1. Hợp đồng lao động ký kết với nhân viên tạp vụ

Theo quy định của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động có thể thỏa thuận với người lao động để áp dụng chế độ làm việc trọn hoặc không trọn thời gian. Trong đó, chế độ làm việc không trọn thời gian được định nghĩa là chế độ làm việc mà người lao động có thời gian làm việc ngắn hơn so với thời gian làm việc bình thường theo ngày hoặc theo tuần được quy định trong Bộ luật Lao động (thời giờ làm việc bình thường của người lao động sẽ không quá 08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong 01 tuần).

Cũng theo quy định của Bộ luật Lao động, người lao động nào làm việc theo chế độ không trọn thời gian sẽ được hưởng các quyền lợi như người lao động làm việc trọn thời gian (Điều 32.1 Bộ luật lao động năm 2019 và Điều 32.3 Bộ luật lao động năm 2019). Như vậy, loại hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động phải giao kết đối với nhân viên tạp vụ đang áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian sẽ được áp dụng theo các quy định về loại hợp đồng lao động của chế độ làm việc trọn thời gian. Về điểm này, theo Điều 20 Bộ luật Lao động, hợp đồng lao động chỉ có thể được giao kết giữa người sử dụng lao động và người lao động theo 01 trong 02 loại sau đây:

- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn; và

- Hợp đồng lao động xác định thời hạn, với thời hạn không quá 36 tháng.

Nếu người sử dụng lao động giao kết các loại hợp đồng lao động như được đề cập ở trên, người sử dụng lao động cũng cần lưu ý hai vấn đề sau đây:

- Đối với loại hợp đồng lao động xác định thời hạn, các bên chỉ được giao kết thêm tối đa là 01 lần khi hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì các bên phải giao kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn; và

- Nếu người sử dụng lao động là cá nhân, có thuê mướn nhân viên tạp vụ để thực hiện các công việc gia đình như nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ em chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không có liên quan đến hoạt động thương mại thì thời hạn của hợp đồng lao động sẽ được các bên tự thỏa thuận. Điều này có thể được hiểu rằng, đối với người lao động nào là người giúp việc gia đình thì thời hạn của hợp đồng lao động có thể là 01 năm, 02 năm, 03 năm thậm chí là 04 năm. Không những thế, các bên giao kết có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vào bất kỳ lúc nào miễn là có báo trước cho bên còn lại ít nhất là 15 ngày/ (theo khoản 2, điều 20 bộ luật lao động năm 2019 và Khoản 1, điều 161 và khoản 2, điều 162, bộ luật lao động năm 2019).

2. Các chế độ bảo hiểm bắt buộc đối với người lao động làm việc không trọn thời gian

Theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội, người lao động nào làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng, hợp đồng lao động xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động không xác định thời hạn đều thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (Khoản 1, điều 2.1 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014). Như vậy, khi người sử dụng lao động giao kết hợp đồng lao động với nhân viên tạp vụ làm việc không trọn thời gian thì sẽ thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho nhân viên tạp vụ đó.

Nguồn: https://phuoc-associates.com

#

CÁC CÂU HỎI THƯỜNG GẶP TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG