1. Quy định của pháp luật về trường hợp người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Tôi làm cho công ty A từ ngày 1/7/2016, loại hợp đồng không xác định thời hạn. Đến ngày 1/4/2018 công ty chấm dứt hợp đồng lao động với tôi mà không nêu lý do cụ thể cho dù công việc của tôi luôn làm việc đúng theo pháp lý và pháp luật Việt Nam (dù các sếp công ty có vẻ không hải lòng như vậy).

Vậy xin cho tôi hỏi là trong trường hợp này theo quy định và luật lđ ban hành mới nhất hiện nay thì tôi (người lao động) sẽ được hưởng những gì khi cty (người sử dụng lao động) cho nghỉ như vậy ?

Xin cảm ơn! Trân trọng.

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới công ty Luật Minh Khuê. Vướng mắc của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Lao động năm 2019.

2. Luật sư tư vấn:

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn đang làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Nếu người sử dụng muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng thì phải tuân thủ theo quy định tại Điều 36. Cụ thể:

>> Xem thêm:  Thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động thực hiện như thế nào ?

"Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động
1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:
a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;
b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;
c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;
d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;
đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trlên;
g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

>> Xem thêm:  Hậu quả pháp lý khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ? Mức bồi thường

2. Khi đơn phương chấm dứt hp đồng lao động trong trưng hợp quy đnh tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:
a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác đnh thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho người lao động."

Theo quy định này, người sử dụng lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi có một trong các lý do nêu tại khoản 1 Điều 36 và đồng thời phải báo trước cho bạn ít nhất là 45 ngày. Tuy nhiên, công ty đã tự đơn phương chấm dứt hợp đồng nhưng không đưa ra được lý do để đơn phương chấm dứt và cũng không đáp ứng được nghĩa vụ báo trước 45 ngày (vi phạm 43 ngày).

Theo quy định tại Điều 41 về nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái quy định, người sử dụng lao động sẽ phải có trách nhiệm:

Điều 41. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
1. Phải nhận người lao động trlại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

>> Xem thêm:  Đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi có cam kết làm việc lâu dài có trái luật ?

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.
Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trtrợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.
3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Chào luật sư, Tôi làm việc tại Công ty Phú Thịnh loại hợp đồng có xác định thời hạn, làm công việc kỹ thuật viên vi tính, địa điểm làm việc tại quận 1 và mức lương được trả là 3.100.000đ trả vào ngày 30 hàng tháng (tháng, dương lịch) – Tuy nhiên, tiền lương hàng tháng tôi được lĩnh bị trễ hơn so với thoả thuận trong hợp đồng lao động – Do đó, qua 03 tháng làm việc tôi quyết định gửi đơn xin nghỉ việc và sau 03 ngày làm việc là chị H đã chấm dứt hợp đồng lao động?

Anh, chị cho biết tôi chấm dứt hợp đồng lao động là đúng hay sai? Vì sao? Căn cứ các quy định pháp luật giải quyết trường hợp này như thế nào có lợi cho người lao động?

Gợi ý trả lời:

- Về tiền lương thì Công ty Phú Thịnh trả 3.100.000 đồng là không phù hợp quy định tại Điều 7 Nghị định số 49/2013/NĐ-CP “Mức lương thấp nhất của công việc hoặc chức danh đòi hỏi lao động qua đào tạo, học nghề (kể cả lao động do doanh nghiệp tự dạy nghề) phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định;” vậy, mức lương Công ty phải trả cho chị phải là 3.317.000 đồng.

>> Xem thêm:  Hợp đồng lao động không xác định thời hạn thì nghỉ việc sau 3 ngày nộp đơn có phải bồi thường không ?

- Công ty Phú Thịnh thường trả lương chậm trễ hơn so với hợp đồng lao động mà hai bên thỏa thuận nên chị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động chỉ cần báo trước 03 ngày là đúng quy định pháp luật.

Như vậy, trong trường trên chị chấm dứt hợp đồng lao động là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 37 BLLĐ năm 2019 là “Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;”./.

3. Công dân có thể làm bất cứ việc gì mà mình muốn miễn là tạo ra thu nhập?

Quan điểm trên là không chính xác

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Bộ luật Lao động năm 2019:

"Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm."

Như vậy, trong khái niệm trên, việc làm có hai đặc tính cơ bản:

Một là, dưới khía cạnh kinh tế, việc làm là hoạt động của con người tạo ra thu nhập

Hai là, dưới khía cạnh pháp luật, việc làm là những hoạt động hợp pháp, không bị pháp luật cấm. Một số hoạt động tạo ra thu nhập nhưng lại vi phạm pháp luật thì không được coi là việc làm, ví dụ: buôn bán ma túy, buôn lậu..

Về quyền tự do lựa chọn việc làm của công dân: pháp luật lao động quy định người lao động có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, tự do lựa chọn nơi làm việc và làm việc cho bất kỳ người sử dụng nào mà pháp luật không cấm. Như vậy, công dân có quyền tự do lựa chọn việc làm trong khuôn khổ pháp luật.

>> Xem thêm:  Tư vấn về hợp đồng học việc ?

4. Xét về mặt pháp luật, người sử dụng lao động có nhiều quyền hơn người lao động?

Nhận định như vậy là không đúng vì:

Theo Điều 7 của Bộ luật Lao động năm 2019 thì “Quan hệ lao động giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau.”

Xét về khía cạnh pháp luật, người lao động và người sử dụng lao động bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ. Hai bên giao kết hợp đồng lao động với nhau dựa trên nguyên tắc Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực và tôn trọng quyền và lợi ích của nhau.

Khi tham gia vào quan hệ lao động, người lao động và người sử dụng lao động phải có hợp đồng lao động, trong đó thỏa thuận với nhau về công việc, thời giờ làm việc, mức lương....

Hợp đồng lao động sẽ là căn cứ để xác định quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình làm việc. Người sử dụng lao động cũng không được phép vi phạm hợp đồng lao động để xâm phạm đến quyền lợi của người lao động.

5. Học nghề

Bạn tôi xin vào học nghề tại một quán sửa xe máy. Tại đây, dưới sự hướng dẫn của chủ quán, bạn tôi có thể sửa hoàn chỉnh những hỏng hóc nhỏ và tạo ra thu nhập cho quán. Tuy nhiên, chủ quán không chịu trả thù lao cho bạn ấy. Hơn thế nữa, ông ta còn thu học phí học nghề của bạn ấy là một triệu đồng một tháng. Xin hỏi: việc làm này của chủ quán sửa xe có đúng pháp luật không?

Điều 62, Bộ luật Lao động năm 2019 có quy định:

3. Người sử dụng lao động tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình thì không phải đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp; không được thu học phí; phải ký hợp đồng đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp.

>> Xem thêm:  Tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mới cập nhật

4. Người học nghề, người tập nghề phải đủ 14 tuổi trở lên và phải có đủ sức khỏe phù hợp với yêu cầu học nghề, tập nghề. Người học nghề, người tập nghề thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành phải từ đủ 18 tuổi trở lên, trừ lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao.
5. Trong thời gian học nghề, tập nghề, nếu người học nghề, người tập nghề trực tiếp hoặc tham gia lao động thì được người sử dụng lao động trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận.
6. Hết thời hạn học nghề, tập nghề, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động khi đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật này.

Như vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật, việc làm của chủ quán sửa xe là hoàn toàn sai vì:

- Hình thức học nghề của bạn là vừa học nghề, vừa làm việc cho người sử dụng lao động. Đối với hình thức học nghề này, pháp luật quy định người sử dụng lao động không được phép thu học phí. Vì vậy, việc chủ quán sửa xe thu học phí một triệu đồng mỗi tháng là sai với quy định của pháp luật

- Bạn đã có thể sửa hoàn chỉnh những hỏng hóc nhỏ, tạo ra được thu nhập cho quán nên em có quyền được hưởng một mức lương theo sự thỏa thuận với người sử dụng lao động.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê . Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Công ty có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng với lao động nữ sinh con không ?

>> Xem thêm:  Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?