- 1. Cơ sở pháp lý
- 2. Thời hạn tối đa hợp đồng lao động giao kết với người lao động là người nước ngoài
- 3. Trả lương cho người lao động Hàn Quốc bằng ngoại tệ được không?
- 4. Căn cứ vào thị thực để tiếp tục hợp đồng lao động khi giấy phép lao động hết hạn được không?
- 5. HĐLĐ hết hạn mà NLĐ nước ngoài đang điều trị bệnh tại bệnh viện thì có tiến hành chấm dứt được không?
Kính thưa luật sư. Công ty chúng tôi cần tuyển dụng giáo viên người Hàn Quốc để giảng dạy tại các trung tâm ngoại ngữ ở Hải Phòng. Đối với việc thuê người nước ngoài làm việc thì còn nhiều vấn đề về luật mà tôi chưa hiểu rõ mong được luật sư tư vấn.
- Hợp đồng lao động ký kết với người lao động Hàn Quốc thời hạn tối đa là bao lâu? Có ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn được không?
- Trả lương cho người lao động Hàn Quốc bằng ngoại tệ được không?
- Giấy phép lao động hết hạn thì có căn cứ vào thị thực của người lao động nước ngoài để tiếp tục hợp đồng lao động được không?
Rất mong nhận được tư vấn từ luật sư. Tôi xin cảm ơn!
Người hỏi: Nguyễn Thịnh - Hải Phòng
1. Cơ sở pháp lý
- Bộ luật lao động năm 2019
- Nghị định 152/2020/NĐ-CP
- Luật bảo hiểm xã hội năm 2014
- Thông tư 111/2013/TT-BTC
- Nghị định 115/2015/NĐ-CP
2. Thời hạn tối đa hợp đồng lao động giao kết với người lao động là người nước ngoài
Bộ luật lao động quy định rõ về điều kiện người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam tai Điều 151. Theo đó, chỉ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây thì người nước ngoài được tham gia thị trường lao động Việt Nam hợp pháp:
- Đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề, kinh nghiệm làm việc; có đủ sức khỏe theo quy định của Bộ trưởng Bộ y tế;
- Không phải là người đang trong thời gian chấp hành hình phạt hoặc chưa được xóa án tích hoặc đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc pháp luật Việt Nam;
- Có giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp. trừ trường hợp người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp giấy phép lao động quy định tại Điều 154.
Có thể thấy pháp luật Việt Nam không bảo vệ các quyền lợi lao động của người lao động là người nước ngoài tương tự như đối với người lao động là người Việt Nam. Như trên đã nêu, một trong những điều kiện tiên quyết để tham gia thị trường lao động Việt Nam hợp pháp, người lao động là người nước ngoài phải được cơ quan quản lý lao động có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép lao động (trừ trường hợp được miễn). Cùng với đó, Bộ luật lao động cũng quy định thời hạn của hợp đồng lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không được vượt quá thời hạn của giấy phép lao động. Trong khi đó, giấy thời hạn tối đa của giấy phép lao động được quy định tại Điều 155 Bộ luật lao động là 02 năm, trường hợp gia hạn thì chỉ được gia hạn một lần với thời hạn tối đa 02 năm.
Như vậy, có thể thấy, mặc dù Bộ luật lao động cho phép người sử dụng lao động và người lao động giao kết hợp đồng lao động xác định thời hạn đến tối đa 36 tháng hoặc là hợp đồng lao động không xác định thời hạn tùy theo nhu cầu của các bên song đối với người lao động là người nước ngoài thì thời hạn hợp đồng cần được xác định dựa trên cơ sở thời hạn của giấy phép lao động, và chính vì vậy trước hết sẽ loại trừ quyền được giao kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn với người lao động là người nước ngoài. Được giao kết nhiều lần hợp đồng lao động xác định thời hạn với người lao động nước ngoài nhưng phải đảm bảo thời hạn tối đa của một hợp đồng không vượt quá thời hạn của giấy phép lao động.
Một vấn đề còn chưa được quy định rõ ràng, đó là đối với trường hợp người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp giấy phép lao động như là chủ sở hữu hoặc thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn, thành viên và chủ tịch hội đồng quản trị của công ty cổ phần, người nước ngoài kết hôn với người Việt Nam và sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam ... thì có sau khi đã giao kết 2 lần hợp đồng lao động xác định thời hạn thì có được giao kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn hay không.
Vậy trường hợp bạn thắc mắc, kết luận cuối cùng như sau:
- Không được giao kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn
- Thời hạn tối đa của hợp đồng lao động ký với người lao động Hàn Quốc này sẽ tương ứng với thời hạn của Giấy phép lao động được cấp.
3. Trả lương cho người lao động Hàn Quốc bằng ngoại tệ được không?
Khoản 2 Điều 95 Bộ luật lao động quy định rõ Tiền lương ghi trong hợp đồng lao động là tiền lương trả cho người lao động bằng tiền Đồng Việt Nam, trường hợp người lao động là người nước ngoài tại VIệt Nam thì có thể trả bằng ngoại tệ. Vì vậy, trường hợp này thì quý khách có thể thỏa thuận tiền lương ghi trong hợp đồng lao động và trả lương cho người lao động người Hà Quốc này bằng ngoại tệ. Nhưng cần lưu ý các vấn đề sau đây khi khấu trừ thuế thu nhập cá nhân, trích đóng các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc:
Một là, khấu trừ thuế thu nhập cá nhân
Người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam khi có thu nhập chịu thuế theo quy định sẽ thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân (Điều 1 Thông tư 111/2013/TT-BTC). Theo Luật thuế thu nhập cá nhân, hướng dẫn tại Điều 13 Thông tư 92/2015/TT-BTC, khi khấu trư thuế thu nhập cá nhân, người sử dụng lao động phải:
- quy đổi ngoại tệ ra tiền đồng theo tỷ giá giao dịch thời điểm phát sinh thu nhập
- Nếu người nộp thuế không mở tài khoản giao dịch tại Việt Nam thì phải quy đổi ngoại tệ ra tiền đòng theo tỷ giá ngoại tệ mua vào của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương tại thời điểm phát sinh thu nhập. Người lao động là người nước ngoài khi tự thực hiện việc đăng ký, kê khai, quyết toán thuế thu nhập cá nhân cũng sẽ thực hiện theo quy định này.
Hai là về trích đóng các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc
Về vấn đề này được quy định cụ thể tại Điều 26 Nghị định 115/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật bảo hiểm xã hội 2014. Theo đó, đối với người lao động có tiền lương ghi trong hợp đồng lao động bằng ngoại tệ, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội và ghi trong sổ bảo hiểm xã hội được tính bằng tiền Đồng trên cơ sở tiền lương bằng ngoại tệ được chuyển đổi sang tiền đồng theo tý giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm ngày 02/01 cho 06 tháng đầu năm và ngày 01/7 cho 06 tháng cuối năm. Nếu trùng vào ngày nghỉ mà Ngân hàng Nhà nước chưa công bố thì lấy tỷ giá của ngày tiếp theo liền kề do Ngân hàng nhà nước công bố.
4. Căn cứ vào thị thực để tiếp tục hợp đồng lao động khi giấy phép lao động hết hạn được không?
Bộ luật lao động và văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định nào cho phép khi giấy phép lao động hết hạn, người lao động là người nước ngoài và người sử dụng lao động được tiếp tục giao kết hợp đồng căn cứ vào thị thực của người lao động.
Theo quy định tại Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam: Thị thực là loại giấy tờ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam như Cụ quản lý xuất nhập cảnh cấp, cho phép người nước ngoài được nhập cảnh vào VIệt Nam. Còn Giấy phép lao động là văn bản do cơ quan quản lý lao động có thẩm quyền của Việt Nam cho phép người lao động là người nước ngoài được làm việc hợp pháp tại Việt Nam trừ các trường hợp mà người lao động là người nước ngoài làm việc tại VIệt Nam không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo Điều 154 Bộ luật lao động và Điều 7 Nghị định 152/2020/NĐ-CP. Nếu muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ lao động với người lao động là người nước ngoài, người sử dụng lao động phải nộp hồ sơ đề nghị gia hạn giấy phép lao động theo quy định tại Điều 16 Nghị định 152/2020/NĐ-CP đó là ít nhất 05 ngày nhưng không quá 45 ngày trước ngày giấy phép lao động hết hạn, tuy nhiên việc gia hạn chỉ áp dụng cho giấy phép lao động được cấp lần đầu.
Và khi người lao động nước ngoài được gai hạn giấy phép lao động thì người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày dự kiến tiếp tục làm việc cho người sử dụng lao động theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị định 152/2020/NĐ-CP.
Trường hợp nếu người sử dụng lao động không thực hiện gia hạn giấy phép lao động mà tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động với người lao động nước ngoài thì sẽ phải chịu phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Nghị định 12/2022/NĐ-CP với mức phạt tiền tùy thuộc vào số người lao động nước ngoài vi phạm đó là:
- Từ 30 triệu đồng đến 45 triệu đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người;
- Từ 45 triệu đồng đến 60 triệu đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 20 người
- Từ 60 triệu đồng đến 75 triệu đồng đối với vi phạm từ 21 người trở lên.
Theo Điều 6 Nghị định này thì đây là mức phạt áp dụng đối với người sử dụng lao động là cá nhân vi phạm, đối với người sử dụng lao động là tổ chức vi phạm thì mức phạt sẽ gấp đôi mức phạt trình bày trên đây.
5. HĐLĐ hết hạn mà NLĐ nước ngoài đang điều trị bệnh tại bệnh viện thì có tiến hành chấm dứt được không?
Theo quy định của Bộ luật lao động thì hợp đồng lao động hết hạn là một trong những căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động trừ trường hợp đối với người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đang trong nhiệm kỳ mà hợp đồng lao động hết hạn. Tuy nhiên, vì người lao động là người nước ngoài không được quyền tham gia công đoàn Việt Nam nên họ sẽ không thuộc trường hợp ngoại lệ này.
Đối với trường hợp người lao động bị ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, người sử dụng lao động sẽ không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng trường hợp này là hợp đồng lao động hết hạn chứ không phải công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Ngoài ra, pháp luật lao động cũng chưa có quy định nào về trường hợp người sửu dụng lao động phải tiếp tục ký hợp đồng lao động mới với người lao động là người nước ngoài khi hợp đồng lao động hết hạn mà người lao động đang điều trị tại bệnh viện. Dựa trên cơ sở đó thì khi hợp đồng lao động hết hạn mà người lao động là người nước ngoài đang điều trị bệnh tại bệnh viện thì người sử dụng lao động vẫn được quyền chấm dứt hợp đồng lao động bình thường.