qua Điều 23, Luật Người khuyết tật 2010 đã thiết lập một cơ sở pháp lý mạnh mẽ để đảm bảo quyền lợi y tế của người khuyết tật và ưu tiên đặc biệt cho những đối tượng có nhu cầu chăm sóc y tế cao và đặc biệt.

Như vậy dựa theo quy định trên ta thấy người khuyết tật thuộc đối tượng là người khuyết tật đặc biệt nặng và người khuyết tật nặng, trẻ em khuyết tật, người cao tuổi khuyết tật, phụ nữ khuyết tật có thai được ưu tiên khám chữa bệnh.

 

2. Không ưu tiên khám chữa bệnh cho người khuyết tật có bị phạt?

Theo Nghị định 130/2021/NĐ-CP, mức phạt cho trường hợp không ưu tiên khám chữa bệnh cho người khuyết tật theo quy định được xác định cụ thể trong khoản 1 của Điều 12. Cụ thể, mức phạt này nằm trong khoảng từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Điều này là biện pháp hành phạt nhằm đảm bảo việc thực hiện trách nhiệm chăm sóc sức khỏe đối với người khuyết tật từ phía cơ sở khám chữa bệnh.

Mức phạt được áp dụng cho một số hành vi vi phạm nhất định, bao gồm không tư vấn biện pháp phòng ngừa và phát hiện sớm khuyết tật, cũng như không ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh cho các đối tượng nhất định như người khuyết tật đặc biệt nặng, người cao tuổi khuyết tật, và phụ nữ khuyết tật có thai theo quy định của pháp luật.

Đáng chú ý, mức phạt này chỉ là một phần của các biện pháp xử lý vi phạm, và nó có thể được điều chỉnh tùy thuộc vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm cụ thể. Hơn nữa, nếu vi phạm được thực hiện bởi tổ chức, mức phạt có thể cao hơn so với vi phạm do cá nhân thực hiện, như được quy định trong khoản 2 của Điều 5 của Nghị định 130/2021/NĐ-CP

Theo đó những biện pháp hình phạt như mức phạt tiền được thiết lập nhằm tạo động lực cho cơ sở khám chữa bệnh để họ tuân thủ nghiêm túc các quy định về chăm sóc sức khỏe đối với người khuyết tật và đồng thời đảm bảo rằng người khuyết tật nhận được sự chăm sóc y tế đầy đủ và chất lượng.

Như vậy thì dựa theo quy định trên trường hợp không ưu tiên khám chữa bệnh cho người khuyết tật theo quy định thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng (lưu ý mức phạt này áp dụng đối với trường hợp tổ chức vi phạm, nếu cá nhân vi phạm thì mức phạt bằng 1/2, theo tại khoản 2 Điều 5 Nghịu định 130/2021/NĐ-CP

 

3. Người khuyết tật được chăm sóc sức như thế nào tại nơi cư trú ?

Chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nơi cư trú cho người khuyết tật là một phần quan trọng của hệ thống chăm sóc y tế đảm bảo quyền lợi và nhu cầu y tế cơ bản của cộng đồng người khuyết tật. Theo Điều 21 của Luật Người khuyết tật 2010, trách nhiệm chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nơi cư trú đặc biệt được giao cho các trạm y tế cấp xã. Dưới đây là một số điểm cụ thể:

- Tuyên truyền và giáo dục: Trạm y tế cấp xã phải triển khai các hình thức tuyên truyền, giáo dục và phổ biến kiến thức phổ thông về chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật và giảm thiểu khuyết tật. Hướng dẫn người khuyết tật về phương pháp phòng bệnh, tự chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng, nhằm nâng cao ý thức chăm sóc bản thân và quản lý sức khỏe.

- Quản lý hồ sơ sức khỏe: Trạm y tế cấp xã có trách nhiệm lập hồ sơ theo dõi và quản lý sức khỏe của người khuyết tật. Hệ thống hồ sơ này giúp theo dõi tiến triển sức khỏe, đưa ra đánh giá chính xác về nhu cầu chăm sóc và giúp quản lý tốt hơn các biện pháp điều trị cần thiết. Quản lý hồ sơ sức khỏe tại trạm y tế cấp xã đối với người khuyết tật không chỉ là một nhiệm vụ thực hiện theo quy định mà còn là một công cụ quan trọng để đảm bảo rằng mọi người khuyết tật đều nhận được chăm sóc y tế đầy đủ và phù hợp với tình trạng sức khỏe của họ. Hệ thống hồ sơ này đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi và cung cấp thông tin chính xác, giúp tối ưu hóa quá trình chăm sóc và định hình các biện pháp điều trị.

- Khám bệnh, chữa bệnh phù hợp: Trạm y tế cấp xã thực hiện việc khám bệnh và chữa bệnh phù hợp với phạm vi chuyên môn cho người khuyết tật. Việc này đảm bảo rằng mọi người khuyết tật có thể tiếp cận được dịch vụ y tế chất lượng, đồng thời điều trị được thiết kế sao cho phù hợp với tình trạng sức khỏe và nhu cầu cụ thể của từng cá nhân. Việc khám bệnh và chữa bệnh phù hợp cho người khuyết tật tại trạm y tế cấp xã không chỉ là một nhiệm vụ quan trọng mà còn là cam kết của hệ thống y tế đối với sự chăm sóc toàn diện và công bằng cho cộng đồng người khuyết tật.

Quy định này phản ánh tầm quan trọng của việc đảm bảo rằng mọi người, kể cả những người có khuyết tật, đều có quyền tiếp cận được dịch vụ y tế chất lượng và điều trị được tối ưu hóa theo từng trường hợp cụ thể. Trạm y tế cấp xã phải có khả năng thực hiện các dịch vụ khám bệnh và chữa bệnh phù hợp với phạm vi chuyên môn đặc biệt cho người khuyết tật. Điều này bao gồm cả việc sở hữu và duy trì các thiết bị y tế, kỹ thuật mới nhất để đáp ứng các nhu cầu khám và điều trị của người khuyết tật.

- Ngân sách nhà nước: Kinh phí để thực hiện các trách nhiệm tại điểm a và điểm b của khoản 1 Điều 21 được bảo đảm từ ngân sách nhà nước. Điều này đặt ra cam kết về nguồn lực tài chính để đảm bảo rằng các trạm y tế cấp xã có đủ khả năng triển khai các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật.

Theo đó, Điều 21 của Luật Người khuyết tật 2010 thể hiện sự quan tâm của pháp luật đối với việc cung cấp chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nơi cư trú, đặc biệt là cho cộng đồng người khuyết tật. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một hệ thống chăm sóc y tế linh hoạt và hiệu quả để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người khuyết tật.

Do đó, người khuyết tật được chăm sóc sức khỏe tại nơi cư trú được thực hiện như trên. Như vậy, người khuyết tật thuộc đối tượng là người khuyết tật đặc biệt nặng và người khuyết tật nặng, trẻ em khuyết tật, người cao tuổi khuyết tật, phụ nữ khuyết tật có thai được ưu tiên khám chữa bệnh. Trường hợp không ưu tiên khám chữa bệnh cho người khuyết tật theo quy định thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Nếu như các bạn còn có những vướng mắc vui lòng liên hệ 19006162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ chi tiết

Tham khảo thêm: Quyền lợi của người khuyết tật trong vấn đề chăm sóc sức khoẻ hiện nay