- Năm 2004, Công ty Nhà nước A được cổ phần hóa thành Công ty Cổ phần A , tôi tiếp tục thực hiện hợp đồng trên với công ty Cổ phần A đến năm 2012;

- Cuối năm 2012, Công ty Cổ phần A thành lập Công ty TNHH Một thành viên B ( 100% vốn sở hữu của công ty Cổ phần A) và bổ nhiệm tôi làm kế toán trưởng công ty, ngay sau đó tôi ký hợp đồng lao động với công ty TNHH MTV B, loại hợp đồng lao động không thời hạn và tiền lương ghi trên hợp đồng như sau:

+ Tiền lương thực lĩnh theo quy định của Công ty. (ghi chú: công ty không ghi cụ thể mức lương bao nhiêu)

+ Mức lương làm cơ sở trích nộp BHXH, BHYT, BHTN là: Hệ số lương cơ bản * mức lương tối thiểu vùng được quy định theo từng thời điểm.

= 2,30 * 2.350.000 đ = 5.405.000 đồng – Năm triệu bốn trăm lẻ năm ngàn đồng
Ghi chú: Hiện nay mức lương nấy là: 2,3 * 3.100.000đ/tháng = 7.130.000 đồng/tháng

- Theo Thỏa ước Lao động tập thể của Công ty Cổ phần A và của cả Công ty TNHH MTV B đều quy định: Khi 2 bên thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ thì Cứ mỗi năm làm việc người lao động được hưởng trợ cấp nửa tháng lương hệ số cộng các khỏan phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có) của 6 tháng liền kề trước khi người lao động chấm dứt hợp đồng. Thời gian làm cơ sở tính trả phụ cấp là thời gian làm việc cho công ty từ năm 2008 trở về trước.

- Khi chấm dứt HĐLĐ với Công ty Cổ phần A để chuyển sang ký kết hợp đồng với Công ty TNHH MTV B tôi chưa được Công ty Cổ phần A trợ cấp thôi việc.
Xin quý Công ty cho biết với hợp đồng tôi đã ký kết với 2 công ty và Thỏa ước lao động nêu trên nay tôi chấm dứt HĐLĐ thì:

1. Công ty nào sẽ thanh toán tiền trợ cấp cho tôi ?

2. Tiền lương làm cơ sở để chi trợ cấp cho tôi là theo mức nào ?”

Cảm ơn luật sư!

 

Luật sư tư vấn:

Thưa quý khách hàng ! Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách hàng liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:  

- Bộ luật lao động số 10/2012/QH11;

- Nghị định số 05/2015/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động;

2. Giải quyết vấn đề:  

2.1 Công ty nào sẽ thanh toán tiền trợ cấp cho tôi?

Khoản 1, khoản 2 Điều 3 Bộ luật lao động xác định:

Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động; Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ”.

Theo thông tin chị cung cấp thì “Cuối năm 2012, Công ty Cổ phần A thành lập Công ty TNHH Một thành viên B ( 100% vốn sở hữu của công ty Cổ phần A) và bổ nhiệm tôi làm kế toán trưởng công ty, ngay sau đó tôi ký hợp đồng lao động với công ty TNHH MTV B, loại hợp đồng lao động không thời hạn và tiền lương ghi trên hợp đồng

Với nội dung này và với quy định nêu trên thì Người sử dụng lao động ở đây được xác định là Công ty TNHH một thành viên B. Căn cứ và Điều 48 Bộ luật lao động xác định Công ty TNHH một thành viên B có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động.

2.2 Tiền lương làm cơ sở để chi trợ cấp cho tôi là theo mức nào ?

Điều 48 Bộ luật lao động quy định về Trợ cấp thôi việc như sau:

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.”

Theo quy định tại khoản 3 Điều 48 Bộ luật lao động xác định tiền lương làm cơ sở chi trả trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Theo thông tin cung cấp của Quý khách hàng thì “Mức lương làm cơ sở trích nộp BHXH, BHYT, BHTN là: Hệ số lương cơ bản * mức lương tối thiểu vùng được quy định theo từng thời điểm.

= 2,30 * 2.350.000 đ = 5.405.000 đồng – Năm triệu bốn trăm lẻ năm ngàn đồng
Hiện nay mức lương nấy là: 2,3 * 3.100.000đ/tháng = 7.130.000 đồng/tháng”

Nếu như không có văn bản nào khác xác định cụ thể khoản tiền lương, tiền công nhận hàng tháng của Quý khách hàng là bao nhiêu thì mức tiền lương chi trả trợ cấp thôi việc là 7.130.000 đồng/tháng.

Trân trọng cám ơn,

Bộ phận tư vấn Pháp luật - Công ty Luật TNHH Minh Khuê.